nghiên cứu - trao đổi
26 Tạp chí luật học số tháng 3/2003
ThS. Nguyễn Thị Thu Hà *
ét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố
tụng quan trọng nhất, quyết định nhất bởi
tại phiên tòa sơ thẩm, tòa án giải quyết tất cả
các vấn đề của vụ án, các đơng sự công khai
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
trớc tòa án.
ở phiên tòa, hội đồng xét xử không chỉ dựa
vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
mà phải xác định lại chúng đồng thời làm rõ
thêm những tình tiết bằng cách nghe ý kiến
trình bày của các đơng sự, những ngời tham
gia tố tụng khác, xem xét các tài liệu, vật
chứng. Chỉ sau khi nghe ý kiến của những
ngời tham gia tố tụng và kiểm tra, đánh giá
đầy đủ các chứng cứ tại phiên tòa, hội đồng xét
xử mới nghị án để ra các quyết định về việc giải
quyết vụ án.
Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) việc
xét xử tại phiên tòa sơ thẩm tuân theo trình tự
nhất định bao gồm: Thủ tục bắt đầu phiên tòa,
xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa,
nghị án và tuyên án.
đồng xét xử cho phát biểu thêm. Sau đó kiểm
sát viên trình bày ý kiến về hớng giải quyết
vụ án.
2. Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét
thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử có thể quyết
định xét hỏi lại và tranh luận lại.
Nh vậy, theo quy định của các điều luật
trên đây thì thủ tục xét hỏi khác với thủ tục
tranh luận. ở thủ tục xét hỏi, hội đồng xét xử
X
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003 27
đặt câu hỏi và nghe những ngời tham gia tố
tụng trả lời, xem xét các chứng cứ, tài liệu của
vụ án. ở thủ tục tranh luận, đơng sự, những
ngời tham gia tố tụng đợc đa ra ý kiến về
chứng cứ và dựa vào các quy định của pháp luật
để phân tích, lập luận, đa ra các lí lẽ để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Thông
qua việc xét hỏi hội đồng xét xử thẩm tra các
chứng cứ, tài liệu của vụ án, làm rõ thêm các
tình tiết của vụ án. Thông qua việc tranh luận,
hội đồng xét xử nhận thức đợc một cách toàn
diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của
pháp của mình.
Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy
việc quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa nh trên là cha phù hợp, cha bảo
đảm tính dân chủ và bảo vệ các quyền con
ngời trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên
tòa, làm đơng sự ỷ lại, phụ thuộc vào tòa án,
hạn chế tính tích cực, chủ động của đơng sự
trong tố tụng,
(2)
vai trò của luật s tại phiên tòa
bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh
đợc đặt lên vai hội đồng xét xử đặc biệt là chủ
tọa phiên tòa còn các bên đơng sự, ngời đại
diện của đơng sự, ngời bảo vệ quyền lợi của
đơng sự, những ngời tham gia tố tụng khác
chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức
độ hạn chế. Khi phải đảm nhiệm toàn bộ trách
nhiệm chứng minh ở phiên tòa thì hội đồng xét
xử không có điều kiện tập trung xem xét, đánh
giá các chứng cứ, hớng quá trình tranh tụng
giữa các bên đơng sự vào việc làm sáng tỏ các
yêu cầu, các căn cứ thực tiễn và pháp lí của các
yêu cầu đó cũng nh các tình tiết khác nhau về
quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh
tranh chấp giữa các đơng sự. Mặt khác, nếu
tòa án chủ động thu thập chứng cứ thì không
bảo đảm tính khách quan, vô t và công minh
trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng
quyền tự định đoạt của đơng sự.
tòa hoặc tại phiên tòa và cũng không ít trờng
hợp Hội đồng xét xử cha tôn trọng, lắng nghe
ý kiến của luật s, cá biệt còn t tởng coi
thờng vai trò của luật s tại phiên tòa, làm
phiên tòa thiếu dân chủ.
(6)
Do đó, đ đến lúc trình tự, thủ tục tiến hành
phiên tòa đợc quy định lại theo hớng bảo
đảm tòa án thực hiện đúng chức năng của mình
trong tố tụng dân sự. Để đạt đợc mục đích của
tố tụng dân sự là xác định sự thật khách quan
của vụ án thì tòa án không phải tự đi thu
thập chứng cứ mà chỉ xem xét, đánh giá chứng
cứ do các đơng sự cung cấp. Điều này có
nghĩa là nếu đơng sự (hoặc tự mình hoặc có
luật s giúp đỡ) không xuất trình đợc chứng cứ
cho tòa án thì yêu cầu của họ sẽ bị bác bỏ.
(7)
Vì vậy, để thực hiện đúng định hớng nh
Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của Bộ chính trị ngày
2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công
tác t pháp trong thời gian tới đ đề ra: Việc
phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem
xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của
kiểm sát viên nguyên đơn, bị đơn và những
ngời có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những
bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức
chứng, ngời làm chứng), lí lẽ, viện dẫn các
quy định của pháp luật (trong trờng hợp vụ án
do viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức x hội
khởi kiện vì lợi ích chung thì đại diện viện kiểm
sát, tổ chức x hội trình bày quan điểm cùng
các chứng cứ, lí lẽ, căn cứ pháp lí).
- Bị đơn, ngời đại diện của bị đơn hoặc
luật s của bị đơn cũng đa ra các quan điểm
cùng các chứng cứ (giấy tờ, tài liệu, vật chứng,
ngời làm chứng), các căn cứ pháp lí trên cơ
sở đó đa ra lập luận, lí lẽ để bảo vệ quan điểm
của mình, phản bác lại quan điểm, lập luận của
phía nguyên đơn.
- Ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,
ngời đại diện hoặc luật s của họ cũng dựa
vào chứng cứ, căn cứ pháp lí, đa ra các lí lẽ để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đối với những ngời làm chứng khi khai nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003 29
báo tại tòa có thể bị chất vấn bởi đơng sự,
ngời đại diện của đơng sự hoặc luật s của
đơng sự phía bên kia.
Trong quá trình tranh luận giữa những
ngời tham gia tố tụng, nếu có điểm nào cha
rõ thì hội đồng xét xử có quyền hỏi thêm. Cuối
cùng kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án
Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 1/4/2002.
tr.7.
(8).Xem: Nghị quyết số 08/NQ - TƯ của Bộ chính trị
ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
t pháp trong thời gian tới.
Vài nét ảnh hởng (Tiếp theo trang 17)
Ông vừa đề cao t tởng Nho gia vừa chú trọng
vai trò của pháp luật trong đạo trị nớc. Việc sử
dụng pháp luật của ông có nét giống nh cách
làm của Hàn Phi: Phạt nặng, hình phạt không
tránh ai, dùng hình phạt để bớt hình phạt
Đờng lối trị nớc này tạm thời có tác dụng
tích cực đối với lúc bấy giờ. Triều đại Minh
Mệnh là triều đại ổn định và vững vàng nhất
của thời đại Nguyễn. Nhng xu thế phục hồi
Nho giáo vẫn là xu thế bao trùm nên chẳng bao
lâu, sau khi Minh Mệnh mất, các vua kế tiếp là
Thiệu Trị, Tự Đức lại chỉ tôn thờ Nho giáo mà
quên mất t tởng pháp trị.
Chế độ x hội nớc ta ngày nay đ khác với
chế độ trong thời kì phong kiến nhng những
giá trị của các đờng lối quản lí đất nớc trớc
đây của phơng Đông nh Đức trị, Pháp trị
vẫn đợc Nhà nớc Việt Nam hiện tại xem xét
và trân trọng. Thực tiễn lịch sử cho thấy, quản lí
x hội bằng pháp luật là một tiến bộ x hội
đồng thời là xu thế tất yếu của lịch sử. Trong xu
thế đó, Nhà nớc ta coi trọng và đề cao vai trò
của pháp luật, chủ trơng xây dựng nhà nớc