BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VY MINH HUYỀN
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
QUA THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TAND CẤP HUYỆN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ HUYỀN
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
“ Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Bùi Thị Huyền
– Giáo viên trực tiếp hướng dẫn, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo
cũng như cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết trong suốt quá
trình hoàn thiện luận văn”.
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
HTND
Hội thẩm nhân dân
4.
PLTTDS
Pháp luật tố tụng dân sự
5.
PLTTGQCVADS
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
6.
PTDSST
Phiên toà dân sự sơ thẩm
7.
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
8.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4. Phương pháp nghiên cứu
5.Những điểm mới và ý nghĩa của luận án
6. Bố cục của luận văn
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
DÂN SỰ SƠ THẨM
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tranh tụng tại PTDSST.
1.2. Cơ sở của tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện tranh tụng tại PTDSST
1.4. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của các quy định pháp luật
TTDS Việt Nam có liên quan đến tranh tụng
1.5. Tranh tụng tại PTDSST theo pháp luật của một số nước trên thế giới
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ TRANH TỤNG TẠI PTDSST
2.1. Các quy định của BLTTDS đảm bảo tranh tụng tại PTDSST
2.2. Các quy định của BLTTDS về thủ tục tranh tụng tại PTDSST
2.3. Các quy định của BLTTDS về vai trò của Tòa án, Viện kiểm sát vả
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đối với tranh tụng tại
PTDSST:
CHƯƠNG 3
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ
SƠ THẨM TẠI TAND CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG
SƠN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
3.1. Thực tiễn thực hiện tranh tụng tại PTDSST tại TAND cấp huyện trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tranh tụng tại PTDSST
dụng to lớn đối với chính giai đoạn xét xử. Nó chính là cơ chế tối ưu nhất để bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự, đảm bảo giải quyết vụ án đúng pháp
luật. Chính vì tầm quan trọng của nó nên Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ
chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã để
cập đến việc nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án là khâu trung tâm, đột phá, quyết
định của hoạt động tư pháp, phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa.
Trong những năm qua, các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự ở nước ta đặc biệt là
tại các Tòa án nhân dân các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn xẩy ra ngày càng nhiều, với tình tiết ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến trật tự xã
hội và pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tư
pháp, đặc biệt là Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều cố
gắng trong công tác tư pháp, nên góp phần vào việc giữ vững an ninh – chính trị, trật
tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân huyện trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân
giao phó, vẫn bộc lộ nhiều yếu kém, chưa bảo vệ được tốt nhất quyền và lợi ích chính
đáng của người dân, hiện tượng oan sai vẫn còn xẩy ra nhiều. Chính điều này đã tạo
nên những dư luận không tốt, khiến người dân mất lòng tin vào Tòa án và nền Công lý
Xã hội chủ nghĩa.
Chính vì những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Tranh tụng tại phiên tòa dân
sự sơ thẩm qua thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn” trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn áp dụng những quy định của thủ tục
giải quyết việc dân sự có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Mặc dù trong quá trình hoàn thiện luận văn, bản thân tác giả cũng không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
dẫn đến nhiều cách hiểu và cách áp dụng khác nhau, thậm chí còn có một số vấn đề
mà Bộ luật chưa đề cập đến. Chính những điều này đã làm cho hoạt động tranh tụng
tại phiên tòa gặp rất nhiều khó khăn, chưa thực sự đi vào bản chất nên hiệu quả thực
hiện trên thực tế chưa cao.
Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc đó, BLTTDS đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều được thông qua tại Quốc Hội khóa XII có hiệu lực kể từ ngày
01/01/2012 đã đánh dấu một bước phát triển mới trong việc quy định một nguyên
tắc – “Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận của các đương sự”. Điều này đã tạo ra
cơ sở pháp lý vững chắc cho việc mở rộng tranh tụng trong thời gian tới.
Ngày 28/11/2013, với tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội khóa XIII đã thông
qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Sau đây gọi tắt là Hiến
pháp năm 2013). Đây là một sự kiện chính trị – pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh
dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta. Tại bản Hiến pháp, lần
đầu tiên ghi nhận nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử: “Nguyên tắc tranh
tụng trong xét xử được bảo đảm” (Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013). Việc
hiến định nguyên tắc tranh tụng mang một ý nghĩa quan trọng, một mặt đã thể chế
hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, mặt khác đã tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức và trong hoạt động thực tiễn xét xử, đặc biệt
là tại PTDSST. Bên cạnh ý nghĩa đó, việc quy định nguyên tắc tranh tụng trong
Hiến pháp là tiền để để xây dựng và hoàn thiện các quy định về đảm bảo tính tranh
tụng trong các văn bản pháp luật của nước ta.
Tuy nhiên, trên thực tiễn thi hành hiện nay thì hoạt động tranh tụng tại
PTDSST diễn ra tại các Tòa án nhân dân huyện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn diễn ra
chưa sâu, thời gian diễn ra phiên tòa chiếm phần nhiều là thủ tục hỏi tại phiên tòa,
phần thủ tục tranh tụng giữa các bên thường diễn ra nhanh, phiến diện, đa phần chỉ
3
mang tính hình thức chưa đi vào bản chất. Từ đó kết quả giải quyết các vụ án dân sự
Anh bảo vệ năm 2003, khóa luận “Tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam trước
yêu cầu cải cách tư pháp” bảo vệ thành công năm 2011 của tác giả Trần Thị Thu
Nga; Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cao Thị Sáu về “Tranh tụng trong tố tụng
dân sự Việt Nam” bảo vệ năm 2012; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do TS
Nguyễn Thị Thu Hà về “Tranh tụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam trước yêu cầu
cải cách tư pháp” năm 2011....Bên cạnh đó các bài viết đăng trên Kỷ yếu Hội thảo
của Nhà pháp luật Việt – Pháp ngày 18/01/2002 về “Một số nội dung nguyên tắc tố
tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng,
bổ nhiệm và quản lý Thẩm phán”; Bài viết đăng trên trang Thông tin khoa học pháp
lý của Bộ tư pháp về “Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng dân sự” năm 2004;
bài viết “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa” của tác giả Trần Văn Độ đăng trên
Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2004; Bài viết “Bàn về tranh tụng tại phiên tòa
trong vụ án dân sự, kinh tế, lao động” của tác giả Phạm Công Bảy đăng trên Đặc
san Nghề luật số 5/2003 đều đã nghiên cứu về vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân
sự.
Trong tất cả các công trình nghiên cứu trên, mỗi công trình đều nghiên cứu
vấn đề tranh tụng trên một phương diện, một khía cạnh khác nhau. Duy chỉ có Luận
văn của Thạc sĩ Luật học Nguyễn Thị Thu Hà nghiên cứu về Tranh tụng tại phiên
tòa dân sự sơ thẩm có cùng phương diện nghiên cứu với đề tài này, nhưng Luận văn
thạc sĩ của Thạc sĩ luật học Nguyễn Thị Thu Hà đã bảo vệ thành công năm 2002,
trên cơ sở nghiên cứu những quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự, khi chưa có sự ra đời của Bộ luật TTDS năm 2004. Từ thời điểm luận văn
bảo vệ đến nay, đã có rất nhiều những vấn đề pháp lý đã được sửa đổi, bổ sung và
cũng có rất nhiều những biến đổi về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, chính sách
của Đảng và Nhà nước ta. Do đó những nội dung được đề cập trong luận văn đã
không còn phù hợp với những quy định pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, luận văn là
một nguồn tài liệu tham khảo quý giá trong việc nghiên cứu đề tài này của bản thân.
5
Bên cạnh đó tiến hành nghiên cứu, tham khảo thêm quy định của pháp luật
một số nước trên thế giới liên quan đến vấn đề tranh tụng tại PTDSST nhằm so sánh
với quy định của pháp luận nước ta, từ đó đưa ra được những điểm tiến bộ mà pháp
luật nước ta cần học hỏi để hoàn thiện vấn đề tranh tụng tại PTDSST.
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
Trong giới hạn của đề tài, nội dung của luận văn chỉ tập chung vào nghiên cứu
những vấn đề pháp lý sau:
- Những vấn đề lý luận về tranh tụng trong TTDS;
- Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tranh tụng tại PTDSST
và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;
- Định hướng những cải cách, đề ra những phương hướng hoàn thiện những
quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề tranh tụng tại PTDSST nhằm nâng cao
hiệu quả của tranh tụng trong giai đoạn tố tụng này.
Đề tài chỉ nghiên cứu về tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự mà
không nghiên cứu về tranh tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự. Trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự, luận văn chỉ nghiên cứu những quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành liên quan đến vấn đề tranh tụng tại PTDSST, không đề cập đến
vấn đề tranh tụng diễn ra tại các giai đoạn khác.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về Nhà nước và pháp luật
của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp được sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu khoa
học chuyên ngành như: Phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng
hợp và phương pháp xã hội học như lấy số liệu, khảo sát, sử dụng các kết quả thống
kê, báo cáo…
5, Những điểm mới và ý nghĩa của luận án:
Về mặt khoa học:
7
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Chương 2: Nội dung các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về tranh tụng
tại phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Chương 3: Thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm tại Tòa án nhân
dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và một số kiến nghị hoàn thiện.
9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN
SỰ SƠ THẨM
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tranh tụng tại PTDSST.
1.1.1. Khái niệm tranh tụng trong TTDS.
Trên thế giới hiện nay đang tồn tại hai hệ thống tố tụng chủ yếu là: Tố tụng
tranh tụng và tố tụng xét hỏi. Tố tụng tranh tụng là thủ tục tố tụng được áp dụng
rộng rãi ở các nước theo hệ thống luật án lệ COMMON LAW (Các nước Anh, Mỹ,
Ấn Độ, Austraylia, New Ziland...). Còn tố tụng xét hỏi được sử dụng phổ biến ở các
nước theo hệ thống pháp luật CIVIL LAW (Các nước Pháp, Italia, Đức...). Theo
nhiều nhà nghiên cứu luật học thì loại hình tố tụng tranh tụng xuất hiện sớm nhất ở
Châu Âu cùng với sự xuất hiện của Tòa án nhà nước. Loại hình tố tụng này được áp
dụng ở Hy Lạp cổ đại, sau đó được du nhập vào La Mã với tên gọi là “Thủ tục hỏi
đáp liên tục” [9, tr 2] và trở nên phổ biến tại Anh và nhiều nước khác.
Ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành nói chung, TTDS
nói riêng thì mô hình TTDS tại phiên tòa sơ thẩm theo hướng xét hỏi kết hợp với
tranh luận. Trong các quy định đó, chưa xuất hiện cụm từ “tranh tụng”. Cụm từ
khi bắt đầu khởi kiện. Các đương sự tham gia vào các giai đoạn này luôn đưa ra yêu
cầu Tòa án xét xử theo hướng có lợi cho mình, đưa ra lý lẽ để biện minh cho yêu
cầu của mình đặt ra là có căn cứ và đúng pháp luật. Theo cách hiểu này thì tranh
tụng là quá trình giải quyết vụ án theo đó các đương sự có quyền tranh luận về các
yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
- Về mặt lý luận: Xung quanh khái niệm tranh tụng trong TTDS có nhiều quan
điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng là mối tương quan pháp lý giữa các
đương sự” [12, tr 367]. Phân tích quan điểm này ta thấy rằng nếu tranh tụng chỉ là
mối tương quan pháp lý giữa các đương sự là chưa chính xác, bởi vì các đương sự
11
chỉ khởi kiện ra Tòa án trong trường hợp các đương sự đã không thể tự mình giải
quyết được các mâu thuẫn của mình nên họ cần đến Tòa án đứng ra phân xử, giải
quyết các mâu thuẫn giữa họ. Do đó, tranh tụng không chỉ là mối quan hệ giữa các
đương sự mà còn bao hàm trong đó cả mối quan hệ giữa Tòa án và các đương sự.
Quan điểm thứ hai: “Sự tranh tụng phát sinh ra hai mối tương quan: giữa các
đương sự tranh nại với nhau và giữa các đương sự và Quốc gia mà đại diện là Tòa
án có thẩm quyền” [12, tr 367]. Quan điểm này chưa nói lên được bản chất của
tranh tụng là gì và ý nghĩa của tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án ra sao.
Quan điểm thứ ba: “Sự tranh tụng là quá trình từ khi tố quyền được hành xử
cho đến khi có một phán quyết của Tòa án” [12, tr 367]. Nếu hiểu tranh tụng theo
quan điểm này thì coi tranh tụng là một quá trình bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi
kiện cho đến khi có bản án, quyết định của Tòa án thì chưa đầy đủ, cũng chưa nêu
lên được bản chất, ý nghĩa của tranh tụng, chưa nói lên được các chủ thể tham gia
vào quá trình tranh tụng đó được phép thực hiện những hành vi tố tụng nào và nhằm
mục đích gì?.
quan và đầy đủ; Các đương sự phải được đối đáp, tranh luận với nhau về chứng cứ,
căn cứ pháp lý, đưa ra các lập luận, các quan điểm khác nhau về việc giải quyết vụ
án. Tất cả các hoạt động như đưa ra yêu cầu, phản yêu cầu, trao đổi chứng cứ, tài
liệu, căn cứ pháp lý, quan điểm biện hộ của đối phương, đối chất giữa các
bên...trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá
trình tranh tụng.
Từ những phân tích trên thì khái niệm tranh tụng trong TTDS được hiểu thống
nhất như sau: Tranh tụng trong TTDS là quá trình hoạt động của các chủ thể tố
tụng. Được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật, theo đó các bên chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển của Tòa
án được đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh
cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do
pháp luật TTDS quy định. Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ án dân sự căn cứ vào
kết quả tranh tụng của các chủ thể tranh tụng.
1.1.2. Khái niệm tranh tụng tại PTDSST.
13
PTDSST thể hiện đầy đủ nhất bản chất của quá trình tranh tụng nói chung và
xét xử nói riêng. Phiên tòa có sự tham gia đầy đủ của các cơ quan tiến hành tố tụng,
những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng với địa vị pháp lý
được xác định. Thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ý
kiến, đánh giá và đề xuất của các bên tham gia tố tụng, Tòa án tiến hành xác định sự
thật khách quan của vụ án và đưa ra các phán quyết giải quyết vụ án một cách đúng
đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật. Tranh tụng tại PTDSST được tiến hành
công khai, bằng lời nói để làm rõ các yêu cầu, căn cứ thực tiễn và pháp lý của các
yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác liên quan đến việc xác lập lại cho đúng các
quan hệ pháp luật dân sự mà các bên tham gia hoặc quan hệ mà pháp luật điều
chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên khi có sự kiện pháp lý xẩy ra theo đó xác
xem xét các chứng cứ, lý lẽ và căn cứ pháp lý các bên đương sự đã đưa ra trong quá
trình tranh tụng để giải quyết vụ án. Mọi phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết
quả của quá trình tranh tụng giữa các bên đương sự.
Thứ ba, quá trình tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành một cách công khai,
trực tiếp và bằng lời nói.
Tại phiên tòa, các bên đương sự được trực tiếp trình bày các yêu cầu, đưa ra
các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bằng lời nói. Việc các bên đương sự trực tiếp
trình bày, tranh luận bằng lời nói là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách
quan, trung thực trong lời khai của họ, giúp HĐXX giải quyết các yêu cầu của
đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án. Những chứng
cứ, tài liệu nào đó nếu không được trực tiếp thẩm tra công khai tại phiên tòa đều
không được dùng làm căn cứ cho các quyết định của Tòa án.
Thứ tư, về căn cứ tranh luận, chủ thể tranh tụng được tranh luận về các yêu
cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Để có thể phán quyết một bản án, quyết định công minh, làm sáng tỏ được
những tình tiết cần chứng minh của vụ án bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp
của các đương sự thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định
giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước HĐXX, trình bày quan
điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án nhằm mục đích để HĐXX giải
15
quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết
vụ án.
Thứ năm, quá trình tranh tụng giữa các chủ thể phải tuân thủ theo trình tự, thủ
tục, thời hạn do pháp luật quy định.
Pháp luật TTDS và hoạt động TTDS của Tòa án nói chung và các chủ thể tham
gia TTDS nói riêng là hai mặt không thể tách rời của một quy trình tố tụng. Pháp
luật TTDS là cơ sở pháp lý của hoạt động TTDS, vì vậy khi thực hiện quyền và
công khai và minh bạch của TTDS.
Tranh tụng là một phương thức tố tụng thể hiện rõ tính chất dân chủ, công khai
và minh bạch của TTDS. Trong quá trình thực hiện việc tranh tụng, các đương sự,
người đại diện của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
đương sự đều được bình đẳng, chủ động và công khai đưa ra các chứng cứ, căn cứ
pháp lý và đối đáp nhau để làm rõ sự thật khách quan của vụ án dân sự. Tòa án là cơ
quan tiến hành tố tụng đóng vai trò giám sát quá trình tranh tụng, sử dụng kết quả
tranh tụng của các bên để giải quyết vụ án dân sự một cách khách quan, công bằng
và đúng pháp luật.
Hai là, tranh tụng đã tạo ra cơ hội cho các bên đương sự bảo vệ quyền lợi và
lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án.
Với việc giải quyết vụ án dân sự theo phương thức tranh tụng, các đương sự có
điều kiện trong việc trình bày, đưa ra những chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, tranh tụng cũng buộc các đương sự phải nỗ
lực, tích cực hơn nữa trong việc tham gia tố tụng. Kết quả tranh tụng là cơ sở để
Tòa án quyết định giải quyết vụ án nên đương sự phải tìm đủ mọi cách để thu thập
chứng cứ và tìm ra căn cứ pháp lý để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn
cứ, hợp pháp và bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia.
23
Ba là, tranh tụng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, giúp
cho Tòa án giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, đảm bảo cho bản án, quyết
định của Tòa án đã tuyên là có căn cứ và hợp pháp.
17
Tranh tụng không những tạo điều kiện cho đương sự thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình mà qua quá trình tranh tụng, “Các chủ thể tham gia tố tụng giúp
cho Tòa án không những hiểu rõ yêu cầu của các đương sự, có được những chứng
cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để xác định chân lý khách quan của vụ kiện mà còn giải
thiện, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Trong vấn đề tranh tụng cũng vậy,
muốn quy định tranh tụng trong TTDS nói chung và trong PTDSST nói riêng thì
phải chỉ rõ được cơ sở để hình thành, quy định vấn đề này. Tranh tụng tại PTDSST
được hình thành dựa trên ba cơ sở: Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý.
1.2.1. Cơ sở lý luận.
Cơ sở lý luận đầu tiên để tranh tụng tại PTDSST hình thành và phát triển đó là
bảo vệ quyền con người. Quyền con người là những quyền tự nhiên mà tạo hóa ban
cho con người và không thể bị tước bỏ bởi bất kỳ ai và bất kỳ chính thể nào. Tôn
trọng và thực hiện quyền con người luôn là vấn đề trọng tâm được tất cả các nhà
nước, các hình thái xã hội quan tâm, lấy đó làm nền tảng để phát triển cũng như đề
ra các chính sách, chủ trương. Nhà nước sinh ra là để đại diện cho nhân dân, để
phục vụ nhân dân, do đó, dù tồn tại dưới thể chế nào thì hoạt động của Nhà nước
cũng phải nhằm mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Mỗi
thể chế chính trị đã đặt ra nhiều bộ máy công quyền dưới nhiều hình thức khác nhau
để thực hiện vấn đề bảo vệ quyền con người như Tòa án, Công an, Viện kiểm sát,
Quân đội... Có được sự bảo vệ đó từ phía các cơ quan Nhà nước là kết quả của sự
đấu tranh không ngừng nghỉ của toàn nhân loại.
Cơ sở lý luận thứ hai của việc quy định tranh tụng tại PTDSST là sự bình đẳng
và công bằng giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Bình đẳng và
công bằng là yếu tố quan trọng nhất, là hạt nhân của hoạt động xét xử. Theo Điều
10 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Mọi người
đều có quyền trình bày việc của mình một cách vô tư và công khai với sự bình đẳng
hoàn toàn, trước một Tòa án độc lập và không thiên vị, để Tòa án này quyết định
các quyền và nghĩa vụ của họ”. Điều này đã được nhắc lại tại Điều 14 Công ước
quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam cũng là thành viên
“Tất cả mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tài phán. Bất kỳ người
19