I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN VN IU
Quyền và nghĩa vụ của ng-ời chấp hành hình phạt tù:
một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn bụ hng dn khoa hc: TS. HONG VN HNG
2
HÀ NỘI - 2014
1.1.2. Khái niệm phạm nhân 9
1.1.3. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của phạm nhân 11
1.2. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA PHẠM NHÂN 27
1.2.1. Đảng lãnh đạo để bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ của phạm nhân 27
1.2.2. Quan điểm quản lý chặt chẽ kết hợp giáo dục và thực hiện chế độ
chính sách nhằm bảo đảm phạm nhân đƣợc hƣởng quyền lợi và
thực hiện nghĩa vụ 29
1.2.3. Quan điểm pháp chế xã hội chủ nghĩa để bảo đảm và thực hiện
quyền, nghĩa vụ của phạm nhân 30
1.2.4. Quan điểm nhân đạo xã hội chủ nghĩa để bảo đảm và thực hiện
quyền, nghĩa vụ của phạm nhân 31
1.2.5. Một số quy định luật pháp quốc tế có liên quan đến quyền và
nghĩa vụ của ngƣời chấp hành án phạt tù 33
1.2.6. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc và chính sách, pháp luật của
Việt Nam về quyền, nghĩa vụ của phạm nhân 38
Kết luận chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN, NGHĨA VỤ
CỦA PHẠM NHÂN TẠI CÁC TRẠI GIAM Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 43
2.1. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ PHẠM NHÂN CHẤP HÀNH ÁN Ở CÁC
TRẠI GIAM 43
2.1.1. Số liệu phạm nhân 43
2.1.2. Cơ cấu, thành phần, tính chất phạm tội của phạm nhân trong các
trại giam 44
2.1.3. Đặc điểm nhân khẩu học của phạm nhân ở trại giam 47
2.2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
NGƢỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ 51
2.2.1. Chế độ ăn của phạm nhân 51
DỤC, CẢI TẠO PHẠM NHÂN 84
3.3. XÁC LẬP CƠ CHẾ THANH TRA, KIỂM TRA GIÁM SÁT ĐỂ PHÁT
HIỆN KỊP THỜI, XỬ LÝ NGHIÊM MINH CÁC SAI PHẠM VI PHẠM
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA PHẠM NHÂN 87
3.4. XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT, PHƢƠNG TIỆN, TRANG THIẾT BỊ
VÀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CÁN BỘ
PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC GIAM GIỮ, QUẢN LÝ, GIÁO DỤC
CŨNG NHƢ BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA PHẠM
NHÂN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ Ở TRẠI GIAM 87
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ANQG
CAND
CBCS
CHXHCN
CNXH
ĐCSVN
TTATXH
Tổng cục VIII
VNDCCH
XHCN
An ninh quốc gia
Công an nhân dân
Cán bộ chiến sỹ
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
49
Biểu đồ 2.3:
Khảo sát 1000 phạm nhân về chế độ mặc của
phạm nhân
54
Biểu đồ 2.4:
Khảo sát 1000 phạm nhân về chế độ ở của
phạm nhân
56 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề quyền con ngƣời, giải phóng con ngƣời và bảo vệ quyền con
ngƣời đã đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập:
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó, họ có quyền
được sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc”[55]. Đây là bản Tuyên ngôn Độc
lập của Nƣớc VNDCCH, không chỉ nhằm công bố với thế giới về sự ra đời
của một quốc gia độc lập, có chủ quyền mà còn là một bản tuyên ngôn về
quyền con ngƣời của Việt Nam.
Hiến pháp của Nƣớc VNDCCH các năm 1946, 1959 và CHXHCN
Việt Nam năm 1980, 1992, 2013 đều ghi nhận các nguyên tắc tất cả quyền
lực Nhà nƣớc thuộc về nhân dân, công dân bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ. Phẩm giá con ngƣời, tài sản, bí mật đời tƣ của công dân đƣợc Nhà nƣớc
có một công trình nghiên cứu cơ bản nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về quyền, nghĩa vụ của ngƣời chấp hành hình phạt tù và thực trạng áp
dụng các quyền, nghĩa vụ này trong thực tiễn ở cấp độ Luận văn Thạc sĩ.
