1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN XUÂN LƯỢT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH
HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm
HÀ NỘI - 2012
4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
CHƢƠNG 2: CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA ĐẠO LUẬT
HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
43
2.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến pháp điển hóa lần
thứ nhất (1945-1985)
43
2.2. Trong Bộ luật hình sự năm 1985
46
5
2.2.1 Các quy phạm pháp luật về hiệu lực của đạo luật hình sự trong Bộ
luật hình sự năm 1985
46
2.2.2 Quy định về hiệu lực của Bộ luật hình sự trong Bộ luật hình sự
trong các lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1985
50
2.3. Trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
51
2.4. Thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự liên quan đến chế
định hiệu lực của Bộ luật hình sự
55
2.4.1 Vấn đề áp dụng chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong thự tế
hiện nay
55
2.4.2 Một số bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng chế định hiệu
lực của Bộ luật hình sự trên thực tiễn
57
CHƢƠNG 3: VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH HIỆU
Đảng, tại nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính
Trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: ”hoàn thiện hệ
thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự phù hợp với mục tiêu
của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc
hoàn thiện chính sách hình sự” [19] với quan điểm “phải kế thừa truyền
thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của ngoài phù
hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng
được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai” [19].
Với chủ chương cải cách tư pháp trên, việc nghiên cứu chế định hiệu
lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa rất quan
trọng thể hiện trên các bình diện chủ yếu dưới đây:
- Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đề cập
riêng đến việc phân tích có hệ thống những nội dung cơ bản của chế định
7
hiệu lực của Bộ luật hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam với những đóng
góp về mặt khoa học pháp lý, làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định hiệu
lực của Bộ luật hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam.
- Về mặt lập pháp, các kết quả của quá trình nghiên cứu sẽ hỗ trợ, bổ
sung cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình xây dựng và
áp dụng pháp luật. Nó giúp cho chúng ta nhận ra những vấn đề cụ thể nào cần
thống nhất; vấn đề nào cần làm sáng tỏ những qui định trong pháp luật hình
sự nước ta về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự
Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn, kết quả của việc nghiên cứu sẽ cung cấp cho các
nhà làm luật, các nhà lý luận, các thẩm phán và những chủ thể hoạt động thực
tiễn pháp lý khác những giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội được đặt ra
trong đời sống xã hội. Các giải pháp này đôi khi hữu ích hơn những tư tưởng
đang bị vây hãm chặt chẽ bởi hệ thống pháp luật quốc gia đang cần cải cách.
Những công trình này đã phần nào đề cập đến chế định hiệu lực của Bộ
luật hình sự. Tuy nhiên, các công trình này vẫn chưa nghiên cứu một cách có
hệ thống và chuyên biệt chế định này. Vì vậy, việc nghiên cứu chế định này
có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận cũng như về thực tiễn áp dụng, nhằm đưa
ra một cách hệ thống, toàn diện, đầy đủ và chuyên biệt nhất chế định hiệu lực
của Bộ luật hình sự Việt Nam. Tác giả chọn đề tài “Một số vấn đề cơ bản về
chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam” để
làm luận văn tốt nghiệp cũng nhằm mục đích đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
9
- Mục đích:
Mục đích của luận văn đó là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt
lý luận những nội dung cơ bản của chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự
trong pháp luật hình sự Việt Nam, xác định những bất cập trong thực tiễn để
đề xuất những giải pháp tiếp tục hoàn thiện chế định trong thời gian tới và
nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ:
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào giải quyết những
nhiệm vụ sau:
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của chế định này
trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, đồng thời so sánh chế định hiệu lực
của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam với chế định hiệu lực
của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự của một số nước khác trên thế
giới, làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự
trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: nghiên cứu việc áp dụng các quy phạm pháp luật của
chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự nước ta. Trên cơ sở phân tích những thiếu sót, khuyết điểm và những
bày trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp, Bộ luật hình sự Việt Nam, Bộ luật hình
sự của một số nước trên thế giới và các tài liệu khác.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
11
như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, tổng hợp, so sánh luật
học. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn tham khảo ý kiến của
các chuyên gia đầu nghành trong lĩnh vực tư pháp hình sự liên quan đến đề
tài.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn.
Luận văn là công trình lần đầu tiên nghiên cứu đi sâu vào phân tích
một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống chế định hiệu lực của Bộ luật hình
sự qua các thời kỳ.
Đồng thời luận văn cũng tiếp thu có chọn lọc những qui định tiến bộ
của pháp luật một số nước trên thế giới phù hợp với pháp luật nước ta để từ
đó tìm ra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện, hệ thống các qui phạm
pháp luật về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam.
Điều này được thể hiện qua các kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế
định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay
được tác giả trình bày trong luận văn đó là:
- Khái niệm chung nhất về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự;
- Các trường hợp được miễn trừ trách nhiệm ngoại giao;
- Việc áp dụng các qui định trong các điều ước quốc tế song phương;
điều ước quốc tế đa phương; các tổ chức quốc tế mà nước ta tham gia; hay
các qui tắc quốc tế khác có liên quan đến chế định hiệu lực của Bộ luật hình
sự của nước ta hiện nay.
- Vấn đề hồi tố;
- Các trường hợp phạm tội ở nước ngoài;
HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự và các đặc điểm cơ
bản của nó
1.1.1. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự
Trước hết, theo lý luận chung về pháp luật thì “đạo luật hình sự có thể
là Bộ luật hình sự hoặc một đạo luật hình sự đơn hành qui định trách nhiệm
hình sự đối với một hoặc một số tội phạm nhất định. Bộ luật hình sự được
hiểu là Đạo luật hình sự hoàn chỉnh nhất tập hợp đầy đủ các qui phạm pháp
luật hình sự”[8, tr. 84]. Như vậy, khi nói tới khái niệm về hiệu lực của Bộ
luật hình sự cũng chính là nói tới khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự.
Về mặt hình thức thì khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự chưa được
qui định cụ thể trong Bộ luật hình sự hiện hành ở nước ta hiện nay. Tuy
nhiên, trong khoa học luật hình sự hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về
khái niệm này như sau:
Theo từ điển luật học của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị
Sơn thì hiệu lực của đạo luật hình sự là “giá trị thi hành của đạo luật hình sự
theo không gian và thời gian (đạo luật hình sự được áp dụng cho những hành
vi phạm tội xảy ra khi nào, ở đâu, do ai thực hiện)” [24].
Theo PTS Võ Khánh Vinh thì “Hiệu lực của đạo luật hình sự là sự hoạt
động hiện thực của những quy phạm pháp luật được thể hiện trong đạo luật
đó, là sự biểu hiện trong thực tế năng lượng pháp lý của chúng. Sự hoạt động
hiện thực, sự biểu hiện trong thực tế năng lượng pháp lý đó của các quy
phạm của đạo luật hình sự được khái quát bằng khái niệm hiệu lực pháp lý
của đạo luật hình sự. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự về cơ bản bao
14
hàm hiệu lực của đạo luật về không gian và hiệu lực của đạo luật về thời
gian, tức là khía cạnh làm sáng tỏ các giới hạn về không gian và thời gian về
thời gian của việc áp dụng đạo luật hình sự” [39, tr. 57].
GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra định nghĩa về khái niệm hiệu lực của
khả năng, sức lan tỏa, sức mạnh từ bên trong của chính các quy phạm pháp
luật cũng như ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia vào các
quan hệ pháp luật. Qua khái niệm này chúng tôi cũng muốn nói đến quy luật
về bảo toàn năng lượng trong vật lý học “năng lượng không tự nhiên sinh ra
cũng không tự nhiên mất đi mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng
khác” cũng giống như những giá trị thực, ý nghĩa thực của các quy phạm
pháp luật không thay đổi nó chỉ biến đổi các quy phạm pháp luật từ dạng này
sang dạng khác để phù hợp với các điều kiện khách quan ở mỗi thời kỳ, mỗi
giai đoạn và mỗi quốc gia khác nhau.
Thứ hai, một hoặc nhiều quy phạm cụ thể được quy định tại một hoặc
nhiều điều (khoản) tương ứng của pháp luật hình sự thực định. Đặc điểm này
thể hiện, chỉ có pháp luật hình sự thực định mới có các quy định pháp luật
hình sự mà không có trong các quy định pháp luật khác. Tất cả các chủ thể
khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự chỉ được căn cứ vào các quy
định trong Bộ luật hình sự và các văn bản pháp luật hình sự khác hướng dẫn,
giải thích các quy định trong Bộ luật hình sự.
Thứ ba, có hành vi xảy ra trong thực tế được coi là tội phạm theo qui
định của Bộ luật hình sự. Điều này có nghĩa, hành vi sảy ra trong thực tế
tương ứng với hành vi quy định trong pháp luật hình sự được coi là tội phạm.
16
Thứ tư, quy định trong đạo luật hình sự được áp dụng đối với tội phạm
thực hiện trên một lãnh thổ nào đó.
Thứ năm, quy định trong đạo luật hình sự được áp dụng trong thời gian
mà thời hiệu để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình
sự chủ thể của tội phạm theo luật định vẫn còn.
1.2. Nội hàm khoa học của phạm trù “hiệu lực hồi tố” của đạo luật
hình sự
1.2.1. Khái niệm “hiệu lực hồi tố của đạo luật hình sự”
Hiệu lực hồi tố là một dạng hiệu lực pháp luật của văn bản quy phạm
Từ những nhận định trên, theo chúng tôi hiệu lực hồi tố của đạo luật
hình được hiểu là: hiệu lực của một hoặc nhiều quy phạm pháp luật hình sự
đối với hành vi được pháp luật hình sự quy định là tội phạm đã thực hiện
trước khi quy phạm pháp luật hình sự đó có hiệu lực thi hành.
1.2.2. Bản chất xã hội - pháp lý của vấn đề “hiệu lực hồi tố của đạo
luật hình sự”
Nhìn từ phía Nhà nước - chủ thể có quyền ban hành pháp luật có hiệu
lực thi hành đối với mọi người cũng như nhìn từ phía các thành viên xã hội -
những chủ thể có nghĩa vụ chấp hành pháp luật, xét về mặt thời gian, một văn
bản quy phạm pháp luật được ban hành có hiệu lực từ bao giờ, từ mốc thời
gian nào là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt.
Qua cách thức xác định mốc thời gian, tức là từ thời điểm một văn bản
quy phạm pháp luật được ban hành bắt đầu có hiệu lực, nhất là các văn bản
18
quy phạm pháp luật trực tiếp liên quan, có quan hệ đến các quyền tự do, dân
chủ của công dân, có thể hình dung ra bản chất nhân dân, thuộc tính dân chủ
của một hệ thống pháp luật, cũng là của một chế độ chính trị, nhà nước.
Trong các xã hội dân chủ, thông thường văn bản quy phạm pháp luật
bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày văn bản đó được công bố, được đăng
Công báo hoặc được xác định ngay trong văn bản pháp luật đó và thường ở
thời điểm muộn hơn. Ví dụ như: Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội thông
khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, nhưng theo
Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự được thông qua cũng tại
kỳ họp trên thì hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Nói
một cách ngắn gọn, hiệu lực pháp luật của một văn bản pháp luật là trở về
sau, từ ngày hoặc sau ngày văn bản được thông qua, ban hành, công bố, đăng
Công báo…
Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt và như Điều 79 Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật quy định, có một số trường hợp cần thiết
luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế không coi là tội phạm” (Trích
khoản Điều 11). Cùng với việc không áp dụng nguyên tắc tương tự, việc
không áp dụng hồi tố là sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong luật hình sự Việt Nam.
Về hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian, Điều 7 quy định:
“1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật
đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.
20
2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một
tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách
nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định
khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành
vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.
3. Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng
nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở
rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt,
giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội,
thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó
có hiệu lực thi hành”.
Như vậy, theo các quy định trên thì luật hình sự Việt Nam hiện hành
không thừa nhận nguyên tắc hồi tố. Không nhà nước nào có thể bắt các chủ
thể pháp luật phải chịu trách nhiệm về một hành vi, dù là nguy hiểm, mà khi
hành vi đó được thực hiện, nó chưa bị cấm! Đó là nguyên tắc được thừa nhận
rộng rãi trong luật hình sự quốc tế.
Tuy vậy, trong lịch sử luật hình sự Việt Nam, cũng như một số vấn đề
áp dụng pháp luật, chúng ta cho phép vận dụng nguyên tắc này.
Trước khi Bộ luật hình sự được ban hành (năm 1985), do điều kiện luật
hình sự chưa hoàn chỉnh nên luật hình sự Việt Nam còn vận dụng nguyên tắc
hồi tố. Việc vận dụng này xuất phát từ sự cần thiết phải bảo vệ lợi ích của
tạo thế ổn định, vững chắc của cả hệ thống quan hệ xã hội được mọi người
tham gia, giải tỏa trạng thái bất an, đưa lại sự tin tưởng vào ngày mai của chủ
thể quan hệ pháp luật. Trong sự thống nhất với việc cấm hồi tố đó, việc quy
22
định cho phép hồi tố trong một số trường hợp cụ thể không làm ảnh hưởng
bất lợi đến quyền lợi, nghĩa vụ của người phạm tội, được cộng đồng quốc tế
thừa nhận và khuyến khích.
Như vậy có thể thấy, pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành không thừa
nhận nguyên tắc hồi tố mà chỉ cho phép vận dụng nguyên tắc này trong một
số trườg hợp cụ thể theo hướng có lợi cho người phạm tội.
1.2.3. Hiệu lực của đạo luật hình sự về thời gian
*Hiệu lực của Bộ luật hình sự theo thời gian
Hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật là “tính bắt
buộc thi hành của văn bản quy phạm pháp luật đối với các chủ thể pháp luật
tại thời điểm văn bản đó phát sinh hiệu lực tới thời điểm văn bản đó chấm
dứt hiệu lực” [38]. Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 2008, thời điểm bắt đầu có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
được quy định trong văn bản nhưng không được sớm hơn 45 ngày, kể từ
ngày công bố hoặc ký ban hành, trừ một số trường hợp đặc biệt.
“Điều 78. Thời điểm có hiệu lực và việc đăng Công báo văn bản quy
phạm pháp luật
1. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy
định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày
công bố hoặc ký ban hành.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi
hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng
yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực kể từ ngày
công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin
điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin
“Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có
hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện”.
Như vậy có thể thấy, không được áp dụng một đạo luật hình sự mới đối
với những hành vi được thực hiện tại thời điểm khi chưa có đạo luật hình sự
đó. Thời điểm thực hiện hành vi tội phạm được tính từ khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội không phụ thuộc vào thời điểm phát sinh hậu quả của
tội phạm.
Hai là, nguyên tắc không có hiệu lực hồi tố thể hiện ở chỗ đạo luật hình
sự không có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội đã được thực hiện trước
khi đạo luật đó được ban hành, mà chỉ có hiệu lực ở khoảng thời gian từ thời
điểm đạo luật đó có hiệu lực thi hành cho đến thời điểm đạo luật đó mất hiệu
lực. Nguyên tắc đó đảm bảo tính xác định và tính vững chắc của trật tự pháp
luật, bảo đảm tác động giáo dục của các quy phạm pháp luật hình sự và các
đòi hỏi của chế độ pháp chế trong lĩnh vực pháp luật hình sự.
Điều này được qui định tại khoản 1 và khoản 2 điều 7 Bộ luật hình sự:
“1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có
hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.
2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết
tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình
sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không
có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội
đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.
Việc qui định nguyên tắc không có hiệu lực hồi tố trong Bộ luật hình
sự không phải là nguyên tắc tuyệt đối mà qua nguyên tắc này để qui định hiệu
lực về thời gian của đạo luật hình sự. Chính vì vậy, đề cập đến hiệu lực của
25
Bộ luật hình sự theo thời gian còn phải dựa vào cả nguyên tắc có hiệu lực hồi
tố. Nguyên tắc có hiệu lực hồi tố là “việc áp dụng các văn bản pháp luật hình
sự mới đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước khi văn bản đó
dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá
án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không áp
dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7
năm 2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét
xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá
án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn
bản pháp luật hình sự trước đây để giải quyết;
D) Đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01
tháng 7 năm 2000 và đã có bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật, thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật hình sự này có
nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng
nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc
đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2000, thì việc xét xử giám đốc
thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c Mục này”.
Tuy nhiên, cần chú ý đối với một số qui định mang tính nhân đạo của
Bộ luật hình sự năm 1999 sẽ được áp dụng kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh
công bố (tức là ngày 04 tháng 01 năm 2000). Theo Điểm 3 nghị quyết số 32-
1999-NQ-QH10 ngày 21 tháng 12 năm 1999 về việc thi hành Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 các qui định đó là: