1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HÀ GIANG
THỦ TỤC HỎI VÀ TRANH LUẬN
TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thu Hà
HÀ NỘI - 2011
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt
Các nguyên tắc không thể thiếu của thủ tục hỏi và tranh luận
tại phiên toà dân sự sơ thẩm
30
Chương 2: THỦ TỤC HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TOÀ
DÂN SỰ SƠ THẨM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
37 4
TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004
2.1.
Thủ tục hỏi tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
40
2.2.
Thủ tục tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
65
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG THỦ TỤC HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI
PHIÊN TOÀ DÂN SỰ SƠ THẨM
83
3.1.
Thực tiễn áp dụng thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên toà dân
sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
83
3.1.1.
Những ưu điểm và hạn chế của thực tiễn áp dụng các quy định
về thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
83
Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự nói
chung và phiên tòa sơ thẩm dân sự nói riêng
99
3.2.2.
Nâng cao trình độ nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ của
thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Luật sư
103
3.2.3.
Nâng cao ý thức pháp luật cho quần chúng nhân dân
106 5
3.2.4.
Bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử
108
KẾT LUẬN
110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
112
tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động 1996 là sự phát triển có tính bước ngoặt đối với ngành luật
TTDS Việt Nam. Bộ luật quy định khá đầy đủ và toàn diện các nguyên tắc cơ
bản trong TTDS; trình tự thủ tục khởi kiện các vụ án dân sự; trình tự thủ tục
giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của các cơ quan và người tiến hành tố tụng cũng như quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể tham gia tố tụng.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị "Về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị
quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020" đã đánh giá về tình hình công tác tư pháp trong những năm vừa qua ở
nước ta là:
Công tác tư pháp đã đạt được nhiều kết quả, góp phần quan
trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, 7
công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ tích cực công
cuộc đổi mới Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp nói chung
chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân, còn nhiều
trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các
quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân
dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp [6].
Chính sách hình sự, chế định về pháp luật dân sự và pháp
luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ
sung , nhiệm vụ cải cách tư pháp đang đứng trước nhiều thách
thức… các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động… có chiều hướng
tăng về số lượng và phức tạp, đa dạng hơn [8].
Để có những chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp, thực hiện
tục hỏi và tranh luận tại phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ bảo đảm cho công tác xét
xử được chính xác, toàn diện, khách quan, phát huy được tính phổ biến, tuyên
truyền, giáo dục pháp luật của công tác xét xử nói chung và của phiên toà nói
riêng. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nếu Toà án ra bản án đúng pháp luật thì
không phát sinh việc kháng cáo, kháng nghị, không có việc xét xử lại bản án
sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Điều đó tạo
được tính ổn định nhanh chóng của bản án, tiết kiệm được thời gian, công sức
cũng như tài sản của nhà nước và công dân.
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như nguyên nhân
chủ quan, hiện tượng vi phạm các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên toà
vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi. Việc hỏi tại phiên toà còn phiến diện, không đầy
đủ, tranh luận giữa nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người
tham gia tố tụng khác chưa thật sự dân chủ và bình đẳng. Hậu quả là có việc
xét xử sai, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm
ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và
các cơ quan tư pháp.
Để khắc phục tình trạng nói trên, trên cơ sở quán triệt tinh thần Nghị
quyết 08-NQ/TW về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời 9
gian tới" và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về "Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020"của Bộ Chính trị để thực hiện tốt công cuộc cải cách tư
pháp đang được triển khai sâu rộng trên cả nước, với nhiệm vụ:
Đổi mới việc tổ chức các phiên toà xét xử, xác định rõ hơn
vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ,
nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét
xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp [8].
Làm rõ chủ thể, phạm vi, trình tự, thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên
toà dân sự sơ thẩm.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ nội dung, mục đích, ý nghĩa của các nguyên tắc thủ tục hỏi
và tranh luận tại phiên toà dân sự sơ thẩm.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam và thực tiễn
áp dụng, từ đó chỉ ra những bảo đảm cho việc nâng cao chất lượng thủ tục hỏi
và tranh luận tại phiên toà dân sự sơ thẩm.
4. Phạm vi của đề tài
Đề tài này chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng
thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên toà dân sự sơ thẩm và những bảo đảm nâng
cao chất lượng thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên toà dân sự sơ thẩm.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết các
tranh chấp dân sự và cải cách tư pháp trong tình hình mới. Học thuyết của chủ
nghĩa Mác - Lênin về tổ chức bộ máy nhà nước và những thành tựu của khoa
học pháp lý thế giới và Việt Nam. 11
Phương pháp nghiên cứu luận văn dựa vào chủ nghĩa duy vật biện
chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp
chứng minh.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên
toà dân sự sơ thẩm.
