Hoàn thiện thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HỮU TUẤN HOÀN THIỆN THỦ TỤC TỐ TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP HIỆN
NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà nội - 2009
HÀ NỘI – 2009 1
MỤC LỤC
TRANG

Trang phụ bìa LỜI CAM ĐOAN Mục lục
1.2.3.
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa
26
1.2.4.
Thủ tục tranh luận tại phiên tòa
30
1.2.5.
Thủ tục nghị án và tuyên án
39
1.2.6.
Thủ tục giải quyết đối với người vi phạm trật tự phiên tòa
40
1.3.
Thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm ở một số nước trên thế giới
41
1.3.1.
Thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự của Tòa án Hoa Kỳ
41
1.3.2.
Thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự của Tòa án Pháp
43
1.3.3.
Thủ tục tố tụng tại Tòa án của Liên bang Nga
44
1.4.
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
46

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC

76
3.1.
Những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp
và việc hoàn thiện các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự
76
3.2.
Những kiến nghị về việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về
thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu về cải cách
tư pháp hiện nay
78
3.2.1.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng tại phiên tòa
hình sự sơ thẩm
78
3.2.2.
Hoàn thiện các quy định để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị
cáo, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
87
3.3.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp
luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm
92

Kết luận
100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
101
Trang
2.1
Kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự (2003 - 2009)
51 5
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử các vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng trong quá trình
giải quyết một vụ án hình sự. Chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội và quyết

chưa đáp ứng được yêu cầu mới thì việc tuân thủ các thủ tục tại phiên tòa sơ
thẩm vụ án hình sự là một yêu cầu cấp thiết hơn lúc nào hết.
Ngoài ra, tuy BLTTHS năm 2003 đã khắc phục được nhiều hạn chế
trong BLTTHS cũ, trong đó có các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ
thẩm nhưng qua thực tế cũng còn xuất hiện nhiều điểm chưa hợp lý, chưa
thống nhất hoặc không cụ thể dẫn đến việc áp dụng còn nhiều lúng túng, ảnh
hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án.
Trước yêu cầu của thực tế, đảm bảo sự tuân thủ đúng đắn thủ tục tại
phiên tòa sơ thẩm hình sự, đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng trong hoạt động tố
tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm làm oan người vô tội; đảm bảo mọi quyết
định của HĐXX phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;
đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận, tìm ra những điểm bất hợp lý
so với thực tế, từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp
dụng các quy định của BLTTHS và hoàn thiện các quy định về thủ tục phiên
tòa sơ thẩm, tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ
thẩm vụ án hình sự trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay" làm luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở
lý luận và thực tiễn, bản chất, nội dung của thủ tục xét xử tại phiên tòa sơ
thẩm vụ án hình sự, chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong việc áp dụng quy
định của BLTTHS về thủ tục phiên tòa sơ thẩm cũng như những bất hợp lý
của các quy định hiện tại, thông qua đó đề xuất những giải pháp thiết thực,
đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của 7
BLTTHS về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, hướng tới xây
dựng một phiên tòa hình sự thực sự công bằng, dân chủ góp phần thực hiện
quá trình cải cách tư pháp.

của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về pháp luật, về cải cách tư pháp.
Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương
pháp lịch sử; phương pháp khảo sát thực tiễn tại những phiên sơ thẩm vụ án
hình sự
5. Những điểm mới của luận văn
Là công trình đề cập tới thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự,
luận văn có những điểm mới sau:
1- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự, góp
phần nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất của hoạt động của Tòa án khi
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2- Luận văn đánh giá thực trạng áp dụng các quy định trên, chỉ ra
những hạn chế tồn tại trong việc áp dụng các quy định của BLTTHS về thủ
tục phiên tòa sơ thẩm hình sự, làm rõ nguyên nhân của tồn tại đó.
3- Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật; hướng dẫn, giải thích pháp
luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của BLTTHS năm 2003 về thủ tục
phiên tòa sơ thẩm hình sự mà luận văn đưa ra sẽ giúp ích cho Tòa án nâng cao
hiệu quả hoạt động xét xử của mình
4- Đề xuất một số kiến nghị để sửa đổi, bổ sung các quy định của luật
tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục phiên tòa sơ thẩm nhằm đổi mới phiên
tòa hình sự sơ thẩm, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước
ta hiện nay. 9
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:

hiện tập trung cao nhất của cả quá trình giải quyết vụ án hình sự. Qua hoạt
động xét xử, Tòa án - với vai trò nhân danh Nhà nước - mới có thể ra được
bản án phán quyết về một vụ án bất kể đó là vụ án lớn hay nhỏ, bị cáo đưa ra
truy tố được phán quyết có tội hay không có tội…, nhất là trong khi Hiến
pháp năm 1992 (Điều 72) đã quy định rõ: "Không ai bị coi là có tội và phải
chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"
22. Điều này cũng có nghĩa, tội phạm phải bị trừng phạt, người phạm tội
phải chịu các biện pháp cưỡng chế phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm
của tội phạm mà họ đã gây ra.
Ngược lại, nếu không có hoạt động xét xử của tòa án thì cũng không
thể kết tội bất kỳ một con người nào đó. Hoạt động xét xử càng có tầm quan 11
trọng đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp
quyền do dân, vì dân. Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chủ
trương cải cách tư pháp, trong đó lấy Tòa án và hoạt động xét xử của tòa là
trung tâm, được đặc biệt quan tâm.
Chỉ có qua hoạt động xét xử công khai của tòa án, mọi hoạt động của
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án đều được thể hiện một cách
toàn diện, đầy đủ. Tại đây, những người tham gia tố tụng được công khai
tranh tụng, đưa ra lý lẽ để bảo vệ mình hoặc bác bỏ lý lẽ của người khác. Hoạt
động xét xử còn góp phần vào công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp
luật và phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự trị an…
Hoạt động xét xử sơ thẩm là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tố
tụng hình sự. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội cũng như
quyền lợi chính đáng của công dân việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải
qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thông thường, xét xử sơ thẩm là bắt buộc đối
với mọi vụ án hình sự. Trên cơ sở cáo trạng của VKS chuyển sang, Toà án cấp
sơ thẩm lần đầu tiên đưa vụ án ra xem xét công khai tại phiên toà. Trong

hình sự. Phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án hình sự chỉ được tiến hành sau khi
Toà án nhận được bản cáo trạng và hồ sơ vụ án do VKS chuyển sang. Đối
tượng của phiên toà sơ thẩm là cáo trạng của VKS truy tố bị cáo vì họ đã thực
hiện những hành vi có dấu hiệu tội phạm. Toà án sơ thẩm có trách nhiệm xem
xét cáo buộc của VKS có căn cứ và hợp pháp hay không và thể hiện trong
quyết định, bản án của mình. Với phiên toà phúc thẩm, chỉ được tiến hành khi
có kháng nghị của VKS hoặc kháng cáo của các bên đối với bản án sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật. Bản án này chính là đối tượng xem xét của phiên
toà phúc thẩm chứ không phải là cáo trạng như phiên toà sơ thẩm.
Như những nội dung đã nêu trên, có thể khẳng định, xét xử sơ thẩm là
trung tâm của tố tụng hình sự. Vai trò, tầm quan trọng, tính thiêng liêng, tối
thượng… của bản án nói chung và bản án sơ thẩm nói riêng sẽ chỉ được đảm 13
bảo khi hoạt động xét xử phải tuân thủ đúng những thủ tục cụ thể tại phiên tòa
xét xử. Tức là việc xét xử của tòa phải tuân theo những nguyên tắc, trình tự…
nhất định được quy định trong luật tố tụng hình sự. Việc vi phạm bất kỳ một
nguyên tắc hay trình tự quy định nào đều có thể kéo theo những hậu quả đáng
tiếc (như phải xem xét lại bản án theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm hay phải hủy bản án, sửa bản án…) và ảnh hưởng tới việc bảo vệ quyền
lợi của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
1.1.2. Các nguyên tắc chung khi xét xử vụ án hình sự
Như vậy, trước hết, phiên tòa hình sự phải tuân theo những nguyên tắc
mà BLTTHS quy định, trong đó có các "nguyên tắc cơ bản" liên quan đến quá
trình xét xử tại Tòa án, được quy định tại chương II. BLTTHS năm 2003 như:
Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; tôn trọng và bảo vệ
các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân
trước pháp luật; tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; không ai
bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

án, các chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào các
quy định của pháp luật - cụ thể ở đây là bộ luật hình sự và bộ luật tố tụng hình
sự để xác định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội. Không một ai,
một cơ quan nào có quyền can thiệp, yêu cầu HĐXX phải làm trái các quy
định của pháp luật.
Sự độc lập của HĐXX thể hiện ở việc độc lập giữa thẩm phán với hội
thẩm trong việc xét xử và độc lập giữa HĐXX với các cơ quan khác. Các
thành viên của HĐXX độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét,
đánh giá chứng cứ và đưa ra các kết luận của mình không phụ thuộc vào ý
kiến của các thành viên khác. Tất cả các thành viên của HĐXX đều được
tham gia vào toàn bộ các hoạt động tố tụng tại phiên toà được đặt câu hỏi với
bị cáo và người làm chứng để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến việc 15
giải quyết vụ án. Mỗi thành viên của HĐXX có quyền độc lập khi quyết định
các vấn đề trong vụ án. Mặc dù vụ án được giải quyết trên cơ sở biểu quyết đa
số nhưng người có ý kiến khác có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn
bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
Trong quan hệ giữa Toà án các cấp, thẩm phán và hội thẩm xét xử độc
lập không chịu sự chỉ đạo của Toà án cấp trên. Toà án cấp trên hướng dẫn Toà
án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật nhưng không được quyết định
trước hay gợi ý cho Toà án cấp dưới chủ trương xét xử một vụ án cụ thể.
Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 17
BLTTHS)
Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số là một
nguyên tắc dân chủ nhằm huy động được trí tuệ của tập thể, đảm bảo cho việc
xét xử được khách quan, thận trọng, chính xác, tránh độc đoán.
Theo nguyên tắc này, việc xét xử các vụ án ở các cấp Toà án không
phải do một thẩm phán tiến hành mà đều thực hiện theo chế độ Hội đồng.

kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ
án.
Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng để giải quyết vụ án một
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Nguyên tắc này chỉ có thể thực hiện
được khi chủ toạ phiên toà phải làm tốt nhiệm vụ là người điều khiển phiên
toà, là trọng tài công minh, thành viên HĐXX phải có thái độ khách quan, tôn
trọng các chứng cứ, tranh luận mà các bên đưa ra để xem xét và có các quyết
định công minh.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo (Điều 11 BLTTHS)
Quyền bào chữa chỉ là một trong số rất nhiều quyền mà bị cáo được
hưởng khi tham gia phiên toà. Tại phiên toà, bị cáo được sử dụng tất cả các
biện pháp mà pháp luật quy định nhằm đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bị cáo có thể nhờ người khác bào chữa cho
mình. Trong một số trường hợp nhất định, mặc dù bị cáo không tự bào chữa 17
và cũng không nhờ người khác bào chữa thì Toà án phải chỉ định người bào
chữa cho bị cáo.
Ở giai phiên toà sơ thẩm, nguyên tắc bảo đảm bị cáo có quyền đề nghị
thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, được
trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung
hoặc giám định lại, có quyền đề nghị triệu tập thêm người làm chứng hoặc đề
nghị đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét, được tham gia tranh luận tại
phiên toà, trình bày lời bào chữa và đáp lại ý kiến của người khác…
Ngoài những nguyên tắc cơ bản được quy định tại Chương II, BLTTHS,
còn một số nguyên tắc hết sức quan trọng được quy định tại chương XVIII,
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 "Quy định chung về thủ tục tố tụng phiên
tòa". Chính vậy, khi xét xử sơ thẩm cũng phải tuân thủ triệt để những nguyên
tắc này, gồm:

tòa nhưng lại vắng mặt thì HĐXX phải công bố lời khai của họ trong hồ sơ vụ
án. Ngoài ra, các chứng cứ kết tội, gỡ tội cho bị cáo cũng phải công bố công
khai tại phiên tòa.
Có thể nói, việc xét xử bằng lời nói luôn gắn liền với việc xét xử trực
tiếp vì việc xét xử trực tiếp đòi hỏi phải xét xử bằng lời và ngược lại.
Nguyên tắc xét xử liên tục (Điều 184 BLTTHS): Khi đã xét xử một vụ
án, tòa án phải xét xử liên tục từ khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa cho
đến khi tuyên án, trừ thời gian nghỉ cần thiết như nghỉ giải lao, nghỉ trưa, nghỉ
hết ngày làm việc. Thời gian nghị án cũng được coi là thời gian HĐXX làm
việc và thời gian này có thể kéo dài tùy thuộc vào sự phức tạp của từng vụ án.
Việc xét xử trực tiếp, liên tục đòi hỏi sự có mặt của rất nhiều người
tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng như: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
Kiểm sát viên, người bào chữa, người giám định, người làm chứng, bị cáo…
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (tại phiên tòa sơ thẩm) có vai trò rất
quan trọng trong phiên tòa vì chính người này, với vai trò là thành viên của 19
HĐXX mới có quyền nghị án, biểu quyết để đưa ra bản án nhân danh Nhà
nước phán quyết về tội danh và hình phạt đối với bị cáo đưa ra truy tố. HĐXX
sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trường hợp vụ án có
tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX sơ thẩm có thể gồm hai thẩm
phán và ba hội thẩm nhân dân. Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội
theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì HĐXX gồm hai Thẩm
phán và ba Hội thẩm nhân dân. Việc xét xử trực tiếp, liên tục đòi hỏi các
thành viên HĐXX phải có mặt tại phiên tòa và phải xét xử vụ án từ khi bắt
đầu đến khi kết thúc. Khi xét xử, vì một lý do nào đó mà các thành viên
HĐXX không thể tiếp tục tham gia xét xử thì có thể được thay thế nếu có
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân dự khuyết. Tuy nhiên, để được thay thế thì
Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân dự khuyết phải có mặt từ đầu thì mới

bị cáo đến phiên tòa…" (Quyết định 810 của Bộ Công an).
Trường hợp bị cáo vắng mặt nhưng qua xác minh thấy rằng bị cáo bỏ
trốn khỏi nơi cư trú thì HĐXX ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và đề nghị cơ
quan công an tiến hành truy nã bị cáo. HĐXX cũng tạm đình chỉ vụ án trong
trường hợp bị cáo bị bệnh hiểm nghèo mà không thể đến phiên tòa. Việc tạm
đình chỉ kết thúc khi các lý do tạm đình chỉ xét xử vụ án không còn (bắt được
bị cáo hay bị cáo đã khỏi bệnh).
Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp xét xử đều đòi hỏi sự có
mặt của bị cáo. Để đảm bảo việc xử lý tội phạm được kịp thời, BLTTHS cho
phép HĐXX xét xử vắng mặt bị cáo trong một số trường hợp như, bị cáo cố
tình trốn tránh mà Cơ quan điều tra đã báo cáo là việc truy nã không có kết
quả hay trường hợp bị cáo đang ở nước ngoài, không thể triệu tập đến phiên
tòa được. Những vụ án mà sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét
xử và bị cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt thì HĐXX cũng có thể
xét xử vắng mặt bị cáo. Kết quả xét xử được thể hiện qua bản án sẽ được tống
đạt cho bị cáo sau khi phiên tòa kết thúc. 21
Để đảm bảo sự có mặt của bị cáo trong quá trình xét xử liên tục của
tòa, luật quy định những bị cáo không bị tạm giam phải có nghĩa vụ có mặt tại
phiên tòa trong suốt thời gian xét xử của vụ án. Trường hợp đang tiến hành
xét xử đến một giai đoạn nào đó mà bị cáo bỏ về thì HĐXX sẽ quyết định áp
giải bị cáo hoặc tiếp tục xét xử vắng mặt (giống như trường hợp bị cáo vắng
mặt từ trước khi khai mạc phiên tòa).
Đối với bị cáo đang bị tạm giam thì sự có mặt của họ được đảm bảo
bằng lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp (tiến hành trích xuất và dẫn
giải ra phiên tòa). Trong quá trình phiên tòa diễn ra, "cán bộ chiến sĩ trong khi
làm nhiệm vụ phải giám sát chặt chẽ mọi hành vi của bị cáo… Trường hợp bị
cáo đột xuất phát bệnh, cán bộ y tế khám cấp cứu tại chỗ. Nếu thấy cần thiết

vụ tham gia phiên tòa khi được tòa án triệu tập để trình bày kết luận, giải
thích về vấn đề được trưng cầu giám định. Nếu người giám định vắng mặt thì
tùy từng trường hợp mà HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành
xét xử. Thực tiễn xét xử, đối với những vụ án không có tính chất phức tạp, kết
luận giám định đã rõ ràng, đầy đủ và những người tham gia tố tụng không có
yêu cầu gì thì Tòa án có thể không triệu tập người giám định đến phiên tòa.
Đối với những trường hợp người giám định đã được triệu tập đến tòa mà vắng
mặt thì tùy từng trường hợp mà HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn
tiến hành xét xử vụ án. Nếu có vấn đề cần hỏi thêm người giám định hoặc có
ý kiến thắc mắc về kết luận giám định thì cần hoãn phiên tòa để triệu tập lại.
Pháp luật tố tụng hình sự còn quy định sự tham gia phiên tòa của
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ cho những người
này có điều kiện bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình…
Để đảm bảo HĐXX ra một bản án đúng luật, bảo đảm quyền của bị
cáo, luật tố tụng hình sự còn có quy định về giới hạn của việc xét xử.
BLTTHS quy định: "Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo
tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử". 23
Như vậy, Tòa án sẽ không xét xử những người và những hành vi mà VKS
không truy tố hoặc xét xử theo tội danh mà VKS truy tố. Nếu qua xét xử, Tòa
án thấy cần thay đổi tội danh thì HĐXX chỉ có thể xét xử bị cáo theo khoản
khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội
khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố.
Kết quả quan trọng của phiên tòa là việc ra bản án hoặc các quyết định
khác của HĐXX. Nội dung bản án bắt buộc phải thể hiện việc bị cáo phạm tội
hay không phạm tội. Nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điểm, khoản và điều
luật nào của Bộ luật hình sự; Hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status