Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tranh luận tại PTHS là sự biểu hiện tập trung cao độ nhất của quá trình
tranh tụng dân chủ giữa bên buộc tội và bên bào chữa. Tranh luận cũng là một
thủ tục bắt buộc, là phần trọng tâm của toàn bộ quá trình xét xử vụ án hình sự.
Thông qua hoạt động tranh luận, đối đáp được tiến hành một cách dân chủ,
công khai và không bị giới hạn về thời gian tại phiên tòa giữa các chủ thể của
bên buộc tội và bên bào chữa, HĐXX có thể xác định đúng và đầy đủ về các
tình tiết khách quan làm cơ sở để ra phán quyết về vụ án bảo đảm xét xử đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cải cách tư pháp được coi là một bộ phận, một nội dung cơ bản của
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Tại Nghị quyết
số 08/NQ-TW ngày 02/1/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới” của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 08-NQ/TW) đã chỉ
rõ: “…Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm
tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố
tụng khác …Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý
kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn,
bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết
định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy
định…”.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 49-NQ/TW) tiếp tục
xác định một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp ở nước ta là “Đổi mới
việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm
của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo
tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lương tranh tụng tại các
phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”.
Trước khi có Nghị quyết số 08/NQ-TW, hoạt động thực hành quyền
công tố của KSV tại PTHS chủ yếu tập trung vào việc đọc cáo trạng, trình bày

tranh luận tại PTHS vẫn là cần thiết.
Tất cả các luận cứ nêu trên chính là lý do để học viên lựa chọn đề tài
“Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự” để làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề tranh tụng nói chung và tranh luận
tại PTHS nói riêng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý và cán bộ thực tiễn
quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau như: Luận văn
thạc sĩ luật học “Vấn đề tranh tụng trong Tố tụng hình sự” của Nguyễn Đức
Mai (1996) ; “Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm” (2007) và “Tranh luận tại
phiên tòa phúc thẩm” (2008) của TS. Dương Thanh Biểu; Luận văn thạc sĩ
luật học “Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của
Nguyễn Hải Ninh (2003); Luận văn thạc sĩ luật học “Tranh tụng tại phiên tòa
theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của Bùi Thị Hà (2010) ; Luận văn
thạc sĩ luật học “Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm” của Hà Minh Hải (2007) ; “Hoàn thiện các quy
định củaBộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 liên quan đến tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm - cơ sở lý luận và thực tiễn” Đề tài khoa học cấp cơ sở TANDTC
(2011), Chủ nhiệm - TS. Nguyễn Đức Mai;…
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về
các vấn đề có liên quan đến tranh luận tại PTHS như: “Đặc điểm mô hình tố
tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình Tố tụng hình sự ở Việt
Nam” của TS. Nguyễn Đức Mai (2009),Tạp chí TAND,(23-24); “Hoàn thiện
các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về phạm vi tranh luận và
chủ thể tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự” của ThS. Hồ Đức Anh
(2007), Tạp chí Kiểm sát,(20); “Cần nhận thức đúng đắn về tranh tụng và
tranh luận để nâng cao kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại các phiên tòa
hình sự” của ThS. Nguyễn Hữu Hậu (2006), Tạp chí Kiểm sát, (8); “Một số
giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ
thẩm hình sự” của Th.s Phạm Quang Định (2009), Tạp chí Kiểm sát, (2); “Kỹ
năng và văn hóa tranh luận tại phiên tòa” của LS Lê Đức Tiết (2005),Tạp chí

Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu
nhằm làm sáng tỏ:
- Một số vấn đề lý luận về thủ tục tranh luận tại PTHS;
- Quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại PTHS;
- Thực trạng hoạt động tranh luận tại các PTHS những năm gần đây và
những bất cập, vướng mắc;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về thủ
tục tranh luận cũng như nâng cao chất lượng tranh luận tại PTHS.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong nội dung của luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
được giới hạn ở một số vấn đề sau: Khái niệm thủ tục tranh luận tại PTHS;
chức năng và vai trò của các chủ thể trong tranh luận; nghiên cứu quy định
của pháp luật hiện hành về tranh luận tại các PTHS và thực tiễn áp dụng. Trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành và
nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên toà hình sự. Mặt khác, để luận văn có
tính chuyên sâu, tác giả tập trung nghiên cứu chủ yếu về tranh luận tại PTHS
sơ thẩm và phúc thẩm.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối của Đảng và Nhà
nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về cải cách tư pháp trong
thời kỳ mới. Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để làm rõ những nội
dung cần nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương
pháp thống kê.
6. Kết quả nghiên cứu của đề tài
- Đưa ra khái niệm tranh luận tại PTHS; phân tích làm rõ chức năng và
vai trò của các chủ thể trong tranh luận tại PTHS.
- Thực trạng tranh luận và những vướng mắc, bất cập của các quy định
pháp luật hiện hành về tranh luận tại PTHS.
- Đề xuất sửa đổi một số quy định của BLTTHS và một số giải pháp

phiên toà là “Hoạt động của những người tham gia tố tụng (các bên) tại phiên
toà, trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về vụ án” [6, tr.807]. “Tranh luận
trước Toà án là một phần xét xử vụ án tại phiên toà, trong đó Công tố viên,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người đại diện của họ, người bào chữa
(trường hợp không có người bào chữa thì bản thân bị cáo) phát biểu, phân tích
các chứng cứ được đưa ra xem xét, trình bày kết luận của mình về vụ án” [30,
tr.251] .
Như vậy, từ các nghĩa nêu trên thì “Trình tự tranh luận tại phiên toà
hình sự có thể được hiểu là cách thức, trình tự và nghi thức tiến hành hoạt
động tố tụng ở phần tranh luận tại phiên toà, trong đó các chủ thể của bên
buộc tội và của bên bào chữa phát biểu ý kiến, phân tích các chứng cứ được
đưa ra xem xét và trình bày kết luận của mình về vụ án”. Hoạt động này của
các chủ thể tham gia tranh luận được xác định về mặt không gian, thời gian,
được tiến hành theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định và chỉ kết
thúc khi các chủ thể đã tìm ra lẽ phải - sự thật khách quan về vụ án.
Thủ tục tranh luận tại các PTHS (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm) được pháp luật quy định khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất xét xử vụ
án. Theo nguyên tắc “Hai cấp xét xử”, sơ thẩm và phúc thẩm là hai cấp xét xử
vì vậy phần tranh luận tại hai phiên tòa này được nối tiếp sau khi kết thúc
phần xét hỏi và bắt đầu bằng việc KSV trình bày lời luận tội (tại phiên toà sơ
thẩm) hoặc phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án (tại phiên toà phúc
thẩm). Tiếp theo bị cáo trình bày lời bào chữa sau đó nếu bị cáo có người bào
chữa thì người này trình bày lời bào chữa và bị cáo bào chữa bổ sung; người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày, bổ sung ý kiến
(Điều 217 và Điều 247 BLTTHS).
Giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là thủ tục
đặc biệt để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Mặt khác, việc
triệu tập những người tham gia tố tụng không phải là bắt buộc mà chỉ khi xét
thấy cần thiết, thì TA mới triệu tập họ đến phiên toà. Vì vậy, trình tự tranh

thời gian không cần thiết, Chủ tọa phiên tòa có thể lưu ý đối với KSV và
những người tham gia tranh luận chỉ tranh luận những vấn đề mới phát sinh
sau khi xét hỏi thêm. Nếu những người tham gia tranh luận không còn ý kiến
gì khác, Chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần tranh luận và cho phép bị
cáo được nói lời sau cùng. Như vậy, có thể nói rằng phần tranh luận tại phiên
toà sơ thẩm và phúc thẩm được kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng tức
là lời nói sau cùng của bị cáo không thuộc phần tranh luận tại phiên toà.
Theo quy định tại Điều 280 và Điều 297 của BLTTHS, thì khi xét thấy
cần thiết TA phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập
những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia
phiên tòa giám đốc thẩm (tái thẩm). Nếu đã triệu tập thì họ lại trình bày ý kiến
trước khi đại diện VKS phát biểu. Thực tiễn xét xử ở nước ta cho thấy các TA
hầu như không triệu tập người bị kết án, người bào chữa và đương sự tham
gia phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Như vậy, có thể rút ra một số nhận xét sau:
1) Tranh luận là một phần (bộ phận), một thủ tục bắt buộc của phiên toà
và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình xét xử vụ án. Các quan
điểm khác nhau của các bên về vụ án giúp cho HĐXX có thể xác định được
đầy đủ và toàn diện các tình tiết khách quan của vụ án để có phán quyết đúng
đắn, chính xác về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
2) Hoạt động tranh luận tại phiên toà được bắt đầu bằng việc KSV trình
bày lời luận tội (ở phiên toà sơ thẩm) hoặc quan điểm của VKS về việc giải
quyết vụ án (ở phiên toà phúc thẩm) và kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau
cùng.
3) Ý nghĩa và nội dung của tranh luận chỉ thể hiện một cách đầy đủ nhất
tại phiên toà sơ thẩm. Ở phiên toà phúc thẩm ý nghĩa và nội dung của nó bị
hạn chế hơn (do phúc thẩm là cấp xét xử lại vụ án). Còn ở phiên toà giám đốc
thẩm (tái thẩm) thì tranh luận hoàn toàn mang tính chất phiến diện (một
chiều) do tính chất của nó là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật.

* Nội dung: Nội dung tranh luận tại PTHS bao gồm toàn bộ các quan
điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình sự mà các chủ
thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra tại phiên toà đề nghị HĐXX chấp
nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án. Phụ thuộc vào tính chất xét xử
vụ án hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) mà nội dung
tranh luận này có thể khác nhau.
Nội dung tranh luận của các chủ thể tại phiên toà sơ thẩm hình sự cũng
xoay quanh các vấn đề cần chứng minh trong vụ án được quy định tại Điều 63
BLTTHS bao gồm: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa
điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành
vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách
nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng
nặng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc
điểm nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi
phạm tội gây ra.
Tuy nhiên, tại phiên toà KSV có thể thay đổi nội dung buộc tội, tức là
kết luận khác (so với quyết định truy tố) về nội dung, tính chất của hành vi
phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, vai trò của bị cáo trong vụ án,
nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
nguyên nhân điều kiện phạm tội,... và đề xuất hướng giải quyết cụ thể về vụ
án. Nội dung luận tội này của KSV (theo hướng có lợi cho bị cáo) là cơ sở để
xác định giới hạn xét xử vụ án tại phiên toà. Vì vậy, nội dung tranh luận, đối
đáp của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chủ yếu
tập trung vào các nội dung lời luận tội của KSV trình bày tại phiên toà.
Nội dung tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm phụ thuộc vào nội dung
kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản
án thì nội dung tranh luận tại phiên toà phúc thẩm sẽ bao gồm tất cả vấn đề
như ở phiên tòa sơ thẩm. Trong trường hợp chỉ có kháng cáo, kháng nghị một
phần bản án sơ thẩm (về hình phạt, về phần dân sự hoặc xử lý vật chứng) thì
nội dung tranh luận tại phiên toà phúc thẩm chỉ tập trung chủ yếu vào các vấn

NQ/TW, “tranh tụng” là một thuật ngữ, một khái niệm được sử dụng khá phổ
biến trong khoa học pháp lý. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật của nước
ta (trước đây cũng như hiện nay) nói chung và trong BLTTHS năm 2003 nói
riêng đều không đề cập gì về thuật ngữ này. Vì vậy, trong khoa học luật
TTHS có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về các khái niệm “tranh tụng”
và “tranh luận” tại phiên toà. Có thể phân các quan điểm này thành ba nhóm
cơ bản sau đây:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng “Tranh tụng chính là quá trình tranh
luận, trao đổi giữa các bên. Trong tranh tụng các quan điểm pháp lý khác
nhau được cọ sát và chân lý khách quan xuất hiện” [12, tr.262 ]. Theo quan
điểm này thì “tranh tụng” và “tranh luận” tại phiên tòa là hai khái niệm đồng
nhất với sự tham gia đồng thời và đầy đủ của các chủ thể thuộc bên buộc tội,
bên bào chữa và TA.
- Quan điểm thứ hai cho rằng “Tranh tụng là hoạt động của những
người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham
gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp luật, làm căn cứ
để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định” [29, tr.2].
Còn “tranh luận” theo TS Nguyễn Thái Phúc được hiểu là :“Một thủ
tục- một phần độc lập của phiên tòa sơ thẩm ... Thủ tục tranh luận thể hiện rõ
nét nhất, tập trung nhất nội dung của nguyên tắc tranh tụng. Tranh luận có nội
hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng” [19, tr.10].
Theo hai quan điểm này tranh tụng bao gồm không chỉ phần tranh luận
tại phiên tòa mà còn cả các phần khác (xét hỏi và nghị án) của hoạt động xét
xử, trong đó phần tranh luận công khai tại phiên tòa thể hiện một cách tập
trung và rõ nét nhất quá trình tranh tụng.
- Quan điểm thứ ba cho rằng “tranh tụng” có nghĩa là “Sự kiện cáo
nhau giữa hai bên (bên nguyên và bên bị) có lập trường tương phản yêu cầu
TA phân xử [31, tr.1288]. “Tranh tụng là các hoạt động tố tụng được thực hiện
bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình
đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm

buộc tội và bên bào chữa dưới sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà. Hội thẩm
và những người tham gia tố tụng khác không tham gia vào quá trình này.
* Về nội dung: Nội dung tranh tụng tại PTHS bao gồm tất cả các vấn
đề khác nhau cần giải quyết trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án (từ khi khai
mạc cho đến khi kết thúc phiên toà) như: đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu
cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới, thay
đổi thành viên HĐXX, KSV, Thư ký TA, người giám định, người phiên dịch,
xem xét giải quyết việc hoãn phiên tòa,…(ở phần thủ tục phiên tòa); HĐXX
và các bên tham gia vào quá trình điều tra công khai (xét hỏi) nhằm kiểm tra
xác minh các chứng cứ và các tình tiết về vụ án dưới sự điều khiển của Chủ
tọa phiên toà (ở phần xét hỏi); các bên đưa ra quan điểm, lập luận của mình
về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về đánh giá chứng cứ, về tội danh,
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về áp dụng pháp luật,
hình phạt đối với bị cáo, về phần dân sự, về xử lý vật chứng,…) đề nghị
HĐXX chấp nhận hay bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án (ở phần tranh luận);
các thành viên HĐXX thảo luận về từng vấn đề cần giải quyết trong vụ án,
chấp nhận hay bác bỏ đề nghị cụ thể của các bên và ra phán quyết về vụ án
theo quyết định đa số (ở phần nghị án).
So với tranh tụng, tranh luận tại PTHS có nội dung hẹp hơn rất nhiều và
chỉ bao gồm các vấn đề mà các bên tranh luận, đối đáp với nhau ở phần tranh
luận: quan điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về đánh
giá chứng cứ, về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, về áp dụng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo, về phần dân sự, về xử lý
vật chứng,…) mà các bên đưa ra đề nghị HĐXX chấp nhận hay bác bỏ khi ra
phán quyết về vụ án.
1.2. Chức năng và vai trò của các chủ thể trong tranh luận tại phiên
tòa hình sự
Trong TTHS luôn luôn tồn tại 3 chức năng cơ bản là: buộc tội, bào
chữa và xét xử. Mặt khác, tham gia vào quá trình TTHS nói chung và tại
phiên toà hình sự nói riêng có rất nhiều chủ thể với vai trò, vị trí và tư cách tố

Tố tụng tranh tụng là mô hình được áp dụng chủ yếu ở các nước thuộc
hệ thống pháp luật án lệ như Anh, Mỹ,…. Mô hình tố tụng này áp dụng triệt
để nguyên tắc tranh tụng, theo đó các chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa và
xét xử) được phân định rõ ràng giữa bên buộc tội, bên bào chữa và TA; TTHS
chỉ bao gồm quá trình xét xử vụ án tại phiên toà. Trách nhiệm chứng minh
được phân đều cho các bên còn TA chỉ giữ vai trò là người trọng tài cầm trịch
(điều khiển), giám sát quá trình tranh tụng giữa các bên để ra phán quyết về
vụ án. Bên cạnh ưu điểm (như thể hiện tính dân chủ, khách quan, bình đẳng
giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong TTHS). Mô hình tố tụng này cũng có
nhược điểm là quá trình xét xử vụ án thường bị kéo dài; vai trò thụ động của
TA; có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý oan người vô tội nếu không có
khả năng tài chính để chi trả cho dịch vụ LS.
Tố tụng thẩm vấn là mô hình tố tụng được áp dụng chủ yếu ở các nước
thuộc hệ thống pháp luật lục địa như Đức, Pháp…. Theo mô hình này, các
chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa và xét xử) không được phân định rõ
ràng giữa bên buộc tội, bên bào chữa và TA; trách nhiệm chứng minh tội
phạm thuộc về các cơ quan tư pháp hình sự; vai trò của Toà án không phải là
người trọng tài cầm trịch (điều khiển), giám sát quá trình tranh tụng mà còn
tích cực tham gia vào quá trình tranh tụng (ở phần xét hỏi) giữa các bên. Kiểu
tố tụng này tuy có ưu điểm là điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng nhưng nó
cũng bộc lộ nhược điểm là không bảo đảm tính dân chủ, khách quan, bình
đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa vì vậy dễ dẫn đến xử lý oan sai người
vô tội.
Nhằm khắc phục một số nhược điểm của hai kiểu tố tụng nêu trên, một
số nước như Nga, Pháp, Trung Quốc, Việt Nam,... đã kết hợp một số yếu tố
hợp lý của tố tụng tranh tụng vào hệ tố tụng thẩm vấn truyền thống để tạo nên
mô hình tố tụng đan xen (bán tranh tụng). Theo mô hình này trách nhiệm
chứng minh vẫn thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng vai trò của LS
được coi trọng hơn. TA chủ yếu là giữ vai trò điều hành quá trình điều tra
công khai và tranh luận tại phiên toà thông qua hoạt động của các bên để xác

trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan
trọng đối với vụ án, thì HĐXX quyết định trở lại việc xét hỏi.
Nội dung tranh luận tại các phiên toà giám đốc thẩm (tái thẩm) phụ
thuộc vào nội dung kháng nghị và ngoài Hội đồng giám đốc thẩm (tái thẩm),
thông thường chỉ có đại diện VKS tham gia phiên toà (còn các thành phần
khác ít khi được triệu tập). Vì vậy, vai trò của các thành viên HĐXX nói
chung và của Chủ toạ phiên tòa nói riêng trong phần tranh luận rất hạn chế so
với phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm.
1.2.2. Chức năng và vai trò của các chủ thể thuộc bên buộc tội
trong tranh luận tại phiên tòa hình sự.
Trong các chủ thể của bên buộc tội, KSV là chủ thể chính trong việc
thực hiện chức năng buộc tội trong TTHS. Tại phiên tòa KSV thay mặt Nhà
nước thực hiện quyền công tố nhằm buộc tội bị cáo và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động xét xử. Vì vậy, tranh luận và đáp lại ý kiến của các
chủ thể khác tham gia tranh luận tại phiên toà không chỉ là quyền mà còn là
nghĩa vụ của KSV.
Tại PTHS sơ thẩm, ngoài đọc bản cáo trạng và tham gia xét hỏi, mở
đầu phần tranh luận KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo
toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn và đề
xuất với HĐXX về hướng giải quyết các vấn đề cụ thể trong vụ án. Như vậy,
phụ thuộc vào diễn biến phiên toà tại phần xét hỏi, lời luận tội của KSV sẽ
thực hiện theo một trong ba tình huống sau: giữ nguyên, thay đổi nội dung
buộc tội (rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn)
hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố.
Có thể thấy rằng nếu quyết định truy tố (cáo trạng) của VKS là căn cứ
phát sinh giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thì lời luận tội của KSV tại
phiên tòa sơ thẩm là cơ sở để các bên tiến hành tranh luận về các vấn đề cần
giải quyết trong vụ án. Theo khoản 3 Điều 23 Quy chế công tác thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết
định 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC), thì

khác cũng xoay quanh nội dung quan điểm của KSV về việc giải quyết vụ án.
Theo Điều 40 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định 960/2007/QĐ-VKSTC
ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC), thì quan điểm này phải thể
hiện được các nội dung cơ bản sau:
- Phải phân tích kháng cáo, kháng nghị có hợp lệ không? Căn cứ vào
các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và việc xét hỏi tại phiên tòa để phân tích
các nội dung được đề cập trong kháng cáo, kháng nghị và viện dẫn các quy
định của pháp luật để đưa ra kết luận có căn cứ chấp nhận hay không chấp
nhận đối với từng nội dung kháng cáo, kháng nghị;
- Phân tích, làm sáng rõ những vi phạm pháp luật về nội dung cũng như
về hình thức của bản án sơ thẩm; đánh giá về phần bản án sơ thẩm không bị
kháng cáo, kháng nghị nhưng thấy có căn cứ để xem xét theo hướng có lợi
cho bị cáo;
- Thể hiện rõ quan điểm của VKS về chấp nhận hay không chấp nhận
kháng cáo, kháng nghị và nêu rõ lý do? Nếu chấp nhận (một phần hoặc toàn
bộ) thì đề xuất với HĐXX về hướng giải quyết đồng thời phải viện dẫn điều
khoản cụ thể nào của BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác cần áp
dụng.
Ở phiên tòa giám đốc thẩm (tái thẩm) khi phát biểu quan điểm của VKS
về việc giải quyết vụ án, KSV tập trung phân tích về tính hợp pháp và có căn
cứ của bản án (quyết định) đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị.
Ngoài KSV, các chủ thể khác thuộc bên buộc tội (người bị hại, nguyên
đơn dân sự, người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của họ) cũng tham gia
vào việc tranh luận. Theo quy định của BLTTHS, những người này có các
quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia tố tụng, trong đó có quyền trình bày
ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Thực tiễn cho thấy do hạn chế
hiểu biết pháp luật và không có kỹ năng, kinh nghiệm nên việc tranh luận, đối
đáp của các chủ thể này tại phiên toà có nhiều hạn chế (trừ trường hợp người
bảo vệ quyền lợi của họ là LS).

Người bào chữa có thể là: LS; người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân (khoản 1 Điều 56 BLTTHS). Người

Trích đoạn Một số giải phỏp nõng cao chất lượng tranh luận tại phiờn tũa hỡnh sự Cỏc giải phỏp về phỏp lý Cỏc giải phỏp về con ngườ Cỏc giải phỏp khỏc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status