Từ thực tiễn tình hình nghiên cứu trên đây, một lần nữa cho phép khẳng
định việc nghiên cứu đề tài: Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành hình
phạt tù: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn là đòi hỏi khách quan, cấp thiết,
vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của ngƣời chấp hành hình phạt tù
trong trại giam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu
quả công tác quản lý, giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân, đồng thời góp
phần hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự nói chung, pháp luật thi hành
hình phạt tù nói riêng.
- Luận văn đặt ra và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau: 3
a. Nghiên cứu cơ sở lý luận quyền và nghĩa vụ của ngƣời đang chấp
hành hình phạt tù tại các trại giam thuộc Bộ Công an.
b. Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của
ngƣời đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam thuộc Bộ Công an.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là quyền và nghĩa vụ của ngƣời
đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Phạm vi không gian: Thực hiện quyền và nghĩa vụ của phạm nhân đang
chấp hành hình phạt tù tại các trại giam thuộc Bộ Công an.
Phạm vi thời gian: Thực hiện quyền và nghĩa vụ của phạm nhân đang chấp
hành hình phạt tù tại các trại giam thuộc Bộ Công an từ năm 2010 đến 2013.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
các trại giam ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2. Thực trạng thực hiện quyền, nghĩa vụ của phạm nhân tại các
trại giam ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3. Một số giải pháp tiếp tục bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa
vụ của phạm nhân tại trại giam ở Việt Nam.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA
PHẠM NHÂN TẠI CÁC TRẠI GIAM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm trại giam
Thi hành án phạt tù là buộc ngƣời bị kết án tù có thời hạn, tù chung
thân chấp hành hình phạt tại trại giam nhằm giáo dục họ trở thành ngƣời có
ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống
XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Tại khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án
hình sự nêu rõ: “Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền
theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giam giữ,
giáo dục, cải tạo để họ trở thành có ích cho xã hội”[45, Khoản 1 Điều 16].
Luật Thi hành án hình sự: “Trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù”.[45]
Trại giam là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ chế độ và
chính quyền cách mạng, bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH, trại giam Việt
Nam có lịch sử ra đời và phát triển gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng của
dân tộc, với những thành tích to lớn trên lĩnh vực phòng chống tội phạm.
Cùng với việc xuất hiện của Nhà nƣớc VNDCCH, trại giam Việt Nam ra đời
và đã thể hiện rõ vị trí và bản chất của mình là một công cụ quan trọng để bảo
khỏi nơi giam giữ là quan trọng và cần thiết nhằm mục đích giáo dục cải tạo
và trả về cho xã hội những con ngƣời hoàn lƣơng. Việc phân trại giam làm 3
loại đã có tác dụng phân hoá tội phạm triệt để, từ đó áp dụng các biện pháp
quản lý, giam giữ, giáo dục phù hợp. Tuy nhiên qua 14 năm thi hành Pháp
lệnh thấy việc phân trại giam làm 3 loại không phù hợp với điều kiện địa lý
trải dài của nƣớc ta và việc phân bố trại giam không đều giữa các vùng lãnh
thổ đã dẫn đến nhiều bất cập cho cơ quan thi hành án, trong việc điều chuyển, 7
trích xuất phạm nhân, việc thăm gặp của thân nhân phạm nhân gặp rất nhiều
khó khăn, tốn kém do chi phí đi lại. Để giải quyết vấn đề trên, Pháp lệnh sửa
đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù đã sửa đổi xoá bỏ
không còn trại giam loại I, trại giam loại II, trại giam loại III mà chỉ còn một
mô hình trại giam, đến Luật Thi hành án hình sự tiếp tục khẳng định trại
giam có khu giam giữ đối với ngƣời bị kết án tù trên 15 năm, tù chung thân,
ngƣời bị kết án tù thuộc loại tái phạm nguy hiểm và khu giam giữ đối với
ngƣời bị kết án tù từ 15 năm trở xuống. Với mô hình trại giam nhƣ trên đã
giải quyết đƣợc nhiều vấn đề bấp cập đối với công tác tổ chức thi hành án
phạt tù hiện nay và đảm bảo tốt quyền của phạm nhân, đặc biệt là tạo thuận
lợi thăm gặp thân nhân.
Trong công tác tổ chức thi hành án phạt tù ở trại giam việc giáo dục, cải
tạo phạm nhân phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục văn hoá, pháp luật, phổ
biến thời sự chính sách, giáo dục công dân, dạy nghề kết hợp với việc giáo
dục cải tạo bằng lao động để tạo điều kiện thuận lợi cho phạm nhân mau
chóng hoà nhập với cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
Việc giáo dục cải tạo phạm nhân của các trại giam mang tính xã hội và
nhân văn cao nhƣng đồng thời là việc làm vô cùng khó khăn và phức tạp. Vai
trò của trại giam thể hiện tính hai mặt không thể tách rời, đó là cƣỡng bức
pháp lý và giáo dục cải tạo. Nếu chúng ta chỉ chú trọng biện pháp trừng trị,
của trại giam đƣợc hình thành, củng cố và phát triển và ngày một hoàn thiện.
Trong những giai đoạn đặc biệt của cách mạng, của đất nƣớc, trại giam còn
giam giữ, giáo dục hàng vạn đối tƣợng bị bắt tập trung giáo dục, cải tạo.
Thực hiện chức năng của mình, trại giam không những chỉ trừng trị và
giáo hoá phạm nhân mà còn tiến hành các hoạt động nghiệp vụ nhằm phát
hiện ngăn chặn kịp thời tội phạm, góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm bảo vệ ANQG và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. 9
Trại giam Việt Nam có quá trình hình thành và tồn tại rất đặc thù. Nó
gắn liền với lịch sử các giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam. Trại giam là
cơ quan thi hành hình phạt tù không chỉ là công cụ thực hiện sự cƣỡng chế
của Nhà nƣớc đối với những ngƣời bị Toà án phạt tù có thời hạn, tù chung
thân nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành ngƣời lƣơng thiện, mà trại giam còn
phải là công cụ quan trọng của Nhà nƣớc, của xã hội để thiết lập bảo vệ, xây
dựng trật tự xã hội mới, XHCN.
1.1.2. Khái niệm phạm nhân
Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung
thân (Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự).
Một con ngƣời đƣợc coi là phạm nhân khi họ phạm tội bị kết án phạt tù
và đƣợc đƣa đến trại giam để chấp hành bản án, đồng thời với việc trở thành
phạm nhân họ có một địa vị pháp lý hoàn toàn khác với các công dân bình
thƣờng ngoài xã hội. Phạm nhân bị tƣớc hoặc bị hạn chế một số quyền tự do
cơ bản nhƣ: hội họp, biểu tình, tự do cƣ trú, đi lại, bầu cử, ứng cử. v.v
nhƣng không có nghĩa là đã mất quyền công dân. Họ còn các quyền và nghĩa
vụ chủ yếu nhƣ: lao động, học tập, bảo vệ sức khoẻ, bất khả xâm phạm về
thân thể, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, khiếu nại, tố cáo v.v
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ƣơng (khóa VII) tại Hội
nghị giữa nhiệm kỳ (do đồng chí Tổng bí thƣ Đỗ Mƣời trình bày) có ghi:
các công dân có vị trí pháp lý đặc biệt. Chính vị trí này là cơ sở để các cơ
quan thi hành án phạt tù áp dụng các biện pháp cƣỡng chế và giáo dục đặc thù
đối với họ, nhằm mục đích giáo dục họ trở thành ngƣời lƣơng thiện. Việc họ
bị giam giữ trong trại giam không có nghĩa chỉ là để trừng phạt, bảo đảm an
toàn cho xã hội mà mục đích chủ yếu là giáo dục họ trở thành ngƣời lƣơng
thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc
sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội. 11
1.1.3. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của phạm nhân
Quyền là khả năng của mỗi công dân đƣợc tự do lựa chọn và hành
động, khả năng đó đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng quyền
lực Nhà nƣớc. Nghĩa vụ là sự tất yếu phải hành động của mỗi công dân bởi lợi
ích của toàn thể Nhà nƣớc và xã hội. Sự tất yếu đó đƣợc quy định trong Hiến
pháp, pháp luật và đƣợc bảo đảm bằng mọi biện pháp kể cả biện pháp cƣỡng
chế. Khi nói đến quyền thƣờng gắn liền với nghĩa vụ. Chính điều đó tạo nên
địa vị pháp lý của công dân trong một chế độ Nhà nƣớc.
