Tài liệu Chuyên đề thực tập : thực tiễn tiến hành phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự của tòa án địa phương doc - Pdf 10

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

CHUYÊN ĐỂ THỰC TẬP
Đề tài:

Thực tiễn tiến hành phiên toà sơ thẩm
vụ án dân sự của Toà án địa phương

MỤC LỤC
I- GIỚI THIỆU CHUYÊN ĐỀ
Cùng với tình hình đổi mới và đi lên chung của đất nước, Thành phố
Thanh Hoá đó đạt được nhiều thành tựu to lớn, đó ngày càng khẳng định vị trí
của mình trong nền kinh tế cả nước. Tình hình an ninh trật tự xã hội được đảm
bảo, đời sống nhân dân ngày càng được đảm bảo và nâng cao. Song bên cạnh đó
vẫn còn tồn tại những mặt trái của nó, đó là sự phân hoá giàu nghèo ngày càng
sâu sắc, sự tha hoá trong lối sống, đạo đức, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp
pháp luật. Xuất phát từ tình hình đó quyền dân sự của công dân ngày càng có ý
nghĩa quan trọng.
2
Với bản chất của Nhà nước ta là: “ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân và vì dân”, Nhà nước ta bảo hộ quyền dân sự chính đáng của
người dân. Để bảo hộ các quyền dân sự đó, Nhà nước quy định nhiều biện pháp,
cách bảo vệ khác nhau nhưng đặc biệt hơn cả là biện pháp khởi kiện vụ án dân
sự theo trình tự tố tụng dân sự. Thực hiện phương thức này, cá nhân, cơ quan, tổ
chức và các chủ thể khác có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền khởi kiện vụ
án dân sự để yêu cầu toà án có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm
quyền dân sự phải chấm dứt hành vi trái pháp luật hoặc phải bồi thường thiệt hại
hoặc phải chịu chế tài phạt vi phạm v.v… Bằng hoạt động xét xử, toà án góp
phần bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa đồng thời nâng cao hiệu quả
xét xử, xác lập chế độ trách nhiệm cao đối với nhân dân và một môi trường pháp

và với các nước trên thế giới.
- Có thuận lợi lớn về đưòng biển, trong tương lai Thành phố Thanh hoá sẽ mở
rộng về phía thị xã Sầm Sơn để hình thành một thành phố ven biểncó quy mô
lớn.
Vị trí địa lý là lợi thế quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố
Thanh hoá mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu vực và cả nước cũng
như với nước ngoài, tạo lực để trở thành một trong những cực phát triển phía
Nam của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đồng thời cũng đặt ra những thách
thức to lớn cho Thành phố Thanh hoá trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội
thời gian tới: đó là thể hiện vai trò đầu tàu thúc đẩy, lôi kéo phát triển kinh tế –
xã hội của toàn tỉnh, tránh tụt hậu so với cả nước.
2.2. Quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số
Thành phố Thanh hoá có cơ cấu dân số tương đối trẻ, thể hiện ở con số
57% dân số trong tuổi lao động. Trình độ dân trí của thành phố Thanh hoá tương
đối cao, hầu hết dân trong thành phố được phổ cập phổ thông cơ sở. Đặc biệt
dân số có trình độ học vấn từ tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên của thành
phố Thanh hoá nói riêng hay của tỉnh Thanh hoá nói chung đều cao hơn hẳn so
với mức trung bình của cả nước. Chất lượng dân số ngày càng được cải thiện sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố thực hiện thành công quy hoạch tổng thể
kinh tế – xã hội đến năm 2010 và 2020.
Nhìn chung các chính sách xã hội, lao động giải quyết việc làm thực hiện
tương đối tốt, mức sống nhân dân được nâng cao, đời sống nhân dân được cải
thiện. Tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo những vấn đề xã hội nảy sinh, đó là sự
5
phân hoá giữa giàu và nghèo, đây là vấn đề mà thành phố cần quan tâm và có
những chính sách xã hội thích hợp trong thời gian tới.
2.3. Toà án nhân dân Thành phố Thanh hoá
Toà án nhân dân Thành phố Thanh hoá tiền thân là Toá án thị xã Thanh
hoá. Hiện tại, Toà án có 30 cán bộ, công chức với 1 chánh án, 2 phó chánh án,
15 thẩm phán va một bộ phận giúp việc. Là đơn vị trọng điểm của ngành Toà án

cơ bản, ở phiên toà sơ thẩm, toà án phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án.
Theo Điều 15 BLTTDS, việc xét xử của toà án được tiến hành công khai. Vì
vậy, mọi hoạt động tố tụng ở phiên toà của các cơ quan tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng phải được công khai hoá, mọi người đều có quyền
tham dự phiên toà. Toà án chỉ được căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được
thẩm tra, xem xét, đánh giá tại phiên toà để giải quyết vụ án chứ không được căn
cứ vào những tài liệu, tin tức chưa được xem xét tại phiên toà. Hội đồng xét xử
quyết định giải quyết mọi vấn đề thuộc về nội dung vụ án cũng như thuộc về thủ
tục tố tụng tại toà bằng việc biểu quyết theo đa số.
Phiên toà sơ thẩm là phiên xử lần đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối
với việc giải quyết vụ án dân sự. Tại phiên toà sơ thẩm toà án sẽ quyết định giải
quyết các vấn đề của vụ án, xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự làm
cơ sở cho việc thi hành án. Phiên toà sơ thẩm cũng là nơi toà án thực hiện việc
giáo dục pháp luật. Thông qua hoạt động xét xử của toà án, những người tham
dự phiên toà biết rõ hơn các quy định của pháp luật được toà án áp dụng giải
quyết vụ án từ đó nâng cao được ý thức pháp luật của họ. Hoạt động xét xử của
toà án ở phiên toà sơ thẩm là để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan xét
xử, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nếu hoạt động này
được tiến hành tốt sẽ làm tăng thêm tác dụng của công tác giáo dục chính trị,
giáo dục pháp luật. Ngược lại, nếu phiên toà sơ thẩm tiến hành không tốt, có
nhiều sai sót thì kết quả của công tác giáo dục sẽ bị hạn chế, gây ảnh hưởng xấu,
làm cho mọi người thiếu tin tưởng vào hoạt động xét xử của toà án.
3.1. Tổng quan chung về vụ án dân sự của Toà án nhân dân Thành phố
Thanh Hoá
7
Trong những năm gần đây, với việc chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế
thị trường, thành phố Thanh hoá đã đạt được tốc độ phát triển kinh tế khá cao.
Đời sống nhân dân được cai thiện rõ dệt, trình độ dân trí được nâng cao. Song
song với những mặt tích cực của nền kinh tế là những mặt trái của nó đã tác
động trực tiếp đến đời sồng, xã hội. Thể hiện rõ trong lối sống của mỗi người,

2006 là: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản là 47 vụ, tranh chấp về quyền sử
dụng đất 14 vụ, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 12 vụ, thực hiện nghĩa vụ
trả tiền 10 vụ…Số án phải đưa ra xét xử 38 vụ chiếm 44,2%, tăng hơn so với
năm 2006, có 14 vụ kháng cáo chiếm 16,3%. Cấp phúc thẩm đã xử 9 vụ: trong
đó y án 4 vụ, cải sửa 3 vụ, huỷ 2 vụ. Mặc dù số vụ án bị kháng cáo có giảm song
do tính chất phức tạp nên có 2 vụ bị huỷ.
Qua thực tiễn số liệu của năm 2006, năm 2007 về số liệu án Hôn nhân và
gia đình và án dân sự khác tại toà án nhân dân thành phố Thanh hoá cho thấy số
án phải đưa ra xét xử phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự là khá lớn, đòi hỏi sự nổ
lực cao của đội ngủ thẩm phán, cán bộ toà án. Tính chất các vụ án càng ngày
càng phức tạp.
Ví dụ: Vụ án về việc đòi tài sản.
Nguyên đơn: Ông Phan Văn Vinh sinh năm 1938
Bị đơn : Ông Nguyễn Mậu Dụy sinh năm 1949
Ông Tô Đình Trưng sinh năm 1950
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Xuân Đính sinh năm 1949
Ông Đỗ Minh Dũng sinh năm 1957
Sở Thương mại Thanh hoá: Đại diện uỷ quyền: Ông Nguyễn Trọng Thoàn, sinh
năm 1948 – chức vụ chánh thanh tra sở thương mại Thanh hoá.
Năm 1975 khi có lệnh hồi cư ông Vinh về thị xã đòi lại nhà, vụ án phát sinh và
kéo dài từ năm 1975 cho tơi nay vẫn chưa giải quyết xong. Mặc dù đã trãi qua
một đợt xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, do việc xuất hiện thêm chứng cứ mới nên
toà phúc thẩm đã huỷ bản án sơ thẩm. Vừa qua vào cuối năm 2007 toà án thành
phố Thanh hoá vừa xét xử lại phiên toà sơ thẩm nhưng vụ việc vẫn chưa được
chấm dứt, do bên bị đơn tiếp tục kháng cáo phúc thẩm. Việc xét xử tại phiên toà
9
sơ thẩm của vụ án nói riêng và việc giải quyết toàn bộ vụ án nói chung là rất
phức tạp, thẩm phán và cán bộ toà án đã gặp rất nhiều trở ngại trong việc xét xử
sơ thẩm vụ án này.

Qua tìm hiểu tình hình xét xử phiên toà sơ thẩm tại toà án nhân dân thành
phố Thanh hoá cùng bảng số liệu thống kê, nhìn chung cho thấy công tác xét xử
tại phiên toà sơ thẩm của toà án nhân dân thành phố Thanh hoá đạt hiệu quả khá
10
cao cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Theo đánh giá của toà án nhân dân tỉnh
Thanh hoá số lượng các vụ, việc do toà án nhân dân thành phố Thanh hoá giải
quyết hàng năm nhiều gấp 4 đến 5 lần tổng số lượng vụ việc dân sự của toà án
các huyện Thanh hoá cộng lại. Theo số liệu của các năm từ năm 2003 đến năm
2007 số lượng các vụ án xét xử tại phiên toà sơ thẩm qua các năm có thể tăng
giảm nhưng tính chất và mức độ phức tạp của các vụ án tăng lên rõ rệt. Chất
lượng xét xử ngày càng tăng thể hiện ở số vụ án bị kháng cáo. Mặt khác Bộ luật
tố tụng dân sự mới có hiệu lực từ 01/ 01/ 2005 có nhiều quy định mới, chặt chẽ
hơn, cụ thể hơn, tuy nhiên các thẩm phán, cán bộ toà án đã có sự cố gắng cao
trong đầu tư, nghiên cứu; trong thu thập các nguồn chứng cứ , trong sự phối hợp
tốt với các cơ quan hữu quan và chính quyền địa phương để cùng giải quyết. Do
vậy hầu hết các bản án, quyết định của Toà án đã đảm bảo tốt quyền và lợi ích
hợp pháp của các đương sự , được nhân dân đồng tình.
3.2. Cách thức tiến hành phiên toà đối với loại vụ án dân sự tại toà án nhân
dân TPTH
Nhìn chung cách thức tiến hành phiên toà đối với loại vụ án dân sự tại
Toà án nhân dân thành phố Thanh hoá được thực hiện một cách chu đáo, nghiêm
túc, tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc của tố tụng dân sự được quy định tại các
điều, từ điều 3 đến điều 24 BLTTDS. Nó góp phần quan trọng trong việc giải
quyết đúng các vụ án dân sự. Phiên toà sơ thẩm được tiến hành đúng thời gian,
địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo
mở lại phiên toà trong trường hợp phải hoãn phiên toà nhằm đảm bảo cho các
đương sự tham gia phiên toà thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố
tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tránh sự phiền hà và tổn thất về
thời gian, tiền bạc cho đương sự.
Phiên toà sơ thẩm dân sự được tiến hành theo phương thức xét xử trực

- ổn định trật tự trong phòng xử án;
- Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên
toà theo theo giấy triệu tập, giấy báo của toà án; nếu có người vắng mặt
thì cần làm rõ lý do;
12
- Phổ biến nội quy phiên toà;
- Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi hội đồng xét xử vào
phòng xử án.
* Thủ tục bắt đầu phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự:
- Khai mạc phiên toà:
Khai mạc phiên toà là thủ tục tố tụng bắt buộc phải thực hiện trước khi hội
đồng xét xử tiến hành xét xử. Việc khai mạc phiên toà được thực hiện như
sau:
+ Chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà và quyết định đưa vụ án ra xét xử
+ Thư ký phiên toà báo cáo với hội đồng xét về sự có mặt , vắng mặt của
những người tham gia phiên toà theo giấy triệu tập, giấy báo của toà án và lý
do vắng mặt
+ Chủ toạ phiên toà kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên
toà theo giấy triệu tập, giấy báo của toà án và kiểm tra căn cước của đương
sự
+ Chủ toạ phiên toà phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của
những người tham gia tố tụng khác
+ Chủ toạ phiên toà giới thiệu họ,tên những người tiến hành tố tụng ( người
giám định, người phiên dịch nếu có)
+ Chủ toạ phiên toà hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người
tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay
đổi ai không
- Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định và
người phiên dịch
Trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tổ tụng,

Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của
mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì hội đồng xét xử chấp nhận
và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã
rút.
14
Khi hội đồng xét xử đã xem xét chấp nhận cho các bên đương sự có quyền
được thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu thì sẽ dẫn đến việc
thay đổi địa vị tố tong của các đương sự.
Việc đương sự thoả thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi
giai đoạn tố tụng dân sự được nhà nước khuyến khích.Trong trường hợp các
đương sự thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án và thoả thuận của họ
là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra
quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ
án. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giải quyết
vụ án phải được lập thành văn bản và có hiệu lực pháp luật ngay.
- Nghe đương sự trình bày về vụ án
Sau khi chủ toạ đã thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cần thiết nhưng có
đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của họ và các bên trong vụ án cũng không
tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì hội đồng xét xử
bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe các bên đương sự trình bày về các yêu
cầu và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp. Các bên được trình
bày việc kiện tại phiên toà như sau:
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày yêu cầu
của nguyên đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và
hợp pháp. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị
đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn và
chứng cứ để chứng minh cho đề nghị đố là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có
quyền bổ sung ý kiến.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ

rõ những tình tiết của vụ án mà họ biết. Sau khi đã trình bày xong, người làm
chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm
Sau khi đã thực hiện đầy đủ các hoạt động nghiệp vụ trong thủ tục hỏi ở
phiên toà, hội đồng xét xử nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy
đủ thì chủ toạ phiên toà hỏi kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có
16
yêu cầu hỏi về vấn đề gì nữa không. Trường hợp có người yêu cầu và toà án xét
thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì chủ toạ phiên toà quyết định tiếp tục cho họ đặt
câu hỏi về những vấn đề mà họ chưa rõ liên quan đến vụ án. Nếu không có ai
nêu ra vấn đề gì nữa thì chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc việc hỏi và chuyển
sang phần tranh luận tại phiên toà.
* Tranh luận tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự
Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên toà, đảm bảo cho
đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước toà án. Do đó,
BLTTDS đã quy định mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò
chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên toà.
Trong BLTTDS đã dành hẳn một mục với bốn điều luật, từ điều 232 đến điều
235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên toà. Điều đó thể hiện tầm quan
trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và
xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp của nước ta. Các quy định của BLTTDS về
tranh chấp tại phiên toà phù hợp với quan điểm của đảng và nhà nước ta về cải
cách tư pháp được nêu trong nghị quyết số 08 NQ/TW ngày 02/01/2002 của bộ
chính trị.
- Những người tham gia tranh luận gồm có: Đương sự, người đại diện của
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ
chức khởi kiện.
- Nội dung tranh luận
Tranh luận tại phiên toà, thể hiện tính chất dân chủ, công khai, minh bạch của
hoạt động xét xử. Các quy định của BLTTDS về tranh luận là tạo điều kiện tối

xuất với hội đồng xét xử hướng giải quyết vụ án để bảo vệ cho yêu cầu và quyền
lợi của họ.Trình tự phát biểu khi tranh luận như sau:
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu trước.
Nguyên đơn bổ sung ý kiến. Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ có
quyền bổ sung ý kiến.
18
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu. Bị đơn có
quyền bổ sung ý kiến.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phát biểu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.
Thời gian tranh luận tại phiên toà dài hay ngắn là do tính chất phức tạp của
từng vụ án. Nhưng để cho đương sự và người đại diện của họ có thể thực hiện
được việc tranh luận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Điều 233
BLTTDS quy định như sau:
+ Thời gian tranh luận cũng như số lần phát biểu ý kiến về một vấn đề không bị
hạn chế, chủ toạ phiên toà phải tạo điều kiện cho những người tham gia tranh
luận trình bày hết ý kiến. Chủ toạ phiên toà chỉ có quyền cắt những ý kiến không
có liên quan đến vụ án.
+ Trong qua trình tranh luận, người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến
của người khác khi có những điểm khác nhau.
- Phát biểu của kiểm sát viên
Trong phiên toà xét xử vụ án dân sự, đương sự và người bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của họ có toàn quyền trong việc quyết định bảo vệ quyền, lợi ích
chính đáng của mình. Vì vậy, theo quy định của BLTTDS đại diện viện kiểm sát
không nhất thiết phải tham gia tất cả các phiên toà dân sự. Đối với những vụ án
dân sự BLTTDS quy định phải có sự tham gia của kiểm sát viên thì trình tự
phát biểu của kiểm sát viên tại phiên toà như sau:
+ Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong,
chủ toạ phiên toà đề nghị kiểm sát viên phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về
việc giải quyết vụ án.

20
+ Phải có biên bản nghị án ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết đinh của hội
đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các thành viên hội đồng xét xử ký tên
tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
+ Trong trường hơp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải
có thời gian dài thì hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án nhưng
không quá 5 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên toà.
- Tuyên án
Sauk hi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để
tuyên án. Thủ tục tuyên án được thực hiện như sau:
+ Khi tuyên án, mọi người trong phòng xét xử phải đứng dậy, trừ trường hợp
đặc biệt được phép của chủ toạ phiên toà;
+ Chủ toạ phiên toà hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc
nguyên văn bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành
bản án và quyền khánh cáo. Đối với những vụ xử kín, toà án vẫn phải tuyên án
công khai;
+ Trong trường hợp có đương sự không biết tiếng việt thì sau khi tuyên án,
người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ
biết.
3.3. Việc thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự trong tiến hành phiên toà sơ thẩm
vụ án dân sự
Với tư cách là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu tiên của toà án, phiên toà
sơ thẩm tập trung các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng, tại đó, sự thật khách quan của những tình tiết, sự
kiện được Hội đồng xét xử trực tiếp kiểm tra, xem xét, đánh giá một cách công
khai thông qua thủ tục tố tụng để đưa ra những phán quyết cuối cùng dựa trên cơ
sở của việc nghe lời trình bày, đối thoại, đối chất và tranh luận của nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp
pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như những
21

22
này. Mặt khác, BLTTDS vẫn không tránh khỏi những thiếu sót thường gặp, đó
là nội dung của những quy phạm quá chung, quá nhiều sự dẫn chiếu đến các
điều luật dẫn đến việc khó hình dung và thiếu thống nhất cả trong hoạt động
nghiên cứu và áp dụng pháp luật tố tụng dân sự. Đây là những khó khăn, vướng
mắc chung tại các toà án địa phương.
3.4. Những thuận lợi, vướng mắc trong việc tiến hành phiên toà sơ thẩm vụ
án dân sự, cách toà án đã tháo gỡ giải quyết
* Thuận lợi:
Việc giải quyết vụ án dân sự tại phiên toà sơ thẩm của toà án nhân dân
thành phố Thanh hoá trong những năm qua đã đạt được những kết quả khá cao.
Thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được tuân thủ khá triệt để từ
khâu bắt đầu phiên toà cho đến khi tuyên án, các phiên xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng. Bằng chứng là số vụ án bị huỷ do vi phạm
thủ tục tố tụng đã giảm đáng kể. Đạt được kết quả như vậy là do có những thuận
lợi sau:
- Về đội ngũ cán bộ toà án: Toà án nhân dân thành phố Thanh hoá với 15 thẩm
phán, 10 thư ký toà án, đây lá lực lượng nòng cốt giải quyết các vụ, việc tại toà
án. Với tuổi đời còn khá trẻ, năng lực chuyên môn được đào tạo chính quy, đây
là một thuận lợi lớn của toà án nhân dân thành phố Thanh hoá nói chung và
trong việc tiến hành phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự nói riêng. Cán bộ toà án
thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn.
- Về cơ sở vật chất: Cùng với sự phát triển kinh tế của toàn tỉnh, cơ sở vật chất
của toà án nhân dân thành phố Thanh hoá ngày càng được hoàn thiện, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị cũng như việc xét xử phiên toà sơ thẩm được
diễn ra một cách trôi chảy.
* Vướng mắc:
Mặc dù đã đạt được những kết quả cao trong công tác xét xử phiên toà sơ
thẩm vụ án dân sự, bên cạnh đó vân còn tồn tại những vướng mắc như:
- Trong công tác chuyên môn, một số vụ án dân sự thẩm phán còn chưa lường

- Phối hợp với các cơ quan chức năng thường xuyên tổ chức tuyên truyền phổ
biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật.
24
IV. MỘT SỐ Ý KIẾN
4.1. Nhận xét
Qua thực tiễn nghiên cứu tình hình tại toà án nhân dân thành phố Thanh
hoá, cho thấy công tác xét xử nói chung và phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự nói
riêng đã đạt được những kết quả khá cao. Toà án thành phố Thanh hoá là đơn vị
có số lượng án phải giải quyết hàng năm lớn nhất tỉnh, nhưng đơn vị vẫn đảm
bảo được chất lương giải quyết vụ án cả về mặt chất lượng lẫn số lượng. Cùng
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đời sống kinh tế của nhân dân ngày
càng được nâng cao, nhu cầu của người dân ngày càng tăng, cùng với nó là sự
phát sinh các tranh chấp, mâu thuẫn cũng ngày càng tăng theo, các vụ án dân sự
ngày càng tăng về số lượng và tính chất phức tạp ngày càng đa dạng. Đặc biệt là
tình trạng ly hôn ngày càng cao, nguyên nhân dẫn tới việc ly hôn ngày càng đa
dạng. Mặc dù vậy nhưng với sự nỗ lực cao của đội ngũ thẩm phán, cán bộ toà án
chất lượng giải quyết tại các phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự vẫn được đảm bảo,
số lượng các vụ án được giải quyết ngày càng tăng cao. Kết quả đạt được như
trên đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm
bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao hiệu quả xét xử của
Toà án.
4.2. Một số kiến nghị
- Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ toà án:
+ Toà án nhân dân thành phố Thanh hoá cần có nhiều biện pháp nâng cao trình
độ và năng lực hơn nữa cho đội ngũ thẩm phán, thư ký. Chẳng hạn bằng việc
tăng cường các đợt tập huấn về chuyên môn cho cán bộ toà án; Tạo điều kiện
cho họ được học thêm, tìm hiểu thêm về những kiến thức chuyên ngành; Triển
khai và thực hiện kịp thời các văn bản pháp luật mới được ban hành. Phối hợp
với các cơ quan chuyên ngành tạo điều kiện cho cán bộ toà án tham gia các lớp
học nâng cao về nghiệp vụ và kỷ năng xét xử .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status