1
MỤC LỤC
trang
PHẨN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
4. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở
VIỆT NAM 5
1.1. TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 5
1.1.1. Định nghĩa về nợ nước ngoài 5
1.1.2. Phân loại nợ nước ngoài 6
1.1.3. Phân loại các nước theo mức độ nợ nước ngoài 7
1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài 8
1.1.5. Vai trò của nợ nước ngoài 9
1.2. KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI 10
1.2.1. Định nghĩa về khủng hoảng nợ 10
1.2.2. Việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam 11
1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 14
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nợ nước ngoài 14
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho việc Việt Nam trong việc vay và quản lý nợ
quốc tế 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở
VIỆT NAM 19
3.5. CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ 46
3.5.1. Ổn định môi trường thể chế 46
3.5.2. Cải thiện môi trường đầu tư 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC
theo dõi và quản lý nợ nước ngoài cũng trở nên ngày càng bức thiết.
Tính cấp thiết của việc đổi mới quản lý nợ nước ngoài cũng xuất phát từ việc tăng
cường hội nhập của nền kinh tế Việt Nam và quá trình toàn cầu hoá. Năm 2006, nước
ta chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu một cột mốc
quan trọng vào quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng của nước ta. Tăng cường hội nhập
với nền kinh tế thị trường toàn cầu, đặc biệt là các cam kết mở cửa dịch vụ tài chính
của Chính phủ, sẽ đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam khả năng tiếp cận với các
nguồn tín dụng quốc tế.
Đối với hệ thống quản lý nợ nước ngoài, điều này cũng có ý nghĩa việc ứng dụng
các phương pháp, kỹ thuật và kỹ năng phân tích nợ trong nền kinh tế thị trường để cập
nhật, giám sát và kiểm tra được việc vay và trả nợ nước ngoài trở nên hết sức bức
thiết. Đặc biệt do kinh nghiệm và thực tiễn quản lý nợ nước ngoài trong nền kinh tế thị
trường của nước ta chưa có nhiều và hệ thống quản lý nợ nước ngoài còn đang trong
quá trình hoàn thiện, nên nhu cầu nghiên cứu và xây dựng năng lực về mặt này càng
lớn.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các
chuyên gia kinh tế, năm nay thế giới sẽ phải gánh lấy những hậu quả to lớn do tác
động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Việt Nam là một thành phần trong
4
“guồng máy” kinh tế toàn cầu, do đó sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều bởi cuộc khủng hoảng
này gây ra.
Khủng hoảng là một đề tài rộng lớn và có nhiều tác động đến nhiều nước, không
chỉ ở mặt kinh tế mà ở các mặt xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục… Có thể nói khủng
hoảng kinh tế là một mãng vấn đề được cấu thành bởi nhiều khía cạnh khác nhau. Và
khủng hoảng nợ là một trong nhiều bộ phần cấu thành nên khủng hoảng kinh tế.
Để đảm bảo không rơi vào khủng hoảng nợ như các Mỹ Latinh trong thập niên
những năm 80, đòi hỏi Chính phủ phải có những biện pháp quản lý hiệu quả các nguồn
vốn vay nước ngoài. Chúng tôi nhận thấy rằng nợ nước ngoài có thể xem như là một
“con dao hai lưỡi”, vừa giúp các nước đang “thiếu vốn” tăng cường và đẩy mạnh phát
Chương 1: Tổng quan về việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng về việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp nhằm tăng cường giám sát và quản lý nợ nước ngoài ở
Việt Nam.
Đồng thời sau mỗi chương chúng tôi đều rút ra kết luận để giúp cho người đọc có
thể nắm được những vấn đề chung nhất ở mỗi chương.
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆC QUẢN LÝ
NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
1.1. TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Định nghĩa về nợ nước ngoài
Nợ nước ngoài là một khái niệm rộng lớn, chứa đựng nhiều yếu tố khác nhau. Do
đó để hiểu được khái niệm nợ nước ngoài, chúng ta cần phải tìm hiểu một số khái
niệm cơ bản.
Nợ là lượng tiền mà một công ty hoặc một cá nhân nợ một tổ chức hoặc
một cá nhân khác. Nợ phát sinh từ việc vay tiền để mua hàng hoá, dịch vụ và các tài
sản tài chính khác. Một khoản nợ được tạo ra khi người cho vay đồng ý cho người đi
vay một lượng tài sản nhất định.
Nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi
lại được và bị xoá sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ.
Với hai khái niệm cơ bản trên chúng ta có thể đi vào tìm hiểu thế nào là nợ nước
ngoài? Vậy thì một câu hỏi đặt ra lúc này là tại sao chúng ta phải tìm hiểu khía cạnh
nợ xấu trong nợ nước ngoài. Bởi lẽ chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu nợ nước ngoài
dưới giác độ “nợ không an toàn”.
Lịch sử kinh tế thế giới là một minh chứng hùng hồn nhất cho tấm thảm kịch nợ
không an toàn, đó là các cuộc khủng hoảng nợ xảy ra ở một số khu vực trên thế giới.
Hơn nữa, trong những năm vừa qua thế giới đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Theo nhận định của nhiều chuyên gia hàng đầu trong
lĩnh vực kinh tế, năm 2009 là một năm đầy những khó khăn và thử thách cho kinh tế
Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh
Nợ công được định nghĩa là các nghĩa vụ nợ của các khu vực công và bao gồm
nợ của khu vực công cùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh.
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh được xác định là
các công nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà dịch vụ trả nợ được bảo lãnh theo hợp
đồng bởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại cùng một nền kinh tế với bên nợ
đó.
