KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ - Pdf 29

KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN
TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Xét xử tại phiên toà sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất, là khâu then chốt trong quá trình
làm nhiệm vụ của Luật sư. Đây là khâu kết tinh các công sức của Luật sư từ việc chuẩn bị,
tìm tòi các chứng cứ có lợi nhất cho người mà mình bảo vệ đến việc đứng ra bênh vực, bảo
vệ quyền lợi cho họ một cách công khai. Kết quả của việc bào chữa cho bị cáo hoặc bảo vệ
quyền lợi cho đương sự sẽ được ghi nhận ở giai đoạn này. Vì vậy, Luật sư phải chuẩn bị
thật tốt mọi công việc trước khi ra phiên toà.
1. NHỮNG CÔNG VIỆC CẦN CHUẨN BỊ TRƯỚC KHI DIỄN RA PHIÊN TÒA
Chuẩn bị xong đề cương luận cứ bảo vệ mới là điều kiện cần để bảo vệ tại phiên toà.
Trước khi ra phiên toà, Luật sư phải đọc lại bản luận cứ bào chữa hoặc bảo vệ để xem có
cần bổ sung sửa chữa gì không. Đối với những điểm quan trọng cần phải viện dẫn tài liệu
hoặc lời khai của một người tham gia tố tụng nào đó, cần dùng bút nhớ dòng đánh dấu để
khi trình bày, Luật sư trích đọc tài liệu cần viện dẫn.
Căn cứ vào nội dung vụ án và đề cương luận cứ đã viết, Luật sư chuẩn bị các tài liệu có
liên quan để viện dẫn tại phiên toà. Thông thường Luật sư phải mang theo Bộ luật Hình sự,
Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tùy thuộc vào việc bảo vệ (cho bị cáo hoặc đương sự) mà Luật
sư chuẩn bị các tài liệu cần thiết như các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao; Thông tư liên ngành của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối
cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp; Công văn của Toà án nhân dân tối cao về những vấn đề liên
quan đến việc bảo vệ. Luật sư cũng cần đọc kỹ các văn bản, tài liệu này, đánh dấu những
đoạn cần viện dẫn trích đọc để khi cần thì có thể sử dụng được ngay mà không phải mất
thời gian tìm kiếm.
Đối với một số tài liệu về nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo như các giấy tờ chứng nhận
thành tích trong công tác, trong học tập, sản xuất và chiến đấu; các giấy tờ chứng nhận bị
cáo thuộc diện chính sách ưu tiên, gia đình có công với cách mạng; các giấy tờ chứng nhận
về sức khoẻ và hoàn cảnh gia đình của bị cáo… cũng phải được chuẩn bị để xuất trình cho
Hội đồng xét xử và sử dụng khi bào chữa.
Trước khi ra phiên toà, Luật sư phải dự kiến kế hoạch xét hỏi. Việc xây dựng kế hoạch xét
hỏi giúp Luật sư hỏi có trọng tâm, xác định được những vấn đề cần làm rõ, không bỏ sót,
không có những câu hỏi thừa hoặc vô nghĩa, không bị lúng túng trước sự trả lời của người

hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử. 2- Nếu thấy sự
vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ trở ngại cho việc giải
quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo
thủ tục tố tụng dân sự. Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người làm chứng tham
gia phiên toà để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Nếu người làm chứng vắng mặt nhưng
trước đó đã có lời khai ở Cơ quan điều tra thì Chủ toạ phiên toà công bố những lời khai đó.
Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng vắng mặt thì tuỳ trường hợp, Hội đồng
xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử. Điều 193 Bộ luật Tố tụng
Hình sự quy định người giám định tham gia phiên toà khi được Toà án triệu tập. Nếu
người giám định vắng mặt thì tuỳ trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà
hoặc vẫn tiến hành xét xử.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì Hội đồng xét xử bắt buộc phải hoãn phiên toà
trong một số trường hợp, còn một số trường hợp khác lại được xem xét để quyết định hoãn
phiên toà hay vẫn tiến hành xét xử. Tuỳ vào từng vụ án, vào việc bào chữa cho bị cáo hay
bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà Luật sư đề nghị hoãn phiên toà hoặc phản đối ý kiến đề
nghị hoãn phiên toà của người khác. Ví dụ: Nếu thấy vắng mặt người làm chứng về những
vấn đề quan trọng sẽ trở ngại cho việc xét xử, không có lợi cho người mình bảo vệ thì đề
nghị hoãn phiên toà. Trường hợp vắng mặt người bị hại nhưng chỉ trở ngại cho việc giải
quyết vấn đề bồi thường và ý kiến của Luật sư bảo vệ cho người bị hại đề nghị hoãn phiên
toà, nếu xét thấy việc hoãn phiên toà là không cần thiết chỉ kéo dài thời gian bị cáo bị tạm
giam thì Luật sư bào chữa cho bị cáo cần đề nghị với Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử
và tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bị cáo chưa nhận được bản cáo trạng hoặc quyết định đưa vụ án ra xét
xử thì Luật sư phải yêu cầu Hội đồng xét xử hoãn phiên toà. Nếu bị cáo hoặc đương sự
không được chủ toạ giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà hoặc không hỏi họ
có đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch hay không
thì Luật sư phải đề nghị Hội đồng xét xử cho họ được thực hiện các quyền đó theo quy
định của pháp luật. Nếu thấy cần đưa thêm tài liệu, chứng cứ ra xem xét tại phiên toà mà
trước đó Luật sư chưa có hoặc chưa muốn cung cấp cho Toà án, hoặc thấy cần đề nghị
triệu tập thêm người làm chứng quan trọng của vụ án thì Luật sư phải đề nghị với Hội

một phần về quan điểm của họ để tự điều chỉnh bản luận cứ hoặc đặt câu hỏi với những
người tham gia tố tụng cho phù hợp nhằm bảo vệ tốt nhất cho thân chủ của mình.
Khi nghe và ghi chép, Luật sư phải hết sức nhanh nhạy để phát hiện trong các lời khai của
những người được hỏi những tình tiết có lợi cho thân chủ, những tình tiết có mâu thuẫn
không phù hợp với thực tế khách quan hoặc các chứng cứ khác của vụ án, những tình tiết
chưa được làm rõ để điều chỉnh nội dung, kế hoạch xét hỏi đã dự kiến và chuẩn bị các câu
hỏi mới đối với những người tham gia tố tụng.
Khi chủ tọa dành cho quyền hỏi, Luật sư phải đặt những câu hỏi sắc bén, ngắn gọn, tập
trung vào những vấn đề quan trọng của vụ án nhưng chưa được làm rõ sao cho sự trả lời
của người được hỏi sẽ có lợi nhất cho người mà mình bảo vệ. Tránh đặt những câu hỏi quá
dài, không đi vào trọng tâm hoặc vừa đặt câu hỏi vừa phân tích, bình luận làm lẫn lộn với
phần tranh luận để Chủ toạ phiên toà phải nhắc nhở. Tuỳ từng trường hợp có thể sử dụng
những loại câu hỏi sau.
2.2.1. Câu hỏi bổ sung lời khai
Mục đích sử dụng câu hỏi này để làm rõ hơn về các tình tiết của vụ án đã được người tham
gia tố tụng khai báo tại phiên toà nhưng chưa rõ. Câu hỏi này được dùng trong trường hợp
thân chủ của mình đã trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử nhưng chưa làm rõ được các tình
tiết của vụ án có lợi cho họ. Nguyên nhân có thể do họ mất bình tĩnh mà khai sai. Luật sư
cần đặt câu hỏi để người này khai bổ sung những điểm chưa rõ hoặc còn sót. Cũng có thể
đặt câu hỏi này với những người làm chứng hoặc những người tham gia tố tụng khác khi
thấy lời khai bổ sung của họ sẽ có lợi cho thân chủ của mình.
2.2.2. Câu hỏi gợi mở
Mục đích của câu hỏi này để phục hồi trí nhớ, khơi dậy trong trí nhớ của người được hỏi
mối liên tưởng về thời gian, sự việc nhờ đó họ có thể khai báo được chính xác tình tiết của
vụ án. Luật sư dùng câu hỏi này để hỏi người làm chứng, người bị hại, bị cáo giúp họ có
điều kiện nhớ lại thời gian, địa điểm, sự việc liên quan đến vụ án nhưng bị lãng quên.
2.2.3. Câu hỏi vạch rõ sự gian dối
Câu hỏi này nhằm mục đích chỉ ra sự gian dối, tính không hợp lý trong lời khai của những
người có quyền lợi đối lập với thân chủ của mình hoặc của người làm chứng. Câu hỏi này
thường có hai phần: phần một nêu những chứng cứ hoặc sự việc đã được kiểm tra và xác

xác định đối với hành vi bị truy tố là tham ô thì bị cáo không chiếm đoạt mà chỉ do làm trái
các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế nên gây thiệt hại tài sản; đối với hành vi bị
truy tố là cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế thì không làm rõ được bị
cáo làm trái văn bản nào, quy định nào của Nhà nước về quản lý kinh tế. Căn cứ diễn biến
tại phiên toà nói trên, Luật sư phải kịp thời điều chỉnh lại đề cương bào chữa của mình để
đề nghị Hội đồng xét xử không xử phạt bị cáo về hành vi tham ô tài sản như truy tố của
Viện kiểm sát mà xử bị cáo về hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Đối với hành vi của bị cáo mà Viện Kiểm sát truy tố là
cố ý làm trái thì Luật sư đề nghị xử bị cáo không phạm tội.
2.3. Phần tranh luận
Trong trình tự tố tụng tại phiên toà, đối với Luật sư giai đoạn tranh luận có một vị trí quan
trọng nhất vì nó là giai đoạn mà Luật sư được thể hiện tất cả mọi quan điểm bảo vệ cho
thân chủ của mình, là giai đoạn quyết định việc bảo vệ của Luật sư có thành công hay
không. ở đó, Luật sư sử dụng quyền tranh luận của mình để phân tích, lập luận đưa ra các
lý lẽ bảo vệ cho thân chủ.
Có thể nói tranh luận tại phiên toà là giai đoạn mà Hội đồng xét xử được nghe một cách
toàn diện nhất, tập trung nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia
tố tụng về việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Luật sư cần nắm vững thủ tục tố tụng trong tranh
luận và thực hiện thật hoàn hảo các kỹ năng tranh luận.
2.3.1. Về trình tự, thủ tục tranh luận
Điều 217 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định rõ trình tự phát biểu khi tranh luận như sau:
Mở đầu tranh luận, kiểm sát viên trình bầy lời luận tội, phân tích các chứng cứ của vụ án
để xác định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội. Nếu bị cáo phạm tội thì phân tích đánh
giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tác hại của tội phạm, nhân thân của
bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội
đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng. Nếu có căn cứ
xác định bị cáo phạm tội khác nhẹ hơn tội đã truy tố thì kết luận về tội danh khác nhẹ hơn.
Nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng
xét xử tuyên bố bị cáo không có tội.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, bị cáo được trình bày lời bào chữa,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status