Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn - Pdf 28

Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 1 - NguyÔn ThÞ HËu
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây tình hình tội phạm nước ta đang có chiều
hướng gia tăng và có nhiều diễn biến phức tạp. Phổ biến hiện nay là những vụ
án nghiêm trọng có nhiều bị cáo tham gia, nhất là trong các vụ án tham nhũng
xảy ra gần đây đang được dư luận xã hội quan tâm theo dõi, lên án. Trong đồng
phạm, mỗi bị cáo khi thực hiện tội phạm có thể có vai trò khác nhau. Sự liên
kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người cùng phạm tội càng củng cố quyết tâm
phạm tội của cả bọn. Điều đó giúp chúng ta nhận ra sự nguy hiểm của loại tội
phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm. Chính vì vậy, việc đấu tranh
phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm duới hình thức đồng phạm nói
riêng là việc làm cấp bách luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cao và
chú trọng. Đó là lí do để tác giả khoá luận chọn và nghiên cứu đề tài:
Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm. Một số vấn đề lí
luận và thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Mục đích của đề tài là tập trung nghiên cứu bản chất, tính chất và mức
độ nguy hiểm của đồng phạm; tính chất và hành vi của từng loại người đồng
phạm; từ đó, xác định trách nhiệm hình sự (TNHS) cụ thể cho họ.
Việc nghiên cứu vấn đề đồng phạm có ý nghĩa lí luận và thực tiễn cơ bản
sau đây:
Về lí luận, nghiên cứu đồng phạm giúp chúng ta xác định chính xác cơ sở
pháp lý của đồng phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy cứu TNHS của
người đồng phạm.
Nghiên cứu vấn đề đồng phạm có ý nghĩa đặc biệt lớn trong công tác đấu
tranh, phòng ngừa tội phạm, giúp Tòa án xét xử đúng người, đúng tội và đúng
pháp luật, không bỏ lọt tội phạm. Việc xác định TNHS cho từng người đồng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 2 - NguyÔn ThÞ HËu
phạm còn giúp cho cơ quan tư pháp xác định đúng tội danh và hình phạt tương
ứng trong vụ án có nhiều người tham gia.

Hai hay nhiu ngi c ý cựng thc hin mt ti phm l ng phm [8,
tr.14]. Theo iu 33 B lut hỡnh s ca Liờn Bang Nga cng cú quy nh:
Hai hay nhiu ngi cựng c ý thc hin mt ti c ý l ng phm [8,
tr.58]. Phỏp lut hỡnh s ca cỏc nc trờn th gii cú nhng quy nh rt a
dng v ng phm. Nhng iu m chỳng ta quan tõm hn c ú chớnh l
nhng quy nh trong phỏp lut hỡnh s Vit Nam v trng hp nhiu ngi
cựng tham gia v ng phm.
Trờn lónh th ca Nh nc Vit Nam trc õy, trong thi k phong
kin, cng ó cú cỏc quy nh s khai v ng phm. Lut hỡnh s phong kin
c hỡnh thnh v phỏt trin trờn c s ca nhiu ch nh khỏc nhau, thỡ vn
ng phm ó bc u c cp ti. B Quc triu hỡnh lut nm
1483 di triu nh Lờ ó xut hin nhng quy nh v vn nhiu ngi cựng
phm ti. Mc dự cha a ra nh ngha v ng phm nhng B lut ó cú
nhng quy nh v TNHS cho nhng ngi tham gia phm ti. iu 454 quy
nh: Nhng k ng mu vi nhau i n cp nhng khi i thỡ li khụng i,
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 4 - NguyÔn ThÞ HËu
người đi lấy được của về chia nhau, mà kẻ đồng mưu ở nhà cũng lấy phần, thì xử
tội như là có đi ăn cướp (ăn trộm cũng vậy) nếu không lấy được phần chia thì xử
lưu đi châu gần. Trước kia vẫn từng đi ăn cướp mà khi ấy không đi, dù không lấy
phần cũng xử tội như đi ăn cướp”. Hoặc Điều 539 quy định: “Những kẻ xúi
giục cho người ta không biết là phạm pháp, hay là biết phép mà cứ xúi giục họ
làm trái phép, cũng là để cho người ta phạm pháp rồi bất ngờ tố cáo hay là để
người khác bắt, hay tố cáo, chủ ý để lấy thưởng hay hiềm khích mà xúi giục để
cho người ta phạm tội, thì cũng bị xử như người phạm pháp”. Việc ghi nhận
TNHS đối với “kẻ đồng mưu” hay “người xúi giục người khác phạm pháp”
trong hai Điều luật trên cho thấy chế định đồng phạm đã được đề cập đến trong
luật hình sự phong kiến Việt Nam. Bộ “Quốc triều hình luật” thể hiện đường lối
xử lý của Nhà nước phong kiến dưới triều Lê, Điều 35 quy định: “Nhiều người
cùng phạm một tội, thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm
một bậc. Nếu tất cả những người trong nhà cùng phạm một tội, chỉ bắt người tôn