Chương 2: Thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên toà dân sự sơ thẩm theo
hành tố tụng, các bên đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Các
chủ thể tham gia phiên tòa có tư cách tố tụng khác nhau và có các quyền và
nghĩa vụ tố tụng độc lập. HĐXX đảm bảo cho việc xét xử diễn ra theo đúng tố
tụng đồng thời tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật xác định nội dung 13
quyền và nghĩa vụ dân sự cho các bên đương sự cũng như giải quyết triệt để
các vấn đề khác của vụ án. Các đương sự thực hiện hoạt động chứng minh
cho yêu cầu, đề nghị của mình, thuyết phục HĐXX đưa ra phán quyết có lợi
cho họ. Những người tham gia tố tụng khác có trách nhiệm giúp cho HĐXX
tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Để có một phán quyết cuối cùng công
bằng và thuyết phục, mọi diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm dân sự phải tuân
theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định trong pháp luật TTDS.
Phiên tòa sơ thẩm dân sự được xét xử công khai, mọi người đều có
quyền tham dự phiên tòa trừ một số trường hợp phải xét xử kín theo luật định
như trong trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục,
bí mật đời tư, bí mật kinh doanh… nhưng phải tuyên án công khai.
Từ những phân tích trên đây, có khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự
như sau: Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự là hình thức tổ chức hoạt động xét
xử vụ án lần đầu của tòa án, do Tòa án có thẩm quyền thực hiện theo một
trình tự, thủ tục nhất định.
Hoạt động xét xử là khâu trọng yếu nhất của toàn bộ quá trình tố tụng,
là hoạt động của các cơ quan và cá nhân được quyền căn cứ vào pháp luật để kết
luận, đánh giá những vấn đề pháp lý và đưa ra những quyết định có tính bắt
buộc. Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động đặc trưng của Toà án, do
pháp luật quy định theo một thủ tục tố tụng đặc biệt - thủ tục TTDS.
Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
phụ thuộc vào phán quyết của tòa án dựa trên cơ sở xem xét, đánh giá chứng
cứ, kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa cũng như hoạt động áp
cáo có quyền yêu cầu Tòa án thi hành phương sách cần thiết để chứng tỏ sự
thật" (Điều 26). Điều 17 sắc lệnh số 51/ST ngày 17/4/1946 về ấn định thẩm
quyền các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong toà quy định: "Ông
Chánh án chủ toạ những phiên toà công khai ông có nhiệm vụ điều khiển cuộc
thẩm vấn và bảo vệ trật tự phiên toà". Đến Sắc lệnh số 69 ngày 18/6/1949,
quyền bào chữa cho các đương sự được mở rộng. Điều 1 Sắc lệnh này quy định:
"Trước các Tòa án xử việc hộ và thương mại, trước các Tòa án thường và Tòa 15
án đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình, trừ Tòa án binh tại mặt trận, nguyên cáo,
bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là Luật sư bênh vực cho
mình. Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận".
Tiếp tục xây dựng bộ máy tư pháp và pháp luật tố tụng, Sắc lệnh 85
ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng ra đời đã có những
quy định mới liên quan đến phiên tòa sơ thẩm dân sự, theo đó "Ban tư pháp
xã có quyền xử chung thẩm những việc đòi bồi thường hoặc bồi hoàn từ 300
đồng trở xuống" và có quyền "xử sơ thẩm những việc đòi bồi thường hoặc bồi
hoàn quá 300 đ do người bị thiệt hại thỉnh cầu trong đơn kiện hay lúc xét xử"
(Điều 7) . Ngoài ra, Sắc lệnh này đã quy định Hội thẩm nhân dân tham gia
việc xét xử, được nghiên cứu hồ sơ và ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử;
thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân.
Quy định Luật sư được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự.
Về sau các văn bản liên quan đến TTDS ngày càng trú trọng và quy định chi
tiết hơn về phiên tòa dân sự sơ thẩm để việc tiến hành được thuận lợi và thống
nhất như Thông tư 16-TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC) lần đầu tiên đã khái quát được trình tự xét xử tại phiên tòa:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ bảo đảm việc xét
hỏi, tranh luận và giữ gìn trật tự tại phiên tòa. Hội đồng xử án có
nhiệm vụ quyết định mọi vấn đề về nội dung cũng như về thủ tục tố
đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng không rõ nét. Sự ra đời của Nghị quyết 08-
NQ/TW với những quan điểm chỉ đạo có tính đột phá về cải cách tư pháp đã
mở đường cho việc sửa đổi bổ sung chế định phiên tòa nói chung, phiên toà
sơ thẩm dân sự nói riêng theo hướng ngày càng hoàn thiện và tiến bộ hơn đặc
biệt là đề cao yếu tố tranh tụng trong tất cả các phiên tòa, coi đây là khâu đột
phá trong hoạt động của Tòa án.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã đánh giá về tình
hình công tác tư pháp trong những năm vừa qua ở nước ta là: 17
Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm
với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân, còn nhiều trường hợp bỏ lọt
tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ
của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước và các cơ quan tư pháp [6].
