1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH TRANG THỦ TỤC TỐ TỤNG
TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2008 3
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH TRANG
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI
PHIÊN TOÀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ. 10
1.1. KHÁI NIỆM THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ
THẨM; VỊ TRÍ, VAI TRÕ, Ý NGHĨA CỦA XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ. 10
1.1.1 KHÁI NIỆM THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH
SỰ SƠ THẨM. 10
1.1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÕ VÀ Ý NGHĨA CỦA XÉT XỬ SƠ THẨM
TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ. 19
1.1.2.1 VỊ TRÍ CỦA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ 19
1.1.2.2 VAI TRÕ, Ý NGHĨA CỦA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH
SỰ . 21
1.2 CÁC NGUYÊN TẮC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ XÉT XỬ VỤ ÁN
HÌNH SỰ. 23
1.2.1 NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ XÉT XỬ CÓ HỘI
THẨM NHÂN DÂN THAM GIA. 24
1.2.2 NGUYÊN TẮC THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM XÉT XỬ
ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT . 24
1.2.3 NGUYÊN TẮC TOÀ ÁN XÉT XỬ TẬP THỂ VÀ QUYẾT
ĐỊNH THEO ĐA SỐ 25
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 44
CHƢƠNG 2:QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003
VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG. 46
2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS NĂM 2003 VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG
TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM. 46
2.1.1 THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TOÀ . 46
2.1.2. THỦ TỤC XÉT HỎI TẠI PHIÊN TOÀ . 49
2.1.2.1 TRÌNH TỰ XÉT HỎI. 50
2.1.2.2 KẾT THÖC XÉT HỎI. 55
2.1.3. THỦ TỤC TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TOÀ. 55
2.1.3.1 CÁC Ý KIẾN PHÁT BIỂU KHI TRANH LUẬN. 56
2.1.3.2. ĐỐI ĐÁP. 58
2.1.3.3 BỊ CÁO NÓI LỜI SAU CÙNG. 59
2.1.3.4. CÁC QUYẾT ĐỊNH TRONG PHẦN TRANH LUẬN. 59
2.1.4. THỦ TỤC NGHỊ ÁN. 61
2.1.5 . TUYÊN ÁN 62
2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS NĂM 2003
VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM. 63 3
2.2.1 CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC. 63
2.2.2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY
ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ
THẨM. 66
2.2.2.1 VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC BẮT ĐẦU
PHIÊN TOÀ. 66
2.2.2.2 VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC XÉT HỎI TẠI
PHIÊN TOÀ. 67
3.2.3.2 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ,
PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA KIỂM SÁT VIÊN. 93
3.2.3.3 PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LUẬT SƢ CẢ VỀ SỐ LƢỢNG,
CHẤT LƢỢNG, NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA LUẬT SƢ TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ. 93
3.2.3.4. ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO SỰ HIỂU BIẾT
TRONG NHÂN DÂN. 94
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 98
PHỤ LỤC 102 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
61 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đều khẳng định
chức năng của Toà án là cơ quan xét xử của nhà nƣớc. Điều 127 Hiến pháp
ảnh hƣởng đến kết quả xét xử.
Một trong những nhiệm vụ của công cuộc cải cách tƣ pháp hiện nay theo
tinh thần của Nghị quyết số 49 ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về
“Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020” đó là phải “Đổi mới việc tổ chức
phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của ngƣời tiến
hành tố tụng và ngƣời tham gia tố tụng theo hƣớng bảo đảm tính công khai,
dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lƣợng tại các phiên toà xét xử, coi đây là
khâu đột phá của hoạt động tƣ pháp”.
Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tƣ pháp và thực trạng
tổ chức, tiến hành phiên toà hình sự, việc nghiên cứu đề tài :” thủ tục tố tụng
tại phiên toà sơ thẩm hình sự” là yêu cầu khách quan, cần thiết cả về phƣơng
diện lý luận cũng nhƣ phƣơng diện thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
của công tác xét xử, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của ngƣời tiến hành tố tụng
cũng nhƣ ngƣời tham gia tố tụng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Toà án nhân dân là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nƣớc ở
nƣớc ta. Do đó, có rất nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả đã quan tâm, nghiên
cứu về vấn đề này. Song các tác giả chủ yếu nghiên cứu dƣới góc độ về thẩm
quyền xét xử của toà án, về vai trò, vị trí của toà án trong bộ máy nhà nƣớc.