Nợ tư nhân
Loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được khu vực
công của nền kinh tế đó bảo lãnh theo hợp đồng. Về bản chất đây là các khoản nợ do
khu vực tư nhân tự vay, tự trả.
Phân loại theo thời hạn vay: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống. Vì thời gian
đáo hạn ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường không thuộc đối
tượng quản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn. Tuy nhiên nếu nợ ngắn hạn không trả
được sẽ gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng. Đặc biệt khi tỷ trọng nợ ngắn hạn
trong tổng nợ có xu hướng tăng phải hết sức thận trọng vì luồng vốn rút ra đột ngột có
thể gây bất ổn cho nền tài chính quốc gia.
Nợ dài hạn
Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã
gia hạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản
thanh toán cuối cùng. Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả
năng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia.
Phân loại theo loại hình vay: vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay
thương mại
Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), hỗ trợ
phát triển chính thức bao gồm các chuyển khoản song phương (giữa các Chính phủ)
hoặc đa phương (từ các tổ chức quốc tế cho Chính phủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá
nhân đạo bằng hiện vật
1.1.3. Phân loại các nước theo mức độ nợ nước ngoài
Nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước
nghèo phải vay của nước ngoài để có tiền trang trải cho đầu tư phát triển đất nước và
một phần để tiêu dùng, ngoài ra còn một số trường hợp đặc biệt, như phải chi dùng cho
chiến tranh.
Các khoản nợ thường từ việc vay vốn từ bên ngoài, từ cán cân thương mại quốc
gia (trị giá xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ < trị giá nhập khẩu của hàng hoá và dịch
vụ). Theo quy luật thị trường, khi vay nợ thì phải có nghĩa vụ trả nợ, gồm nợ gốc và lãi
suất của khoản nợ gốc đó. Nếu không trả được nợ, sẽ đưa đất nước đến vỡ nợ và chẳng
có nước nào hoặc các tổ chức quốc tế thích tiếp tục cho vay, tiếp tục phát triển quan hệ
buôn bán, đầu tư vào các nước có tỷ lệ nợ cao (ngoài trừ trường hợp chính trị, hoặc sự
ràng buộc của các hiệp định song phương, đa phương đã ký kết trước đây).
Để đánh giá mức độ nợ của các quốc gia, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra một
số tiêu chuẩn để đánh giá nợ nước ngoài của các quốc gia đó:
Căn cứ vào GNI
3
bình quân đầu người, chia các nước ra thành một số nhóm:
Các nước có thu nhập thấp (dưới 761 USD/năm), các nước có thu nhập trung bình thấp
(từ 761 đến 3030 USD/năm), các nước có thu nhập trung bình cao (từ 3031 đến 9360
USD/năm), các nước có thu nhập cao (trên 9360 USD/năm). Các nước có thu nhập cao
thì khả năng trả nợ cao, hoặc không là nước đi vay mà còn là nước cho vay.
Căn cứ vào khả năng thanh toán, thì chia ra: Các nước có khả năng thanh toán
là đảm bảo việc trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi đều đặn; các nước không có khả
năng thanh toán là các nước không trả được nợ gốc khi đến hạn, do đó phải thương
lượng lại cơ cấu nợ, tiến độ trả nợ và kèm theo một ân hạn trong thời gian đó. Thậm
chí có nhũng nước không có khả năng trả nợ, dẫn đến vỡ nợ và các nước chủ nợ không
có cách nào khác ngoài việc xoá nợ, như một số nước châu Phi đã được nhóm nước
G8
4
không có khả năng trả nợ. Liên Hợp Quốc đã lập danh sách các nước nghèo, nợ nần
quá nhiều (HIPCs) trên toàn thế giới, bao gồm 24 nước, hầu hết ở châu Phi và một số
nước ở khu vực Mỹ Latinh. Với không ít nước thuộc nhóm nợ vừa phải, nhưng cũng
không có khả năng thanh toán, thì các nhà tài chính và ngân hàng của các nước này
phải thay mặt Chính phủ để đi thương lượng nhằm kéo dài thời gian trả nợ, có thể xin
giảm bớt lãi suất…
1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
Khác với nợ trong nước của các pháp nhân và thể nhân, nợ nước ngoài của Chính
phủ nói riêng hay nợ quốc gia nói chung luôn nhận được sự quan tâm, chú ý không chỉ
là những cơ quan, cá nhân trong nước mà còn có cả các cơ quan, tổ chức nước ngoài,
bởi lẽ nợ nước ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến nền tài chính quốc gia. Hơn nữa đây
là một trong nhiều chỉ tiêu được các vị lãnh đạo đặc biệt quan tâm trong bối cảnh nền
kinh tế thế giới có nhiều biến động như hiện nay, do tác động của cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu.
Các chỉ số đánh giá nợ nước ngoài được xây dựng thành hệ thống nhằm xác định
mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối với an nình tài chính quốc gia. Cũng cần
lưu ý là các nhóm chỉ tiêu đánh giá về nợ nước ngoài, trong đó nợ nước ngoài của
Chính phủ là chủ yếu, còn nợ của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh hầu như
không đáng kể.
1.1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài
Để đánh giá mức độ nợ của nước ngoài, các chỉ tiêu thường được các tổ chức
quốc tế thường dùng là:
Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài
Tổng nợ/Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá dịch vụ: Chỉ tiêu này biểu diễn tỷ lệ
nợ nước ngoài bao gồm nợ tư nhân, nợ được Chính phủ bảo lãnh trên thu nhập xuất
khẩu hàng hoá và dịch vụ. Ý tưởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn thu
xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả
nợ nước ngoài. Những khó khăn khi sử dụng chỉ tiêu này là: Nguồn thu xuất khẩu dễ
biến động từ năm này sang năm khác, ngoài ra cũng có những phương án khác để
nước con nợ có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất
Nợ đa phương/Tổng nợ: Các khoản nợ đa phương thường nhằm mục đích hỗ
trợ, ít mưu cầu về lợi nhuận, do đó việc tăng cường nợ đa phuơng trong tổng nợ phản
ánh tình hình nợ nước ngoài của một nước thay đổi theo chiều hướng tốt.
1.1.5. Vai trò của nợ nước ngoài
1.1.5.1. Nợ nước ngoài đáp ứng các nhu cầu về vốn đầu tư
Để thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu vốn đầu tư của các
nước đang phát triển rất lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của quốc gia. Vay nước ngoài
là nguồn bổ sung phổ biến mà các nước đang “thiếu vốn” thường hay sử dụng. Nợ
nước ngoài cũng có thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế bằng việc đầu tư vào các
ngành mũi nhọn, tạo đà cho nền kinh tế phát triển.
Nguồn vốn vay nước ngoài là nguồn lực bổ sung để phát triển kinh tế khi mà sản
xuất trong nước chỉ đủ duy trì ở mức tiêu dùng thấp. Với việc đi vay nước ngoài, một
quốc gia có cơ hội đầu tư phát triển ở mức cao hơn tại thời điểm hiện tại mà không
giảm tiêu dùng trong nước. Như vậy, đối với các quốc gia đang phát triển, việc sử
dụng nguồn vốn vay nước ngoài về bản chất là vấn đề cân đối giữa tiêu dùng trong
hiện tại với tiêu dùng trong tương lai. Việc vay nợ nước ngoài chỉ có thể có hiệu lực
nếu như bản thân nó đảm bảo không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiêu dùng của thế hệ
tương lai.
1.1.5.2. Nợ nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng
lực quản lý
Bên cạnh việc dùng các nguồn lực tự có để nhập khẩu các máy móc, thiết bị kèm
theo chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, việc vay vốn nước ngoài góp phần bổ
sung thêm nguồn vốn để nhập các máy móc, thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cùng
10
với kỹ năng quản lý nước ngoài. Các dự án đã góp phần hiện đại hoá nhiều ngành, lĩnh
vực, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác phát triển theo, tạo ra một lực lượng lao động
mới, lao động kỹ thuật cao và góp phần thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế. Cùng với
các dự án đầu tư là việc chuyển giao kỹ năng quản lý của các chuyên giá nước ngoài.
1.1.5.3. Nợ nước ngoài ổn định tiêu dùng trong nước
hàng và các tổ chức tài chính, chịu ảnh hưởng do tác động việc “đóng băng” thị trường
bất động sản. Theo Nghiên cứu sinh Hồ Quốc Tuấn, Đại học Manchester – Anh quốc,
thì các nước cần đặc biệt chú ý đến vần đề “bong bong ngân sách” trong cuộc khủng
hoảng kinh tế hiện nay. Bởi lẽ, các nước có thể dùng Ngân sách Nhà nước để kích
thích đầu tư, kích thích tiêu dùng giúp cho nước mình nhanh vượt qua khủng hoảng,
nhưng phải xem xét tính khả thi của các dự án đầu tư, không nên dàn trải quá nhiều mà
chỉ nên tập trung vào các dự án trọng điểm, góp phần thúc đẩy các vùng và khu vực
lân cận phát triển. Tính hiệu quả của các dự án cần đảm bảo ở yếu tố phục hồi kinh tế
nhanh, tránh để các nước sau khi vượt qua được cuộc khủng hoảng này, lại rơi vào
cuộc khủng hoảng khác, nghiêm trọng và “tàn phá” hơn nhiều.
11
Vậy khủng hoảng nợ là gì? Khủng hoảng nợ là tình trạng một quốc gia
phải đề nghị thương thảo lại về các thoả thuận vay nợ, hoãn trả lãi và vốn gốc, phải
nhận một khoản tài trợ chính thức từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Một nghiên cứu gần đây của IMF đã định nghĩa một quốc gia được xem là lâm
vào khủng hoảng nợ khi nó bị Standard & Poor
5
xếp vào hạng “không thể chi trả”
hoặc nhận được một khoản cho vay lớn, vượt quá 100% hạn mức ấn định trước từ
IMF. Như vậy, định nghĩa này bao gồm những trường hợp “gần khủng hoảng” tức là
không có khả năng chi trả nhưng nhờ IMF vẫn trả được nợ.
1.2.2. Việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam
Việc quản lý nợ nước ngoài trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến
động như hiện nay là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm, chú ý. Việc quản lý không chỉ
dừng lại ở việc sử dùng, giám sát yếu tố nợ nước ngoài sao cho hợp lý, mà còn phải
dựa trên khiá cạnh đảm bảo tính ổn định của yếu tố nợ nước ngoài. Như phần trên
chúng tôi đã có trình bày, quản lý nợ để đảm bảo không rơi vào một cuộc khủng hoảng
nợ mới, trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng ban đầu.
1.2.2.1. Khái niệm về quản lý nợ nước ngoài
Một trong những công ty đánh giá tín nhiệm nổi tiếng trên thế giới.
12
trong chiến lược tổng thể về huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và 10 năm của đất nước.
Chương trình quản lý nợ trung hạn là văn kiện cụ thể hoá nội dung chiến lược nợ
dài hạn cho giai đoạn từ 3 hoặc 5 năm, được cập nhật từng năm, phù hợp với khuôn
khổ chính sách kinh tế, tài chính và với mục tiêu ngân sách trung hạn và hàng năm của
Chính phủ.
Ban hành khung chể thế, xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý nợ nước
ngoài
Một trong những nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý nợ nước ngoài là xây dựng
được một khuôn khổ pháp lý và thể chế cho quản lý nợ nước ngoài, trong đó có sự
phân định rõ ràng giữa trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan chức năng được ủy
quyền thay mặt Chính phủ trong việc vay, trả nợ, phát hành bảo lãnh và thực hiện các
giao dịch tài chính như cho vay lại.
Khung pháp lý về quản lý nợ nước ngoài: sự phân định giữa trách nhiệm và quyền
hạn trên cần được luật hoá bằng các văn bản luật, như Luật Ngân sách Nhà nước, Luật
Quản lý nợ hoặc Luật Quản lý nợ nước ngoài và các quy chế cụ thể. Hệ thống các văn
bản pháp luật nhất thiết phải nhất quán và đồng bộ cho việc thực hiện.
Khung thể chế: bao gồm một hệ thống các quy định riêng cho việc vay nợ của
Chính phủ, của Ngân hàng Trung ương và của tư nhân. Khung thể chế vay nợ nước
ngoài của một nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vay mượn và sử dụng có
hiệu quả vốn vay.
Tổ chức bộ máy quản lý nợ nước ngoài là một nội dung quan trọng trong quản lý
nợ nước ngoài. Trước hết là các cơ quan lập pháp chịu trách nhiệm thông qua Luật về
nợ vay và hạn mức trần vay nợ hàng năm, tiếp theo là các cơ quan hành pháp chịu
trách nhiệm triển khái các nội dung quản lý nợ.
Đánh giá tính bền vững của nợ nước ngoài
Đối với tất cả các nước đang phát triển ngày nay, việc đi vay nước ngoài để đầu tư
Chi phí sử dung nợ có thể gia tăng do những biến động của kinh tế thế giới cũng
như sự thiếu linh hoạt của cơ quan điều hành vĩ mô trong chính sách tài chính - tiền tệ,
bởi vì xét về nợ vay, thời gian là yếu tố quan trọng dẫn đến gia tăng rủi ro của khoản
vay đó, trong suốt khoản thời gian đi vay có thể xảy ra những biến cố có lợi hoặc bất
lợi đến các khoản vay đó, nhất là nợ vay nước ngoài. Những yếu tố đó là rủi ro về tỷ
giá hối đoái, lãi suất thị trường, lạm phát và những rủi ro quốc gia khác.
Tỷ giá hối đoái
Trong mô hình tiết kiệm đầu tư, tỷ giá hối đoái giữ vai trò quan trọng trong việc
giải thích các biến động trong tài khoản vãng lai. Nếu người ta dự đoán được rằng có
sự sụt giá thực sự của đồng nội tệ thì các hộ gia đình có thể rủ nhau đi mua hàng nhập
khẩu có thể dự trữ được lâu, điều này làm cho mức tiết kiệm có thể giảm đi. Còn nếu
đồng nội tệ tăng giá tạm thời có thể đánh giá sai lệch về tỷ suất sinh lợi thực của nhà
đầu tư.
Tỷ giá hối đoái thực tế còn quyết định cả mức dự trữ vốn mong muốn bằng cách
tác động vào chi phí điều chỉnh, việc định tỷ giá quá cao không phù hợp với tỷ lệ lãi
suất, có ý nghĩa như một trợ cấp đầu tư. Do đó, nếu có sự giảm giá thực tế so với dự
tính có thể làm mức đầu tư tăng lên và ngược lại.
Đối với nợ nước ngoài, các khoản đi vay thường được tính bằng ngoại tệ. Đối với
các quốc gia vay nợ, thường là các nước chậm phát triển, có đồng tiền yếu, vì thế tại
thời điểm đi vay, mức giá của đồng nội tệ thường cao hơn tại thời điểm trả nợ. Điều
này gây nên một mức lãi suất thực cao hơn nhiều so với lãi suất danh nghĩa. Việc đầu
tư trong nước bằng nội tệ sau khi chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho tỷ suất sinh lời
giảm đi nhiều. Vì vậy các quốc gia cần phải có một chính sách quản lý tỷ giá rất linh
hoạt và cân nhắc kỹ lưỡng khi vay dài hạn với lãi suất cao. Thực hiện mua bán quyền
chọn để bảo hiểm tỷ giá cũng là một giải pháp. Tuy nhiên nghiệp vụ mua bán quyền
chọn chỉ thực hiện được trong ngắn hạn, do đó chỉ phủ hợp cho khoản vay thương mại
cho xuất nhập khẩu.
Lãi suất thị trường thế giới
Lãi suất của các khoản vay được xác định trên lãi suất của thị trường thế giới như
LIBOR
Có thể nói khủng hoảng ở các nước châu Mỹ Latinh bắt nguồn từ sự “say sưa
trong chiến thắng” của các nước ở khu vực này. Trước cuộc khủng hoảng, các nước
châu Mỹ Latinh liên tục có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm liên tiếp,
hơn hẳn các nước ở khu vực châu Á và châu Phi. Thời kỳ 1950 - 1970, nhiều nước Mỹ
Latinh như Brazil, Mexico, Argentina… đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao liên tục,
và các nước này được đánh giá là các nước công nghiệp mới – NICs. Tuy nhiên, cuộc
khủng hoảng nợ bùng nổ vào năm 1982 và kéo dài trong những năm sau đó đã khiến
cho các nước này không thể tiếp tục trở thành các nước NICs. Hơn nữa, trong thập kỷ
sau đó nền kinh tế của các nước này đã rơi vào tình trạng kinh tế suy thoái.
Khủng hoảng nợ nước ngoài ở châu Mỹ Latinh chủ yếu xuất phát từ khu vực tư
nhân. Là những nền kinh tế tăng trưởng nhanh, các nước Mỹ Latinh là điểm đến mong
đợi của dòng vốn nước ngoài vào thời điểm đó. Các biện pháp cải cách nền tài chính
theo hướng tự do hoá cũng là yếu tố khuyến khích các công ty tư nhân trong nước vay
nợ. Giữa thập kỷ 1970, nhiều nước Mỹ Latinh bao gồm Chile, Argentina, Uruguay bắt
đầu cải cách nền kinh tế theo hướng tự do hoá thương mại, tự do hoá thị trường tài
chính trong nước và chu chuyển vốn. Việc kiểm soát ngoại tệ, kiểm soát chu chuyển
vốn và các hạn chế khác được bãi bỏ. Kết quả việc tự hoá chu chuyển vốn là các nhà
đầu tư trong nước có được khả năng tiếp cận vốn vay nước ngoài một cách không hạn
chế.
Trong giai đoạn từ 1975 đến 1982, nợ nước ngoài của các nước Mỹ Latinh tăng
với tốc độ 20,4%/năm. Tổng nợ của các nước này tăng từ 75 tỷ đôla năm 1975 lên
thành 314 tỷ đôla năm 1983, tương đương với 50% GDP của cả khu vực. Tổng nợ phải
thanh toán còn tăng nhanh hơn, đạt mức 66 tỷ đôla vào năm 1982, trong khi mức này
chỉ có 12 tỷ vào năm 1975.
Khủng hoảng nợ ở các nước châu Mỹ Latinh chủ yếu liên quan đến chính sách
quản lý nợ của tư nhân với các ngân hàng thương mại nước ngoài, song nó xuất phát
từ những mất cân đối về thương mại và tài khoá tích tụ trong nhiều năm trước đó và có
sự tham gia tích cực của Chính phủ thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô.
Năm 1982, khủng hoảng nợ bùng nổ, bắt đầu bằng việc Mexico tuyên bố không
thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Trong khoảng từ năm 1976 đến năm 1981, doanh
Cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực châu Á năm 1997-1998 được diễn ra dưới
tác động của nhiều yếu tố khác nhau, cả những nguyên nhân từ nội tại bên trong của
nền kinh tế, đến cả dưới tác động của những yếu tố “ngoại sinh” – dòng vốn nước
ngoài. Cuộc khủng hoảng nổ ra như một hệ quả tất yếu của những năm tháng “ngủ
quên trong chiến thắng” của các nước, đặc biệt lá Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc – ba
nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuốc khủng hoảng.
Thái Lan “ngòi nổ” đầu tiên đã bộc phát vào ngày 2/7/1997, đã kéo theo các dòng
“dung nham” khác buông trào mạnh mẽ. Yếu tố nợ nước ngoài nổi lên như một hệ quả
tất yếu của những chính sách sai lầm của Chính phủ các nước. Để thu hút mạnh mẽ
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Chính phủ các nước đã không chú trọng
đến việc kiểm soát chặt chẽ yếu tố tư bản nước ngoài. Thật đáng buồn là nếu các nước
chỉ chú trọng đến “lượng”, mà bỏ quên yếu tố “chất”. Nhưng điều đó đã thực sự xảy ra
ở các nước Đông Á vào thời điểm đó. Khủng hoảng nợ nói riêng, hay khủng hoảng
kinh tế - tài chính nói chung diễn ra như một hậu quả tất nhiên.
Nguồn vốn FDI chỉ thực sự phát huy tác dụng nếu được Chính phủ các nước đầu
tư hợp lý vào các dự án phát triển kinh tế, hạ tầng xã hội, tạo ra nhiều việc làm mới
cho người dân trong quốc gia đó. Cộng thêm chính sách thông thoáng, thể chế chính
trị vững mạnh và nhất quán là một trong những yếu tố giúp nguồn vốn FDI phát huy
hết “sức mạnh” của mình. Nhưng vào thời điểm đó, yếu tố chính trị lại là một nguyên
16
nhân khiến cho nguồn vốn ODA “đảo chiều”, quay ngược về chính quốc. Thái Lan là
“yếu tố dẫn đầu”, đã gây ra tác động “tâm lý lan truyền” sang các nước khác. Cộng
thêm nạn quan liêu, tham nhũng… đã đẩy các nhà đầu tư nước ngoài “ra xa”.
Bên cạnh đó, một vần đề làm cho yếu tố nợ nước ngoài ở các nước châu Á trở nên
trầm trọng thêm là vấn đề tỷ giá hối đoái. Theo Giáo sư Paul A. Samuelson, “bàn tay
vô hình” là một chính sách thích hợp cho mọi nền kinh tế, nhất là các nước có khuynh
hướng theo tư bản tài chính. Thị trường là một “công cụ” giúp điều chỉnh các chính
sách vĩ mô một cách hợp lý nhất. Và trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động,
Nhà nước chỉ được xem như một “thực thể” quản lý xã hội, hơn là tham gia điều chỉnh
phát triển, thiếu hụt một lượng lớn vốn còn thiếu cho quá trình củng cố, phát huy sức
mạnh tổng thể của nền kinh tế. Vì vậy, việc nghiên cứu và rút ra bài học kinh nghiệm
từ việc quản lý nợ nước ngoài của các nước ở khu vực Mỹ Latinh và các nước trong
khu vực - điển hình là cuộc khủng hoảng xảy ra vào năm 1997-1998 – là một việc làm
cần thiết và đúng đắn. 17
Về việc sử dụng vốn vay nước ngoài
Bài học đầu tiên có thể rút ra từ bài học kinh nghiệm trong cuộc khủng hoảng nợ
của các nước Mỹ Latinh và các nước Đông Á, đó là không nên hoạch định chiến lược
phát triển kinh tế dựa quá nhiều vào nợ vay nước ngoài. Mức nợ nước ngoài cao
thường kèm theo các rủi ro về tài chính, đặc biệt nếu không quản lý chặt chẽ có thể
ảnh hưởng đến cả chính trị, mà Chính phủ các nước đang phát triển không thể kìm chế
được.
Một điều chúng ta phải nhìn nhận một cách thực tế là tầm quan trọng của việc tích
luỹ trong nước của các nước đang phát triển và luồng vốn này càng phát huy tác dụng
khi vốn đề vốn nước ngoài càng trở nên “khan hiếm”. Hiện tại luồng vốn nước ngoài
đổ vào nhóm nước đang phát triển chủ yếu xuất phát từ các nước phát triển, các cường
quốc tư bản như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật… nhưng hiện nay các nước này cũng đang chịu
tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu nên lượng vốn nước ngoài
đổ vào các nước có phần hạn chế.
Bên cạnh đó, vần đề quản lý nợ nước ngoài được đặt ra như một vấn đề cấp thiết
trong “cơn lốc” khủng hoảng hiện nay. Nợ nước ngoài dường như luôn ẩn chứa trong
nó là một “con dao hai lưỡi”, vừa giúp các nước phát triển kinh tế, khắc phục tình
trạng thiếu “tư bản”, nhưng đồng thồi cũng đặt ra yêu cầu cấp bách của việc quản lý
nợ nước ngoài, bởi lẽ khác với yếu tố “nội sinh”, “ngoại sinh” luôn hàm chứa nhiều
“tính hệ lụy bất tương xứng” - giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư.
Phối hợp thực hiện các chính sách vĩ mô đảm bảo cho chính sách nợ bền
ngăn chặn được khủng hoảng. Lãnh đạo ở nhóm nước công nghiệp mới phát triển rất
linh hoạt trong việc khắc phục những quyết định sai lầm và khuyết điểm trong quá khứ
để hạn chế đến mức tối thiểu các tổn thất. Những nước thành công nhất là những nước
lãnh đạo tham khảo ý kiến một cách kỹ càng của khu vực tư nhân. Một thực tế ở các
nước thành công nhất là trong khi quyền lãnh đạo chung thuộc về Chính phủ thì việc
quản lý và phát triển kinh tế thuộc về tư nhân.
Kinh nghiệm khủng hoảng của các nước cũng cho thấy một nước có thể rơi vào
khủng hoảng nếu như các quyết định của Chính phủ lại được xây dựng trên cở sở thiếu
thông tin.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã tổng kết những vấn đề khái quát về vấn đề nợ nước ngoài. Nợ nước
ngoài là một bộ phận quan trọng có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế của yếu tố
nợ. Chúng ta nhận thấy rằng nợ nước ngoài là một “chất xúc tác” quan trọng đối với
các nhất, nhất là các nước đang phát triển. Yếu tố nợ nước ngoài hoà chung trong tổng
thể sự phát triển kinh tế của các nước. Để đảm bảo yếu tố nợ nước ngoài phát huy tác
dụng, Chính phủ các nước cần có các chính sách vay và quản lý nợ một cách thích
hợp.
Phải nhìn nhận thực tế là nợ nước ngoài nếu được quản lý tốt sẽ góp phần kích
thích nền kinh tế của các nước phát triển hơn. Nhưng nếu không được quản lý tốt hoặc
buông lỏng quản lý thì nợ nước ngoài sẽ sinh ra những tác động tiêu cực, ảnh hưởng
đến yếu tố bền vững của nền kinh tế, thậm chí có thể gây ra khủng hoảng nợ. Khủng
hoảng nợ nằm trong khủng hoảng kinh tế, nhưng bản thân khủng hoảng nợ có những
dấu hiệu riêng, tầm ảnh hưởng riêng đến nền kinh tế của các nước.
Thực tế lịch sử kinh tế của các nước, đặc biệt là các nước Mỹ Latinh và cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính ở châu Á năm 1997-1998, là một bài học “thương đau”
cho sự buông lỏng quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ các nước. Không phải không
được Chính phủ áp dụng)
NỢ ODA
Quan hệ hợp tác phát triển giữa Chính phủ Việt Nam với các tổ chức tài chính thế
giới và Chính phủ các nước được xây dựng và phát triển từ rất sớm. Việt Nam nhận
được nhiều khoản hỗ trợ phục vụ cho quá trình ổn định và phát triển kinh tế - xã hội,
thực hiện các mục tiêu mà Quốc hội đã đặt ra trong các giai đoạn khác nhau. Trong các
khoản hỗ trợ đó, nợ ODA là khoản nợ vay nước ngoài chủ yếu của Chính phủ trong
suốt một thời gian dài.
Trong tổng số vốn ODA cam kết mà chúng ta nhận được giai đoạn 1993 - 2007,
khoảng 15 – 20% là viện trợ không hoàn lại, còn phần lớn là vốn cho vay ưu đãi đối
với Chính phủ. Nguồn vốn ODA huy động được sử dụng để bổ sung cho đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội, chiếm khoảng 12% tổng đầu tư toàn xã hội, bằng 28% tổng vốn
đầu tư từ Ngân sách Nhà nước (NSNN), bằng 50,5% vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước.
Trong số 51 nhà tài trợ thường xuyên cho Việt Nam, có 28 nhà tài trợ song
phương và 23 nhà tài trợ đa phương, có 3 nhà tài trợ cung cấp chủ yếu là Nhật Bản,
Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), chiếm khoảng 80%
tổng giá trị ODA đã ký kết.
Mức cam kết ODA hàng năm điều tăng, năm sau cao hơn năm trước. Điều này thể
hiện sự tin tưởng, ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với quá trình xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Đó vừa là thuận lợi nhưng cũng đầy thử
thách cho các nhà hoạch định chính sách vĩ mô, đặc biệt là Chính phủ, đòi hỏi các vị
lãnh đạo phải có một kế hoạch đúng đắn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.
Yêu cấp đối với việc sử dụng nguồn vốn ODA là phải phát huy hiệu quả không chỉ
trong ngắn hạn mà còn phải hữu hiệu trong trung và dài hạn, nghĩa là thế hệ mai sau
phải được hưởng những thành quả do nguồn vốn ODA này mang lại. Điều đó càng
làm cho nguồn vốn ODA càng có giá trị cho các nước đang phát triển – các nước cần
một lượng lớn vốn nhưng thiếu đi nguồn lực này, do việc “tích tụ tư bản” trong nước
còn thấp.
giải quyết để sử dụng nguốn vốn này có hiệu quả hơn trong tương lai. 21
Hình 2.2: Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực (Thời kỳ 1993 – 2008)
VAY THƯƠNG MẠI
Chính phủ vay nợ nước ngoài về cho vay lại
Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
trong thời gian qua Chính phủ đã sử dụng một phần vốn ODA vay nợ nước ngoài để
cho vay lại đối với các dự án, các chương trình đầu tư có khả năng hoàn vốn của các
Bộ, các địa phương. Tỷ lệ cho vay lại chiếm khoảng 45% tổng số vốn vay ODA của
Chính phủ.
Bên cạnh vốn vay ODA, Chính phủ còn cho vay lại bằng khoản vay thương mại
đối với các doanh nghiệp nhằm thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế.
Cho vay lại của Chính phủ được thực hiện chủ yếu thông qua 2 công cụ, Quỹ Hỗ
trợ Phát triển (nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam) và các ngân hàng thương mại.
Một số dự án được thực hiện nhờ hoạt động cho vay lại của Chính phủ là dự án phát
triển ngành công nghiệp đóng tàu của Vinashin (750 triệu USD), dự án nâng cao hiệu
suất ngành điện (hơn 30 triệu USD), dự án tài trợ nông thôn (93,7 triệu USD), điện
Phú Mỹ (71,6 triệu USD) v.v…
Bảo lãnh Chính phủ đối với các khoản vay nước ngoài của các doanh
nghiệp và tổ chức tín dụng
Bảo lãnh Chính phủ đối với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khi vay
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ
Sau một giai đoạn chuẩn bị, ngày 27/10/2005, Chính phủ đã chính thức phát hành
trái phiếu trên thị trường chứng khoán New York với tổng số vốn huy động được là
750 triệu USD, lãi suất 7,125%/năm, thời hạn 10 năm. Đợt phát hành trái phiếu chính
phủ (TPCP) lần đầu tiên ra thị trường vốn quốc tế đã giúp Việt Nam đa dạng hoá
nguồn huy động vốn, thiết lập một “thang chuẩn” để giúp cho các doanh nghiệp và địa
phương huy động vốn sau này.
Trái phiếu quốc tế của Chính phủ đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của các nhà
đầu tư nước ngoài trên khắp thế giới. Trong so 255 nhà đầu tư mua trái phiếu có 51%
là các quỹ đầu tư tài chính, ngân hàng là 25%, các công ty bảo hiểm là 17% và 7% là
các tổ chức đầu tư khác. Số trái phiếu này được phát hành rộng rãi ở châu Á (nắm giữa
38%), châu Âu (32%) và châu Mỹ (30%).
Toàn bộ số tiền huy động được giao cho Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt
Nam (Vinashin - nay là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam) sử dụng để đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh.
23
Việc phát hành trái phiếu quốc tế có thể thực hiện qua 3 hình thức: Chính phủ Việt
Nam phát hành về cho vay lại, Chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp phát hành trái
phiếu doanh nghiệp, doanh nghiệp tự trực tiếp phát hành mà Chính phủ không phải
bảo lãnh. Tuy nhiên, các tập đoàn lớn của Việt Nam được kỳ vọng vẫn chưa hội đủ
điều kiện để phát hành trái phiếu quốc tế. Theo sự chỉ đạo mới nhất của Thủ tướng, Bộ
Tài chính vào thành 9/2007 với thời hạn là 15, 20 năm, Chính phủ Việt Nam đã phát
hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế và cũng là lần thứ hai Chính phủ
vay tiền để các doanh nghiệp nhà nước vay lại. Để có thể đảm bảo uy tín của Việt Nam
trên thị trường vốn quốc tế, cho dù là trái phiếu do Chính phủ phát hành hay do các
doanh nghiệp Việt Nam tự phát hành, nhất thiết không vì một sự thất tín nào trong
khâu trả nợ của bất kỳ tổ chức phát hành nào mà làm cho các nhà đầu tư quốc tế quay
lưng lại với trái phiếu quốc tế của Việt Nam.
Nhìn chung, nợ nước ngoài của Chính phủ gia tăng qua các năm, phần nào đáp
còn thấp.
Các khoản vay nợ này chủ yếu là vay từ các nước XHCN. Việc vay và trả nợ đều
do Nhà nước quản lý và được tiến hành ở trạng thái hàng đổi hàng, với giá cả cố định
24
theo thỏa thuận của các nước thành viên CMEA từ năm 1957. Tất cả các khoản vay
đều là nợ của Chính phủ được cung cấp trên cơ sở các hiệp định và hiệp ước hữu nghị.
Đây là các khoản vay ưu đãi, có lãi suất suất thấp hoặc miễn lãi suất và kỳ hạn từ 20 –
30 năm. Trong đó, viện trợ không hoàn lại chiếm phần lớn trong số vay đó.
Các khoản vay đều được ghi là thu ngân sách nhà nước và là nguồn vốn cơ bản
dành cho đầu tư phát triển kinh tế và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra các khoản
vay này còn được sử dụng với mục đích tiêu dùng.
Việc quản lý và sử dụng vay nước ngoài được quy định theo các quy chế về phân
bổ Ngân sách Nhà nước cho các mục tiêu cụ thể. Một số cơ sở hạ tầng quan trọng
được xây dựng để phục vụ cho sự phát triển của sự cải cách kinh tế sau này.
Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam sau năm 1991
Sau năm 1991, khi hệ thống XHCN tan rã ở Liên Xô và Đông Âu, Hội đồng tương
trợ kinh tế (CMEA) không còn nữa, nợ vay hàng năm của Việt Nam giảm, nhưng mức
nợ tồn đọng trước đó tiếp tục sinh lãi, làm cho nợ của Việt Nam ở mức cao từ 23,27 tỷ
USD năm 1990 tăng lên 26,28 tỷ USD năm 1996. Kể từ năm 1997, tổng nợ cũng như
dịch vụ nợ bắt đầu được cải thiện, từ 27% trên giá trị xuất khẩu năm 1989 giảm xuống
còn chưa tới 12% năm 1997, điều này có được nhờ Việt Nam được giảm nợ và bố trí
lại lịch trả nợ theo điều khoản Naples của câu lạc bộ Paris và các điều khoản Toronto
của câu lạc bộ London
9
chứ không phải nỗ lực của Việt Nam. Trong khoảng thời gian
từ năm 1993 - 1997, Việt Nam đã đàm phán song phương với các chủ nợ thành viên
câu lạc bộ Paris, tổng nợ được giảm là 745 triệu USD, tương đương 60% số nợ.
Tháng 5/1996, Việt Nam đã thoả thuận với câu lạc bộ London, một tổ chức gồm
các ngân hàng lớn, kết quả giảm 53% nghĩa vụ theo phương án Brady qua các hình
quá trình thực hiện các dự án. Ngay cả khi viện trợ không hoàn lại cũng có cái giá của
nó, nước tài trợ đòi hỏi người sử dụng phải dùng vốn vào đúng mục đích, đúng nơi,
đúng chỗ. Thêm vào đó, chúng ta chưa xây dựng được một chiến lược vay và trả nợ cụ
thể rõ ràng cho từng khoản vay, do đó việc ban hành các chính sách và cơ chế quản lý
không khỏi lúng túng. Nhiều cấp cùng quản lý một dự án và có khi một nguồn viện trợ
được phân tán ở nhiều ngành, nhiều địa phương ra những chi phí giao dịch không đáng
kể.
Đến năm 2006 tổng dự nớ nước ngoài của Việt Nam bằng 32,5% GDP, giảm so
với các năm truớc đó và chiếm 52,5% tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng gần 2 lần
dự trữ ngoại hối. Năm 2007 tổng nợ ước tính là 32,6% GDP, chiếm 51% tổng kim
ngạch xuất khẩu. Như vậy, các chỉ số này đang nằm trong giới hạn an toàn về nợ cho
phép theo các chỉ tiêu của Bộ Tài chính đề xuất. Trên cơ sở xem xét các chỉ tiêu về nợ
nước ngoài của WB và IMF, đồng thời nghiên cứu tình hình vay nợ của các nước
trong khu vực, Bộ Tài chính đã đưa ra các chỉ tiêu giới hạn an toàn nợ nước ngoài của
Việt Nam là:
Tổng dư nợ nước ngoài/GDP: 50%
Tổng dư nợ nước ngoài/xuất khẩu là 150%
Tổng nghĩa vụ trả nợ trên xuất khẩu là 20%
Tổng nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ/thu ngân sách là 12%
Và theo đánh giá của các chuyên gia thì nợ của Việt Nam hiện nay chưa phải là
nhiều nếu so với một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan…
Tuy nhiên, nếu so với quy mô của nền kinh tế, mức dự trữ ngoại tệ còn quá ít thì tổng
mức nợ nước ngoài của Việt Nam không phải là nhỏ. Hơn nữa nợ nước ngoài cũng đã
tích tụ một khối lượng đáng kể nợ đến hạn phải trả hàng năm. Năm 2003 chúng ta phải
trả cả gốc và lãi là 1,63 tỷ USD và tăng lên 1,95 tỷ USD vào năm 2006, trong khi đó
khả năng thanh toán nợ của nền kinh tế nói chung và của ngân sách nhà nước nói riêng
là rất khó khăn.
Hình 2.4: Cơ cấu dư nợ nước ngoài của Chính phủ
(Tính đến ngày 31/12/2007)