chính thức được sử dụng, Khoản 1 Điều 17 nêu rõ: “ Hai hoặc nhiều người cố ý
cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm” [ 2, tr.22]. Khái niệm này đã thay
thế hoàn toàn khái niệm “ cộng phạm” vẫn được sử dụng trước đây. Đến năm
1999 BLHS mới ra đời, một lần nữa chế định đồng phạm được khẳng định kế
thừa và phát triển. Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Đồng phạm là trường
hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” [3, tr.24]. Từ những
quy định trên đây, chúng ta có thể nhận ra điểm tương đồng so với khái niệm
đồng phạm đã được quy định trong BLHS năm 1985.
Như vậy quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đã cho chúng ta khái niệm đầy đủ
và thống nhất về đồng phạm. Ta biết rằng đồng phạm là trường hợp có hai
người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm. Hay nói cách khác, khi một tội
phạm được thực hiện bởi ít nhất là hai chủ thể và hai chủ thể đó thoả mãn dấu
hiệu “cùng cố ý” thì trường hợp đó tội phạm được coi là đồng phạm. Để hiểu rõ
hơn bản chất của vấn đề đồng phạm chúng ta tiếp tục nghiên cứu mặt chủ quan
và mặt khách quan thuộc dấu hiệu pháp lý cơ bản của đồng phạm.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 6 - NguyÔn ThÞ HËu
1.2. Dấu hiệu pháp lý của đồng phạm
1.2.1. Mặt khách quan của đồng phạm
Để xác định bản chất của đồng phạm, ta cần nghiên cứu dấu hiệu về mặt
khách quan. So với trường hợp phạm tội đơn lẻ thì tội phạm khi được thực hiện
bằng hình thức đồng phạm luôn có những dấu hiệu bắt buộc và cơ bản sau đây:
a. Dấu hiệu thứ nhất thuộc mặt khách quan của đồng phạm đòi hỏi phải
có ít nhất hai người có đủ điều kiện chủ thể tham gia thực hiện tội phạm.
Yếu tố chủ thể tham gia thực hiện tội phạm là cơ sở quyết định tính chất
của tội phạm. Thực tế cho thấy, một tội phạm được thực hiện chỉ do một người
thực hiện nhưng cũng có thể nó là kết quả của sự liên kết, phối hợp giữa nhiều
chủ thể khác nhau. Sự tham gia của nhiều người vào việc gây án đã làm cho tội
phạm có sự thay đổi về chất và có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn hẳn
trường hợp phạm tội riêng lẻ. Khi tội phạm có nhiều người cùng tham gia thì
những người phạm tội có tâm lý dựa vào sức mạnh tập thể, nên liều lĩnh và táo

12 BLHS năm 1999 quy định:
“ 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng” [3, tr.21].
NLTNHS và độ tuổi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc của chủ thể tội phạm.
Trở lại ví dụ trên, C chỉ là một em bé mới 8 tuổi, bản thân chưa thể nhận thức
được hậu quả có thể xảy ra khi thực hiện hành vi đốt cháy nhà anh B, C không
đủ tuổi chịu TNHS và không thể trở thành chủ thể của tội phạm. Do vậy giữa A
và C không có đồng phạm.
Trong một số trường hợp, chủ thể của tội phạm đòi hỏi phải có thêm một
số dấu hiệu đặc biệt khác vì chỉ khi thỏa mãn những dấu hiệu đó, những người
thực hiện hành vi phạm tội mới được coi là chủ thể của tội phạm.
Ví dụ: Tội hiếp dâm quy định tại Điều 111 BLHS năm 1999 đòi hỏi chủ
thể - người thực hiện phải là nam giới.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 8 - NguyÔn ThÞ HËu
Dấu hiệu này sẽ được phân tích rõ hơn khi đi vào tìm hiểu những vấn đề
liên quan đến TNHS của những người đồng phạm ở phần sau.
b. Dấu hiệu thứ hai thuộc về mặt khách quan của đồng phạm: Những người
đồng phạm phải cùng thực hiện tội phạm.
Để đánh giá chính xác vụ án có đồng phạm không thì cần xem xét những
người tham gia đó có cùng thực hiện một tội phạm hay không?
Dấu hiệu cùng thực hiện một tội phạm có nghĩa là những người tham gia
bằng hành vi của mình đều góp phần thực hiện tội phạm hoặc thúc đẩy việc
thực hiện tội phạm. Cố ý cùng thực hiện tội phạm đòi hỏi mỗi người đồng phạm
phải tham gia vào tội phạm với một hoặc một số hành vi sau: Hành vi thực hiện
tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục thực hiện tội
phạm, hành vi giúp sức thực hiện tội phạm. Tương ứng với bốn loại hành vi này
là bốn loại người đồng phạm, bao gồm: Người tổ chức, người xúi giục, người
giúp sức và người thực hành.

phạm có cấu thành vật chất, hành vi phạm tội phải gây ra hậu quả thì mới được
coi là hoàn thành. Trở lại vụ án trên, ta thấy hành vi trộm cắp tài sản do Ánh,
Thái, Dương và Truyền thực hiện đã hoàn thành.
Đối với tội có cấu thành hình thức, hậu quả tuy không phải là dấu hiệu bắt
buộc của mặt khách quan nhưng việc xác định hậu quả có ý nghĩa quan trọng
trong việc quyết định hình phạt.
Quan hệ nhân quả trong đồng phạm là dạng quan hệ nhân quả kép trực tiếp
(quan hệ nhân quả trong đó có nhiều hành vi trái pháp luật cùng đóng vai trò là
nguyên nhân). Khi tội phạm được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của nhiều
người thì mỗi hành vi trái pháp luật của từng người đồng phạm đều có khả năng
thực tế trực tiếp làm phát sinh hậu quả.
Trong trường hợp hành vi của những người đồng phạm chưa có khả năng
thực tế làm phát sinh hậu quả thì quan hệ nhân quả chỉ hình thành khi có sự kết
hợp các hành vi đó với nhau thành một thể thống nhất.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 10 - NguyÔn ThÞ HËu
Ví dụ: A vì có thù tức với H, nên đã rủ B, C cùng đánh H để “dạy cho H
một bài học”. B và C đồng ý. A, B, C cùng bàn bạc, lập kế hoạch để sớm hành
động. Khi biết H có phiên trực phải về muộn, A, B, C đã chờ sẵn H ở đầu làng.
Khi H vừa bước tới, A lập tức dùng côn đánh mạnh vào chân H, H ngã qụy
xuống, A tiếp tục đánh vào đầu và lưng H. C hai tay giữ chặt H, còn B cầm dao
đâm nhiều nhát vào những vị trí khác nhau trên người H. Kết quả, H chết do vết
thương quá nặng.
Bản thân hành vi của từng người đồng phạm là rất nguy hiểm, nhưng trong
trường hợp này, sự liên kết hành động của A, B, C chính là nguyên nhân trực
tiếp dẫn đến hậu quả chết người đối với H.
Như vậy, khi tìm hiểu dấu hiệu thuộc mặt khách quan của đồng phạm ta
cần phải xác định được những người tham gia thực hiện tội phạm đó có đủ điều
kiện của một chủ thể tội phạm hay không. Và những người đó phải cùng tham
gia, cùng cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của mỗi người có mối liên hệ thống
nhất với nhau, hậu quả của tội phạm phải là kết quả hoạt động chung của tất cả

không thể biết được hành vi cụ thể của những người tham gia phạm tội cùng với
mình. Nhưng có một điều mà những người phạm tội luôn tin tưởng là bên cạnh
chúng còn có những người khác cùng phạm tội. Dù ít hay nhiều bọn chúng đều
có sự liên kết cùng hành động, điều này tạo nên tính nguy hiểm cao của đồng
phạm so với trường hợp phạm tội đơn lẻ.
Nếu một người chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không
biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội như mình thì chưa phải
là cùng cố ý, do vậy chưa có đồng phạm.
Ví dụ: Trên một chuyến tàu Bắc - Nam tình cờ A quen B. Sau một lúc trò
chuyện A biết B cùng xuống một ga với mình nên A đã gửi cho B giữ hộ một
bọc hàng. B vốn là một tên trộm chuyên nghiệp, B đoán trong bọc hàng đó có
thứ rất giá trị, B nhận lời ngay với ý định: Nếu có cơ hội là y sẽ cùng bọc hàng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 12 - NguyÔn ThÞ HËu
bỏ trốn. Gần cuối ga tàu bất ngờ Công an phát hiện B đang giữ bọc hàng trong
đó có chứa 500g Heroin.
Trong trường hợp này A chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội là
vận chuyển ma tuý, còn hành vi của B là định trộm cắp tài sản. Giữa A và B
không có sự cố ý cùng phạm tội, do vậy A và B không đồng phạm với nhau.
Mặt khác, mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho
xã hội do hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ thực
hiện, và mục đích mà họ cùng mong muốn đạt được là thực hiện được kế hoạch
vạch ra.
• Về ý chí
Những người đồng phạm mong muốn có hoạt động chung và cùng mong
muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Trở lại định nghĩa
được quy định tại Khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999: “Đồng phạm là trường
hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Ở đây luật hình sự
chỉ đưa ra giới hạn “cùng cố ý”, tức lỗi của họ đều phải là lỗi cố ý chứ điều luật
không yêu cầu họ cùng có lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp [19, tr.29]. Do
đó, điều mà chúng ta quan tâm khi tìm hiểu dấu hiệu ý chí trong đồng phạm là

người phạm tội có mục đích chống lại hoặc làm suy yếu chính quyền nhân dân.
Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt tội xâm phạm an ninh quốc gia với những
tội khác có dấu hiệu của mặt khách quan tương tự.
Nếu không thoả mãn dấu hiệu cùng mục đích sẽ không có đồng phạm,
trong trường hợp này những người tham gia sẽ chịu TNHS độc lập với nhau.
Ví dụ: B là nhà báo, A là cấp trên của B, A thường xuyên giao cho B
nhiệm vụ thu thập những tin tức liên quan đến hoạt động tôn giáo tại miền Nam,
A đã sử dụng những tin tức mà B đã thu thập được để cung cấp cho một tổ chức
phản động ở nước ngoài với mục đích chống chính quyền nhân dân.
Giữa A và B không có đồng phạm về tội chống chính quyền nhân dân mà
chỉ A mới phải chịu TNHS độc lập về tội gián điệp theo Điều 80 BLHS. Hành
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 14 - NguyÔn ThÞ HËu
vi của B tuy có tạo điều kiện thuận lợi cho việc phạm tội của A nhưng do A và
B không có sự thống nhất ý chí nên không được coi là đồng phạm tội gián điệp
Xuất phát từ quy định của BLHS về đồng phạm và thực tiễn phạm tội
dưới hình thức này chúng tôi thấy được rằng: Đồng phạm là một dạng đặc biệt
của tội phạm, được thực hiện bởi nhiều người, biểu hiện ở mặt khách quan là sự
liên kết hành vi phạm tội của những người đồng phạm trong việc thực hiên tội
phạm, biểu hiện ở mặt chủ quan là sự cố ý cùng phạm tội của họ.
Để nhận thức về đồng phạm một cách toàn diện, chúng ta cùng nghiên
cứu nội dung các hình thức của đồng phạm.
1.3. Các hình thức đồng phạm
Để xác định một tội phạm có phải là đồng phạm hay không chúng ta có
thể dựa vào dấu hiệu thuộc mặt chủ quan và mặt khách quan của tội phạm đó.
Khoa học luật hình sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự
từ trước đến nay cũng dựa vào dấu hiệu này để phân loại các hình thức đồng
phạm.
1.3.1. Phân loại theo dấu hiệu chủ quan
Căn cứ vào đặc điểm về mặt chủ quan thì đồng phạm được phân loại
thành: Đồng phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu

một số vật dụng khác.
Ở hình thức đồng phạm này những người đồng phạm đã ít nhiều có sự
bàn bạc và phân công vai trò nên họ có quan hệ phạm tội chặt chẽ hơn. Loại
đồng phạm này có tính chất nguy hiểm hơn loại đồng phạm không có thông
mưu trước.
1.3.2 Phân loại theo dấu hiệu khách quan
Dựa vào những đặc điểm về mặt khách quan có thể chia đồng phạm thành
hai loại là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 16 - NguyÔn ThÞ HËu
a. Đồng phạm giản đơn
“Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm trong đó những người
cùng tham gia vào vụ phạm tội đều có vai trò là người thực hành” [10, tr.142].
Đây là trường hợp trong đó những người đồng phạm đều tham gia thực
hiện hành vi phạm tội được mô tả trong CTTP, tức là mỗi người bằng chính
hành vi của mình đều trực tiếp thực hiện hoặc góp phần thực hiện tội phạm. Ở
hình thức đồng phạm này sự cố ý cùng cấu kết của những người phạm tội không
đáng kể và chỉ hạn chế ở chỗ mỗi người đồng phạm chỉ biết về hoạt động phạm
tội của một hoặc nhiều người khác tại thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm hay
trong quá trình thực hiện tội phạm.
Ví dụ: Khoảng 19 giờ 30 phút , Nguyễn Văn A dùng một kìm sắt và một
con dao nhỏ trèo lên cây cột điện tại xã X, nơi có dây truyền thanh chạy qua.
Lúc đang cắt dây thấy Phan Văn B đi qua, Nguyễn Văn A rủ Phan Văn B làm
cùng, B đồng ý. Tại đây, A và B thay nhau trèo lên sáu cột điện có hai dường
dây bắc qua, dùng kìm cắt được dây trong năm khoảng, mỗi khoảng được 50m .
Tổng cộng chúng cắt được 500m, sau đó chúng dùng dao bóc vỏ nhựa để lấy lõi
đồng bên trong.
Về mặt chủ quan, đồng phạm giản đơn thường không có sự phân công vai
trò cụ thể (như người tổ chức, xúi giục, giúp sức hay người thực hành), mà về
cơ bản họ có một vai trò là những người cùng hành động. Trong trường hợp
trên, cả A và B đều thực hiện hành vi đã được mô tả trong CTTP tội “trộm cắp

1.3.3 Phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm đặc biệt mà định nghĩa pháp
lý của nó đã được các nhà làm luật nước ta ghi nhận trong pháp luật hình sự
hiện hành tại Khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999: “ Phạm tội có tổ chức là
trường hợp đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện
tội phạm ” [3, tr.24].
Trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người đồng phạm vừa có sự
liên kết chặt chẽ với nhau vừa có sự phân hoá vai trò, phân công nhiệm vụ
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 18 - NguyÔn ThÞ HËu
tương đối rõ rệt, cụ thể. Chúng ta có thể xác định đồng phạm có tổ chức dựa vào
các đặc điểm của nó như sau:
- Nhóm tội phạm được hình thành với phương hướng hoạt động có tính
lâu dài bền vững, thể hiện ở sự ổn định thường xuyên của chúng. Trong nhóm
tội phạm có tổ chức, sự gia nhập của các thành viên mới là rất hãn hữu do các
thành viên trong nhóm sợ bị lộ, tan vỡ. Nhóm tội phạm luôn tồn tại kỷ luật chặt
chẽ, mỗi người đồng phạm đều chịu sự điều khiển chung, thống nhất của người
cầm đầu.
- Có sự phân công thực hiện tội phạm trong nhóm, người thì được phân
công thực hiện hành vi chuẩn bị như: theo dõi quy luật hoạt động của đối tượng,
đề xuất phương án hành động và che dấu tội phạm, người thì bảo quản, thu giữ,
vận chuyển, tiêu thụ tài sản chiếm đoạt được. Mỗi tên đều hiểu rõ trách nhiệm
của mình, do đó chúng hành động có tổ chức và chặt chẽ.
Với đặc điểm như vậy, đồng phạm có tổ chức có nhiều khả năng cho
phép phạm tội liên tục, nhiều lần, gây ra những hậu quả lớn, rất lớn hoặc đặc
biệt lớn.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp - 19 - NguyÔn ThÞ HËu
Chương 2
Tr¸ch nhiÖm h×nh sù
cña nh÷ng ngêi ®ång ph¹m
2.1. Khái niện chung về trách nhiệm hình sự

chịu TNHS nếu hành vi của họ có đủ những dấu hiệu CTTP. Hay nói cách khác,
nếu CTTP là điều kiện cần của TNHS thì hành vi phạm tội là điều kiện đủ, vì
khi hành vi đã thoả mãn tất cả những dấu hiệu của CTTP thì đã có đầy đủ cơ sở
để có thể buộc người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu TNHS mà không đòi
hỏi gì thêm.
Hành vi phạm tội rất đa dạng, có thể là hành vi chuẩn bị thực hiện tội
phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm hay “tổ chức, giúp sức”
người khác thực hiện tội phạm. Những hành vi này theo quy định của BLHS có
thể phải chịu TNHS, phải nói là có thể bởi vì hành vi đó nhất thiết phải thoả
mãn được dấu hiệu được quy định trong CTTP. Cũng không loại trừ trường hợp
hành vi của một số người được quy định trong CTTP, nhưng đối với những
người này họ vẫn không phải chịu TNHS vì họ có một số đặc điểm đặc biệt nào
đó nên được miễn hoặc được loại trừ TNHS. Vì thế, không ai phải chịu TNHS
nếu hành vi mà người đó thực hiện không được BLHS quy định là tội phạm.
Như vậy cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi (cơ sở thực tế) thoả
mãn các dấu hiệu của CTTP (cơ sở pháp lý) được BLHS quy định.
2.1.2. Đặc điểm của trách nhiệm hình sự
Đây là vấn đề từ trước đến nay vẫn chưa được nghiên cứu, lý giải về mặt
lý luận trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu
khoa học của PGS.TS Lê Cảm trong cuốn: “Những vấn đề cơ bản trong khoa
học luật hình sự” (Phần chung), trên cơ sở phân tích khoa học về khái niệm
TNHS, dựa vào các quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vấn đề

Trích đoạn Nguyờn tắc cỏ thể húa trỏch nhiệm hỡnh sự của những người đồng phạm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status