Trong thực tiễn công tác tổ chức thi hành hình phạt tù, việc hiểu rõ
ngƣời đang chấp hành hình phạt tù có những quyền gì, những quyền gì của
công dân họ bị tƣớc bỏ hoặc bị hạn chế và nghĩa vụ thế nào có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng đối với cơ quan thi hành án. Điều quan trọng đƣợc thể hiện ở chỗ,
nó không chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức, mà còn thể hiện trong việc vận
dụng các quy định của pháp luật trong công tác quản lý, giáo dục ngƣời phạm
tội hƣớng tới mục đích trả về cho xã hội những con ngƣời hoàn lƣơng. Đồng
thời trên cơ sở đó tiến hành các biện pháp quản lý, giáo dục, ngăn chặn và xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Ở nƣớc ta cũng nhƣ một số nƣớc trên thế giới, không có văn bản quy
phạm pháp luật nào quy định đầy đủ hết quyền và nghĩa vụ của ngƣời đang
chấp hành hình phạt tù, mà quyền và nghĩa vụ của họ đƣợc quy định ở nhiều
phạm về thân thể của phạm nhân đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam và
đƣợc cụ thể trong nhiều văn bản luật, đặc biệt là trong Luật Thi hành án hình
sự và Nghị định quy định về tổ chức quản lý phạm nhân…
Hiến pháp Việt Nam quy định mọi ngƣời dân đầu có quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, đƣợc pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh
dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án
nhân dân hoặc Viện kiểm sát nhân dân, trừ trƣờng hợp phạm tội quả tang. 13
Việc bắt giam giữ ngƣời phải đúng pháp luật. Mọi hình thức truy bức, nhục
hình, đối xử vô nhân đạo, xúc phạm danh dự nhân phẩm của ngƣời dân đều
bị nghiêm cấm.
Quyền sống là quyền trƣớc tiên và quan trọng của con ngƣời. Mọi hành
vi xâm phạm quyền sống của con ngƣời bị coi là phạm tội và bị nghiêm trị
theo quy định của pháp luật. Nhà nƣớc Việt Nam đặc biệt ƣu tiên và có những
nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền sống cho mọi ngƣời dân kể cả những
ngƣời phạm tội, phạm nhân đang chấp hành hình phạt tại các trại giam. Bộ
luật Hình sự có những điều, khoản nghiêm cấm tra tấn, dùng nhục hình nhƣ:
Điều 107. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác trong khi thi hành công vụ: Người nào trong khi thi
hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho
phép gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên, thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm…[36]
Điều 110. Tội hành hạ người khác: Người nào đối xử tàn ác
với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam
giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm…[36]
Điều 298. Tội dùng nhục hình: Người nào dùng nhục hình
trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì bị phạt tù
dép, 01 mũ hoặc nón, 01 áo mƣa nilông; 03 bàn chải đánh răng; 600 g kem
đánh răng loại thông thƣờng. Mỗi tháng phạm nhân đƣợc cấp 0,3 kg xà
phòng giặt, phạm nhân nữ đƣợc cấp thêm đồ dùng vệ sinh cá nhân cần thiết
có giá trị tƣơng đƣơng 02 kg gạo tẻ thƣờng. 04 năm phạm nhân đƣợc cấp 01
màn, 01 chăn; đối với phạm nhân ở các trại giam từ thành phố Đà Nẵng trở
vào đƣợc phát chăn sợi; từ tỉnh Thừa Thiên Huế trở ra đƣợc phát chăn bông
không quá 02 kg và 01 áo ấm dùng trong 03 năm. Phạm nhân tham gia lao 15
động mỗi năm đƣợc phát 02 bộ quần áo bảo hộ lao động và dụng cụ bảo hộ
lao động cần thiết khác.
Quyền ở, sinh hoạt và phòng, chữa bệnh
Phạm nhân ở theo buồng tập thể, chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân
là 2m
2
, có bệ gạch men, ván sàn hay giƣờng. Ngoài ra, pháp luật cũng quy
định những quyền ƣu đãi hơn dành cho phạm nhân nữ, phạm nhân là ngƣời
chƣa thành niên: chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là ngƣời chƣa thành
niên là 03m
2
, có ván sàn hoặc giƣờng. Điều 27 Luật thi hành án hình sự quy
định: Ngƣời đang chấp hành hình phạt tù là ngƣời chƣa thành niên, hoặc là nữ
đƣợc giam giữ ở khu vực riêng trong trại giam theo chế độ quản lý, giáo dục,
lao động, học tập và sinh hoạt phù hợp với giới tính, lứa tuổi.
Trong thời gian chấp hành hình phạt tù, phạm nhân đƣợc hoạt động thể
dục thể thao, văn hoá, văn nghệ phù hợp với quy định của trại giam. Phạm
nhân đƣợc đọc sách, báo, đƣợc nghe đài và đƣợc xem truyền hình. Phạm nhân
đƣợc hƣởng chế độ phòng, chống dịch bệnh và khám sức khỏe định kỳ, đƣợc
lập sổ y bạ hoặc phiếu khám sức khoẻ để theo dõi, bảo vệ sức khoẻ trong thời
Ngoài các quy định của pháp luật, trong những năm gần đây, vấn đề
đảm bảo quyền lao động của phạm nhân đã đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và Bộ
Công an rất quan tâm, chỉ đạo thực hiện.
Đối với sản xuất của các trại giam phải quy hoạch cho phù
hợp với nhiệm vụ quản lý, giam giữ và lao động cải tạo phạm
nhân. Cho phép huy động lao động phạm nhân về sử dụng cơ sở
vật chất hiện có làm ra sản phẩm để vừa giúp cho phạm nhân lao
động sản xuất góp phần cải thiện đời sống tinh thần và vật chất,
vừa giúp cho họ thông qua lao động sản xuất để cải tạo thành
người có ích cho xã hội. 17
Nhà nước cần có chính sách ưu đãi đối với hoạt động sản
xuất các trại giam, có quy định để các trại giam được đầu tư vốn,
kỹ thuật, công nghệ và miễn giảm thuế phù hợp với hoạt động của
mỗi trại… [2]
Trên thực tế việc tổ chức lao động cho phạm nhân vừa bảo đảm quyền
lao động hợp pháp của họ, vừa là phƣơng tiện quản lý, giáo dục để cải tạo họ
trở thành ngƣời lƣơng thiện, có ích cho xã hội. Đồng thời thông qua lao động
giúp phạm nhân thấy đƣợc trách nhiệm cần phải lao động, giá trị của lao động
và quen với lao động. Ngoài ra, nhờ có lao động, đời sống vật chất của phạm
nhân đƣợc cải thiện, tình trạng ốm đau, suy kiệt không còn, từ đó tạo ra môi
trƣờng tốt, lành mạnh, phạm nhân yên tâm cải tạo. Đây là một trong những
chính sách rất ƣu việt của Đảng, Nhà nƣớc ta đối với ngƣời phạm tội. Điều
này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tái hoà nhập cộng đồng của phạm nhân
sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
Quyền được học tập
Trong thời gian chấp hành hình phạt tù, phạm nhân đƣợc học tập, Điều
28 Luật Thi hành án hình sự: Phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công