Đối với vấn đề về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm, hiện nay
mới chỉ có công trình nghiên cứu cấp bộ của Toà án nhân dân tối cao về “Vấn
đề tổ chức phiên toà và việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng tại
phiên toà”. Công trình này đƣợc hoàn thành vào năm 1999, tức là trƣớc khi
ban hành Bộ luật tố tụng hình sự mới năm 2003, do đó ít nhiều đã không còn
có ý nghĩa thực tiễn. 8
Liên quan đến vấn đề này cũng có một số bài viết bao gồm: “ vai trò của
hội đồng xét xử trong việc tranh tụng tại phiên toà” của Thạc sỹ Đinh Văn Quế
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Đề tài tập trung nghiên cứu về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ
thẩm, thực tiễn áp dụng các quy định đó và các giải pháp nhằm hoàn thiện các
quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm phù hợp
với yêu cầu của thực tiễn.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn đƣợc hoàn thành trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lênin, phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Luận văn đã sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ phƣơng pháp
phân tích tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp đối chiếu, phƣơng
pháp thống kê, phƣơng pháp lý luận kết hợp với thực tiễn….
5. Cái mới về mặt khoa học:
- Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống, tƣơng đối toàn diện về cơ sở lý
luận và thực tiễn của việc thực hiện thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ
thẩm.
- Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc cải cách tƣ pháp hiện nay, đƣa ra
một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực này.
Bố cục của luận văn gồm 03 chƣơng:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thủ tục tố tụng tại phiên
toà xét xử vụ án hình sự.
- Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và thủ tục
tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng. 10
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thủ tục tố tụng
tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN
TOÀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ.
Phiên toà là “ Lần họp để xét xử cuả Toà án”.
Sơ thẩm là “Xét xử một vụ án với tư cách là Toà án ở cấp xử thấp
nhất”.
Hoạt động xét xử sơ thẩm là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tố tụng
hình sự. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nƣớc, xã hội cũng nhƣ quyền
lợi chính đáng của công dân việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua
nhiều giai đoạn khác nhau. Thông thƣờng, xét xử sơ thẩm là bắt buộc đối với
mọi vụ án hình sự. Trên cơ sở Cáo trạng của Viện kiểm sát chuyển sang, Toà
án cấp sơ thẩm lần đầu tiên đƣa vụ án ra xem xét công khai tại phiên toà.
Trong trƣờng hợp có kháng cáo, kháng nghị, vụ án có thể đƣợc đƣa ra xét xử
phúc thẩm và khi có một số điều kiện nhất định, vụ án có thể đƣợc xem xét
theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Dù ở giai đoạn nào thì việc xét xử
cũng phải tuân theo một thủ tục nhất định đã đƣợc quy định trong Bộ luật tố
tụng hình sự.
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đƣợc tiến hành sau khi Toà án nhận đƣợc
bản Cáo trạng và hồ sơ vụ án do Viện Kiểm sát chuyển sang. Pháp luật tố
tụng hình sự thƣờng quy định một khoảng thời gian nhất định cho Toà án
nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị các công việc cần thiết cho việc mở phiên
toà sơ thẩm. Trƣớc hết, Toà án phải xác định vụ án có thuộc thẩm quyền xét
xử của mình hay không. Nếu qua nghiên cứu thấy không thuộc thẩm quyền,
Thẩm phán đƣợc phân công chủ toạ phiên toà sẽ đề nghị Chánh án Toà án
chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền. Trong trƣờng hợp vụ án thuộc thẩm
quyền, Toà án sẽ tiếp tục tiến hành các công việc khác và có thể ra một trong
các quyết định bao gồm quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định 12
tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định đƣa vụ án ra
xét xử.
Quá trình xét xử vụ án hình sự phải có sự tham gia của những ngƣời
những người tham gia tố tụng; kiểm sảt các bản án, quyết định của Toà án
nhân dân theo quy định của pháp luật…”. Nhƣ vậy, có thể thấy bên cạnh
quyền công tố, truy tố ngƣời phạm tội trƣớc Toà án, Kiểm sát viên tham gia
phiên toà còn có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, chấp hành các
thủ tục tố tụng tại phiên toà của ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố
tụng nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của ngƣời tham gia tố tụng cũng nhƣ
đảm bảo cho việc xét xử đƣợc tiến hành đúng pháp luật. Do đó, BLTTHS
năm 2003 quy định kiểm sát viên cùng cấp phải tham gia phiên toà. Nếu vụ
án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì có thể có hai kiểm sát viên cùng
tham gia. Trong trƣờng hợp kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Hội
đồng xét xử hoãn phiên toà và báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Sự có mặt của bị cáo tại phiên toà vừa là nghĩa vụ đồng thời cũng là
quyền. Họ có nghĩa vụ tham gia phiên toà vì họ bị truy cứu trách nhiệm hình
sự. Tuy nhiên, việc họ có mặt tại phiên toà cũng là quyền để họ có thể tự bào
chữa cho mình trƣớc Toà. Vì vậy, Toà án phải triệu tập bị cáo đến phiên toà.
Nếu bị cáo không có mặt tại phiên toà thì chủ toạ phiên toà phải kiểm tra xem
họ đã nhận đƣợc giấy triệu tập hay chƣa?. Trƣờng hợp họ không đƣợc giao
giấy triệu tập hợp lệ và họ có yêu cầu thì Toà án phải hoãn phiên toà. Nếu bị
cáo vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải. Tuy nhiên, Toà án
cũng có thể xử vắng mặt bị cáo trong trƣờng hợp bị cáo trốn tránh và việc truy
nã không có kết quả; bị cáo đang ở nƣớc ngoài và không thể triệu tập đến
phiên toà; bị cáo đã đƣợc giao giấy triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt mà
sự vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử.
Ngƣời bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên toà để làm nhiệm vụ bào
chữa cho bị cáo, giúp đỡ bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà
pháp luật quy định. Sự có mặt của ngƣời bào chữa sẽ đảm bảo tính dân chủ
trong hoạt động xét xử, đảm bảo cho việc tranh tụng công khai trƣớc phiên
toà. Tuy nhiên, sự có mặt của ngƣời bào chữa không phải là bắt buộc đối với
15
đƣợc vấn đề bồi thƣờng thiệt hại và việc bồi thƣờng đó không thể tách thành
vụ án dân sự thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà.
Ngƣời làm chứng phải có mặt tại phiên toà nhằm làm sáng tỏ các tình
tiết của vụ án, bảo đảm cho các chứng cứ đƣợc kiểm tra, xác minh trực tiếp,
công khai. Sự có mặt của ngƣời làm chứng tại phiên toà có vai trò rất quan
trọng bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, nguyên tắc xác
định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, nếu ngƣời làm chứng về những vấn
đề quan trọng vắng mặt thì tuỳ từng trƣờng hợp Hội đồng xét xử quyết định
hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử. Trong thực tế, nếu vắng mặt ngƣời
làm chứng thì Toà án có thể công bố những lời khai của họ tại cơ quan điều
tra nếu lời khai này rõ ràng và Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Ngƣời giám định có nghĩa vụ tham gia phiên toà khi đƣợc Toà án triệu
tập. Nhƣ vậy, sự tham gia phiên toà của ngƣời giám định không phải là bắt
buộc đối với mọi vụ án mà chỉ khi có yêu cầu của Toà án. Thông thƣờng, Toà
án triệu tập ngƣời giám định khi kết luận giám định chƣa rõ ràng cần có sự
giải thích thêm hoặc kết luận giám định mâu thuẫn với các chứng cứ khác có
trong vụ án…Khi Toà án đã triệu tập mà ngƣời giám định vắng mặt thì tuỳ
từng trƣờng hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến
hành xét xử.
Tại phiên toà sơ thẩm, Thẩm phán đƣợc phân công chủ toạ phiên toà có
nhiệm vụ điều khiển việc xét xử tại phiên toà lần lƣợt theo các thủ tục sau: thủ
tục bắt đầu phiên toà, thủ tục xét hỏi tại phiên toà, thủ tục tranh luận tại phiên
toà, thủ tục nghị án và thủ tục tuyên án. Hầu hết các vụ án sự đều phải trải
qua tất cả các thủ tục trên, chỉ trừ một số trƣờng hợp đặc biệt đƣợc áp dụng
thủ tục rút gọn. Kết quả cuối cùng của việc xét xử tại phiên toà là Toà án ra
bản án, quyết định tuyên bị cáo có phạm tội hay không, hình phạt và các biện
pháp tƣ pháp khác đƣợc áp dụng đối với bị cáo. Có thể nói, bản án là văn bản
tố tụng có ý nghĩa chính trị, xã hội pháp lý quan trọng, làm phát sinh hiệu lực
quan đến vụ án và ngƣời đại diện hợp pháp của họ, ngƣời bào chữa có quyền
kháng cáo. Viện kiểm sát cùng cấp hoặc viện kiểm sát cấp trên có quyền
kháng nghị đối với bản án hoặc một phần bản án đó. Trên cơ sở đó, Toà án 17
cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án,
quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chƣa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo
hoặc kháng nghị. Khác với phiên toà sơ thẩm xem xét toàn bộ vụ án, phiên
toà phúc thẩm chỉ xem xét phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị
và chỉ xem xét toàn bộ vụ án nếu xét thấy cần thiết. Do mục đích của cấp xét
xử phúc thẩm là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án sơ thẩm
nên các thành viên của Hội đồng xét xử phải có trình độ chuyên môn cao.
BLTTHS năm 2003 quy định thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm phải
gồm ba thẩm phán, trong trƣờng hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm.
Giống nhƣ phiên toà sơ thẩm sự tham gia của kiểm sát viên cùng cấp là bắt
buộc. Ngƣời bào chữa, ngƣời bảo vệ quyền lợi của đƣơng sự, ngƣời kháng
cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị
đƣợc triệu tập tham gia phiên toà. Nếu họ vắng mặt mà có lý do chính đáng
thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử nhƣng không đƣợc ra bản án,
quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đƣơng sự vắng mặt, trong các trƣờng
hợp khác thì phải hoãn phiên toà. Còn những ngƣời khác nhƣ ngƣời không có
kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, ngƣời làm chứng…sự tham gia
phiên toà của họ do Toà án cấp phúc thẩm quyết định, nếu thấy sự có mặt của
họ là cần thiết. Phiên toà phúc thẩm cũng đƣợc tiến hành nhƣ phiên toà sơ
thẩm tức là cũng bao gồm thủ tục bắt đầu phiên toà, thủ tục xét hỏi tại phiên
toà, thủ tục nghị án, thủ tục tuyên án. Tuy nhiên, ở phần thủ tục bắt đầu phiên
toà, Toà cấp phúc thẩm chỉ kiểm tra căn cƣớc của bị cáo có kháng cáo hoặc bị
kháng cáo, kháng nghị. Trƣớc khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viên không đọc
bản Cáo trạng mà một thành viên Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung
nghị đƣợc triệu tập thì những ngƣời này đƣợc trình bày ý kiến của mình. Đại
diện viện kiểm sát phát biểu kết luận về nội dung kháng nghị và hƣớng giải
quyết vụ án. Cuối cùng, các thành viên Hội đồng Giám đốc thẩm thảo luận về
vụ án và biểu quyết để ra quyết định.
Cũng nhƣ Giám đốc thẩm, tái thẩm là một giai đoạn đặc biệt của tố
tụng hình sự nhằm sửa chữa những sai lầm trong trƣờng hợp bản án hoặc
quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhƣng bị kháng nghị vì có những tình tiết 19
mới đƣợc phát hiện có thể làm thay đổi nội dung của bản án, quyết định mà
Toà án đã không biết đƣợc khi ra bản án, quyết định đó. Việc xét xử theo thủ
tục tái thẩm đƣợc tiến hành tƣơng tự nhƣ thủ tục giám đốc thẩm.
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu, thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự
sơ thẩm là quá trình giải quyết một vụ án theo một trình tự nhất định đƣợc
quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự do Toà án có thẩm quyền sau khi
nghiên cứu hồ sơ vụ án , lần đầu tiên đƣa vụ án hình sự ra xem xét công khai
tại phiên toà nhằm đƣa ra bản án, quyết định xét xử đúng ngƣời, đúng tội.
1.1.2 Vị trí, vai trò và ý nghĩa của xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự.
1.1.2.1 Vị trí của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong tố tụng hình sự
Điều 10 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã ghi nhận:“Mọi người
đều được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công
khai bởi một Toà án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các
quyền và nghĩa vụ của họ“. Khẳng định quyền này, BLTTHS Việt Nam quy
định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết
tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật “. (Điều 9 BLTTHS năm 2003).
Nhƣ đã đề cập ở phần 1.1.1, quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải
trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử và cuối cùng là giai đoạn thi hành án.
* Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố
là một công đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhƣng là một công
đoạn đặc biệt quan trọng. Việc xét xử sơ thẩm chỉ đƣợc tiến hành khi cơ quan
điều tra đã điều tra vụ án, Viện kiểm sát đã truy tố bị can ra trƣớc Toà bằng
một bản Cáo trạng. Trên cơ sở hồ sơ vụ án và quyết định truy tố do Viện kiểm
sát chuyển sang, Toà án lần đầu tiên sẽ nghiên cứu để quyết định có đƣa vụ án
ra xét xử hay không? Nhƣ vậy, vụ án hình sự lần đầu tiên sẽ đƣợc đƣa ra xem
xét công khai tại phiên toà. Tất cả các chứng cứ thu thập đƣợc trong giai đoạn
điều tra cùng với các chứng cứ mới đƣợc đƣa ra tại phiên toà sẽ đƣợc kiểm
tra, xem xét một cách khách quan, toàn diện, trực tiếp, công khai tại phiên toà.
Nếu nhƣ bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, bản cáo trạng của Viện 21
kiểm sát chỉ là những kết luận sơ bộ về vụ án thì bản án của Toà án mới là kết
luận chính thức và công khai về việc bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội
thì bị cáo phạm tội gì , theo quy định tại điều nào, khoản nào của Bộ luật hình
sự và mức hình phạt cụ thể đƣợc áp dụng đối với bị cáo.
Với vị trí là hoạt động trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình
sự, giai đoạn xét xử có mối quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng khác.
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, là cơ sở để
các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo, cụ thể là
cơ sở để cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra, viện kiểm sát ra
quyết định truy tố và có nhƣ vậy, Toà án mới tiến hành xét xử đƣợc vụ án.
Không có các giai đoạn này, Toà án không thể đơn phƣơng đƣa vụ án ra xét
xử đƣợc. Tuy nhiên, các hoạt động trong giai đoạn khởi tố, điều tra chỉ nhằm
thu thập chứng cứ phục vụ cho việc truy tố, xét xử của Toà án. Giai đoạn thi
hành án chỉ có thể đƣợc thực hiện khi Toà án đã ra bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật.
1.1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .
Trong tố tụng hình sự, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò đặc biệt
của Nhà nƣớc đối với ngƣời phạm tội để tránh vi phạm pháp luật. Điều này
giúp nâng cao ý thức pháp luật cuả công dân trong cuộc đấu tranh phòng
chống tội phạm.
Khác với các hình thức xét xử khác, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bắt
buộc đối với bất kỳ vụ án nào. Đây đƣợc coi là bƣớc xét xử lần một của việc
thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Tuy nhiên, không phải vụ án nào cũng
trải qua hai cấp xét xử. Việc xét xử phúc thẩm chỉ đặt ra khi có kháng cáo,
kháng nghị. Do đó, một phiên toà đƣợc tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định, tạo điều kiện để ngƣời tham gia tố tụng đƣợc tranh
luận công khai sẽ là cơ sở để có để có đƣợc bản án, quyết định khách quan,
toàn diện, chính xác. Điều này sẽ tạo đƣợc lòng tin trong nhân dân, làm giảm
tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, bản án sơ thẩm sẽ có
hiệu lực pháp luật góp phần tiết kiệm đƣợc thời gian, tiền bạc của nhà nƣớc