Để có những chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp, thực hiện
tốt nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Nghị quyết 08-NQ/TW đã đề ra bốn quan điểm chỉ đạo sau:
1- Công tác tư pháp phải thực hiện đúng đường lối, chủ
trương của Đảng, bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ
chính trị trong từng giai đoạn, bảo đảm quyền lực Nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp,
phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế; giữ vững bản chất của nhà
nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân.
2-Công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp
thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm
Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật về TTDS đặc biệt là BLTTDS
năm 2004 có thể thấy xét xử vụ án dân sự chia làm nhiều giai đoạn khác nhau
trong đó giai đoạn hỏi và tranh luận tại phiên toà đóng vai trò hết sức quan
trọng. Tại đây, mọi tình tiết của vụ án đều được trình bày, kiểm tra, đánh giá
một cách công khai, những người tham gia tố tụng được công khai tranh tụng,
đưa ra lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác
bỏ những lý lẽ, lập luận, chứng cứ của người khác. Việc hỏi và tranh luận tại
phiên toà được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định và phải bảo đảm
thực hiện đúng những nguyên tắc mà BLTTDS đã quy định.
Tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, thứ tự hỏi và trình tự phát biểu khi tranh
luận đề cao vai trò, vị trí của các bên đương sự. Kiểm sát viên tham gia phiên 19
tòa dân sự (nếu có) không có vai trò như trong phiên tòa hình sự, họ chỉ tham
gia với tư cách là người giám sát hoạt động xét xử của tòa án mà không can
thiệp vào nội dung tranh chấp của các đương sự. Vị trí, vai trò của các đương
sự tại phiên tòa thể hiện xu hướng dân chủ trong hoạt động tư pháp, tôn trọng
quyền yêu cầu và tự định đoạt của họ trong quá trình xét xử. Ý chí và sự tự
nguyện của các đương sự luôn được tôn trọng và xem xét trước tiên. Quyết
định tại phiên tòa là sự phán xét của tòa án nhưng có thể đơn giản là ghi nhận
sự thỏa thuận của các đương sự.
Kết quả của phiên tòa sơ thẩm dân sự không nhất thiết phải bằng một
bản án được tuyên tại phiên tòa. Nếu như phiên tòa xét xử vụ án hình sự luôn
kết thúc bằng bản án của tòa án kết án một người phạm một tội cụ thể và hình
phạt kèm theo (trừ trường hợp được miễn hình phạt) hoặc tuyên bố người đó
vô tội thì diễn biến và kết quả của phiên tòa sơ thẩm dân sự còn tùy thuộc vào
quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong quá trình diễn ra phiên
tòa. Phiên tòa sơ thẩm có thể kết thúc bằng một bản án hoặc cũng có thể kết
thúc bằng một quyết định ngay sau khi đương sự rút yêu cầu hoặc thỏa thuận
Thực tiễn cho thấy do xuất phát từ các lợi ích khác nhau, do tư cách
tham gia tố tụng khác nhau cho nên các bên đương sự và những người tham
gia tố tụng khác khi trình bầy, đánh giá chứng cứ, nhận thức pháp luật và đưa
ra các đề nghị về hướng giải quyết vụ án cũng rất khác nhau. Thông qua việc
trình bầy, phân tích, đánh giá nhiều chiều về các chứng cứ cũng như tình tiết
của vụ án, đề xuất pháp luật nội dung cần áp dụng của các bên đương sự,
HĐXX có điều kiện xem xét, quyết định về vụ án một cách toàn diện, đầy đủ,
khách quan tránh phiến diện, định kiến, không được xem nhẹ bất cứ một
chứng cứ, tình tiết nào đã được thu thập và thẩm tra tại phiên tòa
Như vậy thông qua thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở
xem xét, đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ, khách quan, toàn diện HĐXX đưa
ra được phán quyết của mình về việc giải quyết vụ án. HĐXX căn cứ vào các
quy định của pháp luật để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên 21
đơn hay bị đơn, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan… trên cơ sở những
tài liệu, chứng cứ và những lập luận của họ tại phiên tòa cũng như vấn đề ai là
người phải chịu án phí đối với yêu cầu được chấp nhận hay không được chấp
nhận. Vì đây là một khoản nghĩa vụ mà đương sự phải chịu với Nhà nước đối
với yêu cầu khởi kiện theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
1.2.1. Nhận thức chung về Thủ tục hỏi tại phiên toà dân sự sơ thẩm
Hỏi tại phiên toà là một phần, một giai đoạn quan trọng của quá trình
xét xử một vụ án nói chung, vụ án dân sự nói riêng. Đây là cuộc thẩm tra các
tài liệu, chứng cứ chính thức công khai được thực hiện qua việc hỏi nguyên
đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia
tố tụng khác, cùng với việc xem xét vật chứng, các tài liệu nhằm kiểm tra các
chứng cứ và làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án (nếu thực hiện theo như quy
định của BLTTDS hiện hành). "Mục đích của tố tụng hỏi ở tại phiên tòa để
xem xét, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ của vụ án, thông qua đó làm sáng tỏ
lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự và những người tham gia tố tụng
khác hỏi là chủ yếu. Trong trường hợp người được hỏi có mặt tại phiên toà thì
HĐXX không được nhắc lại hoặc công bố lời khai của họ trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử trước khi họ khai tại phiên toà về những tình tiết của vụ án,
trừ khi lời khai của người được hỏi tại phiên toà có mâu thuẫn với lời khai của
họ trước đó hoặc người được hỏi không khai tại phiên toà. Bởi lẽ việc nhắc lại
hoặc công bố lời khai của họ trước có thể là một áp lực tâm lý khiến người
được hỏi không dám khai sự thật, không dám thay đổi lời khai nếu vì một lý
do nào đó mà trong giai đoạn trước họ khai báo chưa chính xác. Điều này ảnh
hưởng đến việc chứng minh, đến quyết định giải quyết vụ án của HĐXX.
