Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, người ta khó có thể hình dung được nền kinh tế thị trường mà
lại vắng bóng các tổ chức tài chính trung gian làm “cầu nối” giữa người có vốn
và người cần vốn. Trong số các tổ chức tài chính trung gian, hệ thống các Ngân
hàng thương mại chiếm vị trí quan trọng nhất cả về quy mô tài sản cũng như về
thành phần các nghiệp vụ. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, Ngân
hàng thương mại giữ một vị trí rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho
mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần
bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu. Hơn nữa,
Việt Nam đã ra nhập WTO, hội nhập với nền kinh tế thế giới, hệ thống Ngân
hàng với tư cách là trụ cột của nền tài chính nước nhà đứng trước nhiều cơ hội
và thách thức mới. Cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài có ưu thế hơn hẳn
về phương diện vốn và công nghệ đòi hỏi các Ngân hàng trong nước phải có
những chiến lược mang ý nghĩa sống còn. Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh
nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn. Hơn nữa, Ngân hàng
là một ngành kinh tế nhậy cảm, hoạt động ngân hàng với bản chất của nó, chịu
ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Rủi ro là khó tránh khỏi nên làm thế nào để
giảm thiểu rủi ro đến mức tối đa mà vẫn đảm bảo mức sinh lời cao cho các Ngân
hàng luôn là một bài toán khiến cho các nhà quản trị Ngân hàng phải trăn trở.
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại thì hoạt động tín
dụng vẫn là hoạt động mang lại thu nhập chính và cũng là hoạt động hàm chứa
nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, em chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại chi
nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sóc Sơn- Hà Nội”.
Kết cấu chuyên đề
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng của Ngân hàng
thương mại
Chương II: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng No&PTNT Sóc Sơn-
Hà Nội
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là tạm thời bán quyền sử dụng vốn cho người khác, NHTM vẫn luôn mong
muốn khách hàng vủa mình sử dụng vốn vay có hiệu quả và hoàn trả đầy đủ vốn
và lãi đúng kỳ hạn theo những quy định đã cam kết.
Thứ hai, đó là là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời. Đối
tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức
kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa. Tính chất tạm thời
của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó là kết
quả của sự thỏa thuận các đối tác tham gia qúa trình chuyển nhượng để đảm bảo
sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị dó. Sự
thiếu phù hợp và thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng tới quyền lợi tài
chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến nguy cơ phá hủy quan
hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền
sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà
không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó.
Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sư tin tưởng giữa người đi vay và
người cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín
dụng. Từ những phân tích ở đặc trưng thứ nhất ta thấy rằng: trong mối quan hệ
tay ba giữa NHTM, người gửi tiền ký thác và người đi vay đều dựa vào lòng tin
của nhau để giải quyết tình trạng thừa hoặc thiếu vốn của các chủ thể nêu trên.
Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn. Người
đi vay cũng hi vọng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay. Sự gặp gỡ
giữa người đi vay và người cho vay về, điểm này sẽ là điều kiện hình thành quan
hệ tín dụng. Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay do giá
trị của tài sản thế chấp hay do sự bảo lãnh của bên thứ ba.
1.1.3. Vai trò của tín dụng
Thứ nhất, tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Nhờ
có tín dụng với một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng, vốn nhàn rỗi trong
xã hội được cung ứng cho các chủ thể kinh tế để đáp ứng nhu cầu đa dạng về
trợ không hoàn lại dần được thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại thông
qua con đường tín dụng đối với các đối tượng chính sách tỏ ra khá hiệu quả, mở
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rộng quy mô tín dụng chính sách. Như việc cho vay người nghèo, sinh viên
nghèo vượt khó… với lãi suất thấp cùng các ưu đãi khác để tạo điều kiện cho họ
giải quyết khó khăn về mặt tài chính của Ngân Hàng Chính Sách và Ngân Hàng
Phát Triển ở nước ta hiện nay khẳng định sự quan tâm của chính phủ đến mọi
tầng lớp trong xã hội. Rõ ràng, khi các đối tượng chính sách quan tâm đến hiệu
quả sử dụng của đồng vốn vay để đảm bảo trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi, họ sẽ ý
thức hơn về đồng vốn họ làm ra, tạo điều kiện cho họ nâng cao tay nghề đáp ứng
tốt hơn nhu cầu phục vụ sản xuất, từng bước độc lập hơn với nguồn vốn tài trợ,
cải thiện đời sống. Và đó cũng chính là mục đích của việc sử dụng phương thức
tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng.
1.2. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHTM
1.2.1. Khái niêm rủi ro tín dụng
Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hoạt
động tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bện còn lại. Đối với
NHTM rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được
đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và
lãi vay không đúng hạn. Nếu các khoản cho vay của ngân hàng đều được thanh
toán đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi thì ngân hàng không bị rủi ro tín dụng.
Ngược lại, nếu người vay tiền không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ
thì rủi ro tín dụng nảy sinh.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt đông cho vay mà còn bao gồm
nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt động bảo
lãnh, tài trợ ngoại thương, cho thuê tài chính.
Rủi ro tín dụng là rủi ro cơ bản nhất của ngân hàng.
1.2.2. Các hình thức rủi ro tín dụng
+ Luật pháp không nhất quán, không rõ ràng, dẫn đến nhiều kẽ hở, tạo
điều kiện cho khách hàng vay lách luật, khó kiểm soát dẫn đến tổn thất cho
Ngân hàng. Hơn nữa, sự không thống nhất giữa các văn bản luật gây ra sự khó
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khăn trong việc giải quyết các tranh chấp giữa Ngân hàng với khách hàng trong
trường hợp cần thiết.
+ Việc Ngân hàng phai thực hiện cấp tín dụng cho các khoản vay theo chỉ
thị của chính phủ ũng khiến các Ngân hàng gặp rủi ro với thiệt hại lớn mà ngay
lập tức khó có nguồn bù đắp ví như những tổn thất của khoản cho vay đánh bắt
xa bờ theo chỉ định của Chính phủ mà NHNo&PTNT Việt Nam phải gánh chịu
trong thời gian gần đây.
• Môi trường kinh tế:
Rõ ràng rằng, kết quả kinh doanh của khách hàng phụ thuộc rất lớn vào
những biến động của chu kỳ kinh doanh.Những thay đổi của môi trường kinh tế
tạo ra những điều kiện thuận lợi hay khó khăn đối với người cần vốn. Khi kinh
tế tăng trưởng, hoạt động kinh doanh của khách hàng thuận lợi, sức sản xuất
cũng như tiêu thụ mạnh, doanh thu lợi nhuận tăng, khả năng chi trả cho các
khoản vay lớn, việc vay nợ thuận lợi, Ngân hàng cũng giảm thiểu được rủi ro.
Nhưng ngược lại thì việc vay vốn cũng như việc thu hồi nợ cũng gặp khó khăn,
vì vậy mà rủi ro càng tăng mạnh. Hơn nữa, sự phát triển đa dạng các ngành kinh
tế cũng giúp Ngân hàng phân tán được rủi ro trong hoạt động tín dụng, sự ra đời
của nhiều ngành mới như Trung tâm thông tin, các công ty xếp hạng doanh
nghiệp giúp Ngân hàng nắm bắt được nhiều thông tin khách hàng hơn từ đó mà
đánh giá rủi ro chính xác hơn, đưa ra được những giải pháp hữu hiệu hơn để hạn
chế và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng.
• Môi trường văn hóa xã hội:
Vệc tìm hiểu thói quen, tập quán tiêu dùng trong dân cư là vô cùng quan
trọng vì từ đó các doanh nghiệp có thể đưa ra các sản phẩm phù hợp với thị hiếu
của khách hàng. Trong môi trường cạnh tranh như ngày nay, nếu không theo kịp
+ Rủi ro đạo đức thuộc về người đi vay, người đi vay cố tình lừa đảo,
không trả nợ cho ngân hàng.
• Khách hàng vay là doanh nghiệp:
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay: Rủi ro trong kinh doanh của
người đi vay thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của
kết quả kinh doanh. Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra khi việc
triển khai xây dựng các phương án, các dự án sản xuất kinh doanh không khoa
học, việc dự toán chi phí và sản lượng sản xuất không phù hợp. Trong trường
hợp khác, mặc dù phương án kinh doanh của doanh nghiệp đã được tính toán
một cách chi tiết, khoa học, chính xác một cách tối đa thì bản thân hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp vốn chưa đựng nhiều rủi ro do những thay đổi bất
ngờ ngoài ý muốn của các điều kiện sản xuất kinh doanh như những biến động
về giá cả, nững thay đổi về thị hiếu...ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của DN.
+ Rủi ro đạo đức: Ngân hàng còn phải gánh chịu rủi ro tín dụng khi khách
hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích, gian lận trong hồ sơ vay vốn, hoặc thậm
chí doanh nghiệp cố tình không trả nợ.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng có thể phát sinh khi doanh nghiệp phá sản hoặc
thay đổi bộ máy quản lý, tổ chức.
1.2.3.3. Nguyên nhân do bản thân ngân hàng
Thứ nhất là do việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và điều
kiện cho vay, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận của Ngân hàng nên khi cho vay đã
chú trọng về lợi tức, đặt mục tiêu lợi tức cao hơn mục tiêu các khoản cho vay
lành mạnh.
Thứ hai là do chính sách và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chưa chú
trọng đến phân tích khách hàng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ hoặc
phương pháp xem xét phân tích còn hạn chế, chưa chính xác.
Thứ ba là do kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như: Việc
xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù
Tỷ lệ nợ xấu = tổng nơ xấu/ tổng dư nợ
Từ ba công thức trên ta có thể thấy rằng, nợ quá hạn, nợ xấu của Ngân
hàng càng cao thì rủi ro tín dụng xảy đến với Ngân hàng càng lớn. Nợ quá hạn,
nợ xấu gia tăng có thể do khách hàng làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả nợ
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
theo đúng yêu cầu trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Nợ quá hạn, nợ xấu
gia tăng kéo theo các chi phí khác của Ngân hàng cũng gia tăng như: Các khoản
chi phí đôn đốc thu hồi nợ, giám sát khoản vay, chi phí cơ hội...
Tỷ lệ mất vốn= Dư nợ mất vốn/ tổng dư nợ
Tỷ lệ mất vốn cao chứng tỏ Ngân hàng gặp nhiều thiệt hại trong hoạt
động cho vay, đây là khoản nợ được đưa ra ngoài bảng cân đối và trên thực tế
Ngân hàng phải dùng quỹ dự phòng để bù đắp rủi ro. Tuy nhiên, cán bộ tín dụng
cần tiếp tục theo dõi giám sát cả những khoản nợ này để thu hồi được phần nào
hay phần ấy.
Tỷ lệ dự phòng rủi ro trích lập= Số tiền dự phòng rủi ro trích lập/ Tổng dư nợ
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ Ngân hàng phải trích lập càng nhiều để bù đắp
rủi ro càng nhiều đối với những khoản vay không đảm bảo chất lượng, không có
khả năng thu hồi, làm tăng chi phí, từ đó giảm lợi nhuận cho Ngân hàng.
Bên cạnh các chỉ tiêu trên, nhà quản lý còn sử dụng một số chỉ tiêu khác
để đo lường rủi ro tín dụng như:
- Điểm của khách hàng
Dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng
Ngân hàng lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại và cho điểm. Khách hàng loại A
hoặc điểm cao thì rủi ro tín dụng thấp, khách hàng loại C hoặc điểm thấp thì rủi
ro tín dụng cao. Chỉ tiêu này được xác định dựa trên các dấu hiệu rủi ro mà
Ngân hàng xây dựng. Điểm của khách hàng cho thấy rủi ro “tiềm ẩn”.
- Danh mục cho vay không đa dạng:
Đa dạng hóa các hình thức tín dụng là một biện pháp để hạn chế rủi ro tín
dụng. Những thay đổi trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của người vay là khó
định xem người vay có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, trả lời
các câu hỏi một cách trung thực, có thiện chí và nỗ lực hết sức để hoàn trả nợ
vay khi đến hạn. Nếu phát hiện người vay giả dối trong kế hoạch sử dụng và trả
nợ như đã thỏa thuận, thì cán bộ tín dụng phải từ chối cho vay, nếu không, rủi ro
tín dụng sẽ phát sinh trong ngân hàng.
Năng lực của người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín
dụng. Và cán bộ tín dụng cũng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty
ký kết hợp đồng tín dụng phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty.
Trường hợp nếu công ty có đối tác kinh doanh, thì cán bộ phải biết được thỏa
thuận đối tác kinh doanh để xác định xem ai là người có được ủy quyền ký kết
hợp đônhg tín dụng cho công ty. Một hợp đồng được ký kết bởi người không
được ủy quyền có thể sẽ thu hồi được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng.
Thu nhập của người vay: Người vay có ba kha năng để tạo ra tiền, đó là (i)
luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, (ii) bán thanh lý tài sản, (iii)
tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn. Bất kỳ nguồn thu nào
từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng. Tuy nhiên,
Ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên
và căn bản để trả nợ vay Ngân hàng.
Bảo đảm tiền vay: Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín
dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: Tuổi thọ, điều kiện,
mức độ chuyên dụng của tài sản người vay.
Các điều kiện: Cán bộ tín dụng và nhà phân tích tín dụng cần phải biết
được xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người
vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến
khoản tín dụng.
Kiểm soát: Tập trung vào những vấn đề như: các thay đổi trong luật pháp
và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay
các Ngân hàng vẫn là:
• Tiến hành kiểm tra tất cả các lại tín dụng theo định kỳ nhất định, ví
dụ định kỳ 30, 60 hay 90 ngày đối với các khoản tín dụng nhỏ và
vừa; đối với những khoản tín dụng lớn thì phải thường xuyên hơn.
• Xây dựng kế hoạch, chương trình, nôi dung quá trình kiểm tra một
cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan
trọng nhất của mỗi khoản tín dụng phải được kiểm tra, bao gồm:
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Kế hoạch trả nợ của khách hàng, nhằm bảo đảm rằng khách hàng
không chậm trễ trong việc thanh toán nợ theo kế hoạch.
+ Chất lượng và điều kiện của tài sản dùng làm bảo đảm tín dụng.
+ Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, bảo đảm rằng Ngân
hàng có đầy đủ thẩm quyền hợp pháp để sở hữu các tài sản bảo đảm
tín dụng đối với người vay trước tòa án nếu cần thiết.
+Đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo về người vay xem
đã thay đổi, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng của người
vay thay đổi như thế nào.
+ Đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vay của
Ngân hàng và các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý đặt ra.
• Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu các “đại
gia” bị vỡ nợ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính
của Ngân hàng.
• Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện đi
xuống, hoặc những ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng của Ngân
hàng có biểu hiện những vấn đề nghiêm trọng trong phát triển (ví dụ
như xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới, hay có sự áp dụng công
nghệ mới đòi hỏi phải có sản phẩm mới và các phương pháp phân
phối mới.
Kiểm tra tín dụng không phải là công việc thừa, lãng phí, mà rất cần thiết
chí về kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với từng nhóm khách
hàng cụ thể:
Đối với tín dụng tiêu dùng, ngân hàng có thể lựa chọn các tiêu chí như thu
nhập, tài sản, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, nơi ở...
Đối với tín dụng công ty, các chỉ tiêu được chọn chủ yếu là các chỉ tiêu tài
chính như Tổng dư nợ/ Tổng tài sản, Lợi nhuận sau thuế/ Chi phí lãi vay,
Nợ/VCSH, LNST/Tổng TS...
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sau khi xác định được các chỉ tiêu, các nhà quản trị sẽ sử dụng các kỹ
thuật thống kê để lượng hóa (cho điểm) xác suát rủi ro tín dụng hoặc để phân
hạng rủi ro tín dụng.
Có nhiều loại mô hình điểm tín dụng như: mô hình điểm số Z (Z-
CREDIT SCORING MODEL), mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng, mô hình
cấu trúc kỳ hạn rủi ro tín dụng...
1.4. NHẬN BIẾT RỦI RO TÍN DỤNG
Với mục đích cố gắng ngăn chặn những rủi ro trong hoạt động tín dụng,
người điều hành Ngân hàng phải hiểu được rằng vì sao những rủi ro này có thể
xảy ra? Và việc nhận diện rủi ro tín dụng là khâu rất quan trọng để có thể đưa ra
những biện pháp tối ưu ngăn ngừa và xử lý các khoản tín dụng có rủi ro. Cán bộ
tín dụng luôn phải theo dõi các khoản tín dụng để phát hiện rủi ro nhờ những
dấu hiệu sau đây:
1.4.1. Những dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng
1.4.1.1. Những dấu hiệu phát sinh trong mối quan hệ với Ngân hàng
- Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đến với Ngân hàng trong quá trình
kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình
tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự
minh bạch, thuyết phục.
- Không có báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
- Sự giảm sút bất thường số dư tài khoản tiển gửi của khách hàng mở tại
và hoạt động sản xuất kinh doanh của Ngân hàng
- Có chênh lệch giữa doanh thu và dòng tiền thưch tế so với mức dự kiến
khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng.
- Xuất hiện ngày càng nhiều những khoản chi phí cho quảng cáo, tiếp
khách, tập trung quá mức chi phí không mấy cần thiết như thiết bị văn
phong rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền…
- Xuất hiện những dấu hiệu như sẵn sàng từ bỏ hợp đồng có giá trị vừa và
nhỏ nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao để tìm kiếm những
hợp đồng có giá trị lớn với các bạn hàng có tên tuổi để đạt được các hợp
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đồng lớn theo đuổi chiến lược: “mượn thương hiệu”, “nước nổi thuyền
nổi”…Hay những dấu hiệu mải mê theo đuổi một loại sản phẩm không
thích hợp với thời điểm và năng lực hiện tại của mình.
- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hoặc mức độ
hoạt động của khách hàng.
- Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành
- Do áp lực nội bộ mà tung ra các sản phẩm không đúng thời điểm, có thể
là quá sớm khi chưa hội tụ đủ các điều kiện chín muồi…
- Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn đên
việc đầu tư dự án không hiệu quả.
- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm mới
- Đối với khách hàng là cá nhân thì có dấu hiệu bị bệnh kéo dài hoặc chết…
Những dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính
của khách hang cũng có tác động trực tiếp đến chất lượng của khoản tín dụng
nhưng với tốc độ chậm hơn và các dấu hiệu này khó phát hiện hơn, vì vậy nên
vai trò kiểm tra, giám sát quản lý chặt chẽ của cán bộ tín dụng là rất quan trọng
trong việc phát hiện và xử lý rủi ro tín dụng.
1.4.2. Những dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của Ngân hàng
Ngoài những dấu hiệu từ phía khách hàng thì phía ngân hàng cũng có
- Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng mà
không phụ thuộc vào phân đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng
- Các khuynh hướng cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất cho vay,
phí dịch vụ hoặc thực hiện chiến lược giữ chân khách hàng bằng
khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với các tổ chức tín dụng
khác, mặc dù biết rõ các koản tín dụng định cấp có nguy cơ rủi ro
cao.
Các Ngân hàng luôn mong muốn duy trì mức dư nợ cho vay ở tình trạng tốt, có
thể giảm bớt kể cả những rủi ro không thể kiểm soát được bằng cách không tập trung
quá nhiều vốn vào một người vay, tức là áp dụng phương pháp phân tán rủi ro. Vì vậy,
vai trò của người cán bộ tín dụng ở chỗ cần phải thực hiện những công việc nhất định
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
để tránh những rủi ro trong tương lai.
CHƯƠNG II
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT SÓC SƠN
2.1. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT SÓC SƠN
Ngân hàng phát triển nông thôn Sóc Sơn được ra đời theo quyết định số
51/QĐ-NH ngày 27/06/1988 của Tổng giám đốc NHNN Việt Nam (Nay là
Thống đốc Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam) và là một trong 12 huyện trực
thuộc Ngân hàng phát triển nông nghiệp Hà Nội. Năm 1990, được đổi tên thành
NHNo Sóc Sơn. Cuối năm 1995, thực hiện mô hình hai cấp của NHNo Việt
Nam, NHNo Sóc Sơn trở thành đơn vị thành viên trực thuộc của NHNo Việt
Nam. Năm 1996, lại một lần nữa được đổi tên thành NHNo&PTNT Sóc Sơn.
Ngay từ khi mới thành lập, NHNo&PTNT Sóc Sơn đã phải đối mặt với vô
vàn khó khăn thử thách như: Số lượng lao động 107 cán bộ, trong đó chỉ có 7
đồng chí có trình độ Đại học, số còn lại có trình độ trung cấp và phần lớn chưa
qua đào tạo kinh doanh tiền tệ trên địa bàn một huyện nghèo của Thủ đô Hà Nội,
NHNo&PTNT phải đa dạng hóa cơ cấu đầu tư, đối tượng khách hàng, trong đó
đặc biệt chú trọng đến khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu hết được thành lập theo luật doanh
nghiệp với số lượng ngày càng tăng theo các năm. Các doanh nghiệp này lại
được Chính phủ hỗ trợ thông qua Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001.
Có thể nói đây là một chủ trương đột phá về định hướng phát triển doanh
nghiệp, một môi trường thuận lợi cho sự tăng trưởng cả về số lượng và chất
lượng hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời cũng là một thị trường
tiềm năng để Ngân hàng đầu tư tín dụng và dịch vụ Ngân hàng.
Trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại Ngân hàng giai đoạn 2001-
2010 và đề án kinh doanh trên địa bàn đô thị loại I. NHNo&PTNT đã xác định
ngoài việc đẩy mạnh cho vay kinh tế hộ sản xuất, thì việc cho vay các doanh
nghiệp nhỏ và vừa được xác định là một hướng đầu tư mới, góp phần mở rộng
đầu tư tín dụng và mở rộng thị phần trong các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng trên
địa bàn huyện.
Với nhận thức đó 6 năm qua chi nhánh NHNo&PTNT Sóc Sơn đã tích
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cực huy động vốn và đáp ứng kịp thời các nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế,
trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa và các hộ sản xuất kinh doanh... Tính đến
cuối năm 2007, kết quả cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa và các hộ sản xuất
kinh doanh cũng đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Đến nay, sau hơn 19 năm hoạt động, NHNo&PTNT Sóc Sơn đã trưởng
thành và lớn mạnh không ngừng về nhiều mặt cả về mặt số lượng cũng như chất
lượng. Mặc dù hoạt động trên địa bàn huyện nghèo của Hà Nội, nhưng
NHNo&PTNT Sóc Sơn lại được đánh giá là đơn vị khá trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Ngân hàng No&PTNT Sóc Sơn cũng tin tưởng rằng đồng vốn
của Ngân hàng sẽ góp phần quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế trong công
cuộc xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm trên địa bàn huyện Sóc Sơn nói
riêng và thủ đô Hà Nội nói chung.