Theo quy định tại Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự
kèm theo Thông tư số 96 ngày 8/2/1977 của TANDTC việc xét hỏi tại phiên
tòa quy định cụ thể như sau:
1. Xét hỏi: Trong phần xét hỏi Chủ toạ phiên toà lần lượt
hỏi nguyên đơn, bị đơn, người dự sự, nhân chứng… Khi xét hỏi thì 23
chủ toạ phiên toà hỏi trước, Hội thẩm nhân dân hỏi thêm. Khi hội
đồng xử án hỏi xong thì chủ toạ phiên toà hỏi xem đại diện Viện
kiểm sát nhân dân và luật sư, người bào chữa có hỏi thêm gì không,
nếu những người này có hỏi thì họ có quyền đặt câu hỏi. Sau đó
chủ toạ phiên toà lại hỏi xem những người tham gia tố tụng khác có
hỏi gì thêm…
Nếu có người vắng mặt…. Thì chủ toạ phiên toà công bố lời
khai của họ.
Kết hợp với việc nghe lời khai, chủ toạ phiên toà phải đưa
ra xem xét tài liệu viết, vật chứng…
Bất cứ lúc nào chủ toạ phiên toà cũng có thể cho đối chất
giữa những người đã khai về những điểm có mâu thuẫn… [32].
ra phán quyết của mình. Bởi vậy, HĐXX phải tham gia trực tiếp vào quá trình
hỏi tại phiên tòa… Còn đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, đương sự họ có vai trò chính trong vụ án, họ là người đưa ra các yêu
cầu, ý kiến hay bảo vệ cho thân chủ đã đưa ra yêu cầu, ý kiến đó vì vậy họ phải
tự mình chứng minh cho các yêu cầu, ý kiến đó và để làm được việc này thì họ
phải tích cực tham gia vào quá trình hỏi tại phiên tòa để bảo vệ cho thân chủ của
mình hay bảo vệ cho chính quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án…
Việc quy định cho kiểm sát viên có quyền hỏi tại phiên toà dân sự sơ
thẩm nhằm giúp cho trong phần tranh luận, sau khi các bên đương sự đã đối
đáp xong thì kiểm sát viên nắm rõ nội dung, các tình tiết của vụ án để đưa ra
quan điểm của viện kiểm sát khi kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải
quyết vụ án.
Một vấn đề đặt ra là khi hỏi tại phiên toà, các chủ thể tham gia hỏi mà
không phải là HĐXX hỏi, những người được hỏi như nguyên đơn, bị đơn,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, của bị đơn, kiểm sát
viên … thì những người được hỏi trả lời ai và xưng là "Thưa Hội đồng xét xử"
hay "thưa Kiểm sát viên", "thưa ông, bà" theo quan điểm cá nhân và cũng 25
như thực tiễn thì việc hỏi tại phiên toà là việc thẩm định, kiểm tra các tài liệu,
chứng cứ làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án một cách công khai dưới sự điều
khiển, chỉ huy của HĐXX. Do đó, những người được hỏi trả lời là trả lời với
HĐXX chứ không phải trả lời với một chủ thể tham gia hỏi nào đó. Chính vì
vậy cách xưng hô của bất kỳ một người nào đó được bất kỳ một chủ thể tham
gia hỏi nào hỏi thì họ phải trả lời là "thưa Hội đồng xét xử".
Sau khi đã thực hiện đầy đủ các hoạt động nghiệp vụ trong thủ tục hỏi
tại phiên toà, HĐXX thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì
Chủ toạ phiên toà hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu