BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRỊNH XUÂN TÙNG
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
QUA THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Triều Dương
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng bản thân
và được sự hướng dẫn tận tình của TS. Nguyễn Triều Dương. Các nội dung
nghiên cứu, số liệu thống kê trong công trình nghiên cứu này là trung thực.
Các thông tin sử dụng trong luận văn có nguồn gốc, có trích dẫn và chủ thích
rõ ràng. Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của mình.
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TS. Nguyễn Triều Dương
Hà Nội, ngày 04/8/2016
Tác giả luận văn
7. TAND:
Tòa án nhân dân
8. TANDTC:
Tòa án nhân dân tối cao
9. VKSNDTC:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài....................................................................... 2
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài................................................................. 4
5. Bố cục luận văn......................................................................................... 4
PHẦN NỘI DUNG....................................................................................... 5
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRANH TỤNG
5
TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM.......................................................
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tranh tụng trong tố tụng dân sự.... 5
1.1.1. Khái niệm về tranh tụng tố tụng dân sự.............................................. 5
1.1.2. Đặc điểm tranh tụng trong tố tụng dân sự.......................................... 9
38
Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
39
NAM VỀ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM............
2.1. Sơ lược các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về tranh tụng 39
trong các giai đoạn........................................................................................
2.1.1. Giai đoạn trước năm 1945.................................................................. 39
2.1.2. Giai đoạn 1945 đến 1980.................................................................... 39
2.1.3. Giai đoạn từ 1990 đến 2004................................................................ 41
2.1.4. Giai đoạn từ 2005 đến trước khi có BLTTDS 2015............................ 42
2.1.5. Giai đoạn từ khi có BLTTDS 2015 ..................................................... 43
2.2. Các quy định của BLTTDS 2015 về tranh tụng tại PTDSST................ 45
2.3. Các quy định của BLTTDS 2015 về bảo đảm tranh tụng tại PTDSST.. 56
2.3.1. Các đương sự thực hiện quyền tranh tụng tại PTDSST một cách 56
bình đẳng, công khai và đúng pháp luật. Các phán quyết của Tòa án đều
dựa vào những chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ chứng minh đã được quy
định công khai tại phiên tòa.........................................................................
2.3.3. Quy định quyền được biết trước yêu cầu của đương sự.....................
57
2.3.4. Quy định về sự có mặt của các đương sự...........................................
60
2.4. Các quy định của BLTTDS 2015 về vai trò của Tòa án và người bảo
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa dân
72
sự sơ thẩm.....................................................................................................
3.3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện tranh tụng và mở rộng
76
tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm........................................................
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.............................................................................
81
PHẦN KẾT LUẬN....................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................... 85
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tranh tụng trong tố tụng dân sự có vai trò rất lớn trong việc giải quyết
vụ án dân sự, tìm ra sự thật khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong đó tranh tụng tại phiên tòa
dân sự có vai trò quan trọng nhất. Toàn bộ chứng cứ, tài liệu, các tình tiết của
vụ án được đưa ra xem xét và đánh giá công khai, khách quan và toàn diện
cùng với lý lẽ của các chủ thể. Xác định được tầm quan trọng của hoạt động
tranh tụng trong tố tụng dân sự nói chung và tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ
thẩm nói riêng, tại Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
Việc nghiên cứu đề tài “Tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm qua
thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thanh Hóa” sẽ chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong
quá trình giải quyết, xét xử các vụ án dân sự khi áp dụng BLTTDS 2011 và
chỉ ra được những điểm mới của BLTTDS 2015 cũng như việc khắc phục
những thiếu sót của BLTTDS 2011.
Do đó, việc lựa chọn đề tài “Tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
qua thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thanh Hóa” là cần thiết trong bối cảnh
BLTTDS 2015 vừa có hiệu lực từ ngày 01/7/2016.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, ở nước ta vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự đã
thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học. Một số công trình
nghiên cứu của một số tác giả có liên quan như: Luận văn thạc sĩ của tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà "Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn" đã bảo vệ thành công tại trường Đại học Luật Hà Nội năm
2002; “Mở rộng tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Minh Anh, năm 2003; Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thu
Hà về “Tranh tụng trong tố tụng dân sự trước yêu cầu cải cách tư pháp” năm
2011...
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý
như: “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa” của tác giả Trần Văn Độ đăng
trên tạp chí khoa học pháp lý số 4/2004; “Bàn về tranh tụng tại phiên tòa
trong vụ án dân sự, kinh tế, lao động” của tác giả Phạm Công Bảy đăng trên
3
đặc san Nghề luật số 5/2003; Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Tranh tụng trong
tố tụng dân sự ở Việt Nam trước yêu cầu cả cách tư pháp” bảo vệ tại trường
Đại học Luật Hà Nội năm 2010...
Những công trình nghiên cứu trên đều được thực hiện trước khi có
BLTTDS 2015 so với BLTTDS 2011; định hướng những cải cách, đề ra
những phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật liên đến đến tranh
tụng tại PTDSST nhằm nâng cao hiệu quả của tranh tụng trong giai đoạn này.
Đề tài chỉ nghiên cứu về tranh tụng tại PTDSST, không đề cập đến vấn đề
tranh tụng diễn ra tại các giai đoạn, các cấp xét xử khác của tố tụng dân sự.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Quá trình nghiên
cứu, đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân
tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp điều
tra xã hội học, phương pháp thống kê.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tranh tụng tại phiên tòa dân
sự sơ thẩm
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về tranh
tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
Chương 3: Thực tiễn thực hiện tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
tại tỉnh Thanh Hóa và một số kiến nghị
5
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRANH
TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tranh tụng trong tố tụng
dân sự
1.1.1. Khái niệm về tranh tụng tố tụng dân sự
dân sự Nga đã quy định nguyên tắc tranh tụng tại Điều 12 của Bộ luật này
“1.Việc xét xử được tiến hành theo nguyen tắc tranh tụng và bình đẳng giữa
các bên. 2. Tòa án điều khiển quá trình tranh tụng một cách độc lập, khách
quan, vô tư, giải thích cho những người tham gia tố tụng về quyền và nghĩa
vụ của họ, báo trước về hậu quả pháp lý do thực hiện hoặc không thực hiện
hành vi tố tụng, giúp đỡ những người tham gia tố tụng trong việc thực hiện
quyền của mình tạo mọi điều kiện để việc nghiên cứu chứng cứ được toàn
diện và đầy đủ, xác định sự thật của vụ án và áp dụng đúng đắn những quy
định của pháp luật khi giải quyết những vụ án dân sự.”
Ở Việt Nam sau khi có Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 2/1/2002 về Một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới của Bộ Chính trị
thì vấn đề tranh tụng được các nhà lý luận và những người làm công tác thực
tiễn đặc biệt quan tâm. Nhưng đến nay, vẫn đang còn tồn tại cách hiểu và
nhận thức chưa thống nhất về tranh tụng.
Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán Việt từ điển thì tranh tụng có
nghĩa là “cái lẽ, cãi nhau để tranh lẽ phải”4. Còn theo Đại từ điển tiếng Việt
thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng”5. Theo cách giải thích này, thì tranh
tụng chính chính là quá trình giải quyết vụ án dân sự, theo đó các bên đương
sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khái niệm tranh tụng được ghi nhận trong Từ điển luật học năm 2006:
“Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố
Thiều Chửu (1993), Hán - Việt từ điển, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh,
tr.621.
5 Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn Hóa - thông tin, Hà Nội, tr.1686.
4
7
8
8
nhằm bảo vệ quyền lợi của mình và Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh
tụng giữa các bên để ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự”9.
Từ quá trình nghiên cứu các quan điểm trên, có thể nói nếu tranh tụng
được hiểu như quan điểm thứ nhất thì chưa đầy đủ bởi quan điểm này mới chỉ
coi tranh tụng là một quá trình bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện cho đến
khi có bản án, quyết định của Tòa án mà chưa thể hiện được bản chất, ý nghĩa
của tranh tụng. Nếu tranh tụng được hiểu theo quan điểm thứ hai thì tuy phần
nào nói lên được bản chất của tranh tụng nhưng nội hàm của khái niệm này lại
quá hẹp. Theo đó, tranh tụng trong TTDS chỉ diễn ra ở phiên tòa, tranh tụng
trong TTDS đồng nghĩa với tranh tụng tại phiên tòa và chỉ giới hạn trong
phần tranh luận của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa là chưa đầy đủ. Về
ngữ nghĩa, thuật ngữ tranh tụng trong TTDS và tranh tụng tại phiên tòa là
khác nhau. Thực chất tranh tụng tại phiên tòa chỉ là sự biểu hiện tập trung cao
nhất của tranh tụng TTDS. Theo quan điểm thứ ba, mặc dù khái niệm đã phản
ánh được bản chất của tranh tụng nhưng lại không khái quát được giới hạn
của quá trình tranh tụng, cụ thể là hoạt động tranh tụng sẽ được bắt đầu và kết
thúc ở thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Tôi cho rằng, khái niệm tranh tụng dù được nhìn nhận dưới góc độ nào
thì cũng là phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình trước Tòa án đồng thời để Tòa án tìm ra được sự thật khách quan
của vụ án. Nói cách khác, tranh tụng là quá trình hoạt động của các chủ thể tố
tụng được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi Tòa án ban
hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong hoạt động tranh tụng,
các chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển của Tòa án được đưa ra chứng cứ,
lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì các bên đương sự
phải đưa ra lập luận và chứng cứ, tài liệu trước phiên tòa. Do đó, tranh tụng
trong tố tụng dân sự không đồng nghĩa với tranh luận tại phiên tòa. Hoạt động
tranh tụng được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện đến khi có bản án hoặc
quyết định giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
10
Thứ hai, trong quá trình tranh tụng, nghĩa vụ thu thập chứng cứ và
trách nhiệm chứng minh thuộc về các đương sự.
Trong vụ án dân sự, các đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội
dung được Tòa án xem xét giải quyết, họ phải có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn
đề, chứng tỏ cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự
đúng đắn trong yêu cầu của mình, đồng thời chứng minh rằng bị đơn phải có
nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình. Nguyên tắc tối cao trong TTDS là nguyên
tắc quyền tự định đoạt của các đương sự. Do đó, pháp luật tố tụng dân sự quy
định các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, đồng nghĩa với
nghĩa vụ chứng minh để làm rõ các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ án, các
cơ sở cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự phía bên kia là có căn
cứ và hợp pháp. Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án dân sự được khách
quan, đúng pháp luật, giữa các đương sự phải được bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ tố tụng dân sự. Trong quá trình tranh tụng, các đương sự có quyền
trao đổi, được biết những chứng cứ do bên đối phương cung cấp, được quyền
đưa ra các căn cứ pháp lý để chứng minh biện luận cho quyền lợi hợp pháp
của mình trước Tòa án. Trong quá trình tranh tụng, đương sự có nghĩa vụ thu
thập chứng cứ, Tòa án không chủ động thu thập chứng cứ mà chỉ thu thập
chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng khi xét thấy cần thiết để đảm
bảo ban hành quyết định khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác. Trên cơ
sở những chứng cứ, căn cứ pháp lý và lập luận của các đương sự đưa ra, Tòa
của các cá nhân, tổ chức đó.
Thứ nhất, tranh tụng đã tạo cơ hội cho các bên đương sự bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án.
Với việc giải quyết vụ án dân sự, khi các đương sự tham gia vào hoạt
động tranh tụng, các đương sự có điều kiện trình bày, đưa ra các chứng cứ, lỹ
lẽ, căn cứ pháp lý, lập luận để chứng minh cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp
của mình. Khi tham gia vào tranh tụng, các đương sự phải chủ động, nỗ lực,
tích cực hơn trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ
12
để chứng minh, lập luận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Kết quả
tranh tụng là cơ sở quan trọng để Tòa án quyết định giải quyết vụ án nên các
đương sự phải nỗ lực để thực hiện nghĩa vụ chứng minh, tìm ra căn cứ pháp lý
thuyết phục Hội đồng xét xử về yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp,
đồng thời nhằm bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia.
Thứ hai, tranh tụng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
dân sự giúp cho Tòa án giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác và
đúng pháp luật.
Thứ ba, tranh tụng trong tố tụng dân sự thể hiện tính chất dân chủ,
công khai và minh bạch của TTDS.
Trong quá trình thực hiện tranh tụng, các đương sự, người đại diện của
đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đều được
bình đẳng, chủ động, công khai trong việc đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp
lý và đối đáp với nhau để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Tất cả các
đương sự đều có cơ hội trình bày yêu cầu, chứng cứ, lỹ lẽ, lập luận của mình
và được biết các yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ, lập luận của phía bên kia một cách
công khai. Tòa án đóng vai trò giám sát quá trình tranh tụng để đảm bảo cho
quá trình này được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, trên cơ sở đó sử
hệ mà pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên khi có sự kiện
pháp lý xảy ra theo đó xác định đúng các quyền, nghĩa vụ của mỗi bên theo
quy định của pháp luật.
Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm là quá trình làm rõ
sự thật khách quan của vụ án tại phiên tòa giữa các bên có quyền đối lập
nhau, phản kháng với nhau bằng các chứng cứ, lý lẽ, lập luận tại phiên tòa
nhằm chứng minh rằng những yêu cầu hoặc phản bác yêu cầu của mình đối
với bên kia là xác đáng, có căn cứ, cơ sở và đúng pháp luật, ngược lại những
yêu cầu hoặc phản bác của bên kia là không có căn cứ và không đúng pháp
luật.
14
1.2.2. Đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
Thứ nhất, chủ thể của tranh tụng tại PTDSST là các đương sự. Họ giữ
vai trò chủ động, quyết định kết quả của quá trình tranh tụng.
Đương sự tham gia tranh tụng xuất phát từ chính yêu cầu bảo vệ
quyền và lợi ích của họ trong vụ án, kết quả tranh tụng ảnh hưởng trực tiếp tới
quyền và lợi ích của bản thân các đương sự. Hơn nữa, các vụ án dân sự xuất
phát chủ yếu là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự. Vì
vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì các
đương sự có trách nhiệm chứng minh cho Tòa án và những người tham gia tố
tụng khác thấy được rằng yêu cầu của mình là đúng đắn và có căn cứ, đồng
thời đưa ra được những tài liệu, chứng cứ, lập luận chứng minh rằng đương sự
bên kia phải có nghĩa vụ đối với mình. Trong suốt quá trình tố tụng, các bên
đương sự bình đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý
lẽ, căn cứ hợp pháp của mình để chứng minh, biện hộ cho quyền lợi ích hợp
pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Thứ hai, trong quá trình tranh tụng Tòa án có vai trò quan trọng như
của đương sự nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Để có thể phán quyết một bản án, quyết định công minh, làm sáng tỏ
được những tình tiết cần chứng minh của vụ án, bảo vệ được quyền và lợi ích
hợp pháp của các đương sự thì các đương sự phải được tranh luận về chứng
cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước hội
đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án
nhằm mục đích để hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra
các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án. Các đương sự có trách
nhiệm chứng minh cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy
được rằng yêu cầu của mình là đúng đắn và có căn cứ, đồng thời đưa ra được
những tài liệu, chứng cứ, lập luận chứng minh rằng đương sự bên kia phải có
nghĩa vụ đối với mình. Trong suốt quá trình tố tụng, các bên đương sự bình
đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ hợp
pháp của mình để chứng minh, biện hộ cho quyền lợi ích hợp pháp của mình
trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật.
16
Thứ năm, quá trình tranh tụng tại PTDSST giữa các chủ thể phải tuân
thủ theo trình tự, thủ tục thời hạn do pháp luật quy định.
Pháp luật TTDS và hoạt động TTDS của Tòa án nói chung và các chủ
thể tham gia TTDS nói chung là hai mặt không thể tách rời của một quy trình
tố tụng. Pháp luật TTDS là cơ sở pháp lý của hoạt động TTDS, vì vậy khi
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình các chủ thể tham gia và quá trình tranh
tụng phải tuân theo đúng trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định,
nếu không tuân theo thì các quyền và lợi ích dù hợp pháp cũng có thể không
được công nhận.
Thứ sáu, phạm vi tranh tụng là tất cả các vấn đề mà các bên tham gia
tranh tụng phải làm rõ bằng các chứng cứ, căn cứ pháp lý và các lý lẽ, lập
chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, tranh tụng
cũng buộc các đương sự phải nỗ lực, tích cực hơn nữa trong việc tham gia tố
tụng. Kết quả tranh tụng là cơ sở để Tòa án quyết định giải quyết vụ án nên
đương sự phải tìm đủ mọi cách để thu thập chứng cứ và tìm ra căn cứ pháp lý
để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp và bác bỏ yêu cầu
của đương sự phía bên kia.
Hai là, tranh tụng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án giúp cho
Tòa án giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, đảm bảo cho bản án, quyết
định của Tòa đã tuyên là có căn cứ pháp lý.
Tranh tụng không những tạo điều kiện cho đương sự thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình mà trong quá trình tranh tụng: “Các chủ thể tham
gia tố tụng giúp cho Tòa án không những hiểu rõ yêu cầu của các đương sự,
có được những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để xác định chân lý khách
quan của vụ việc mà còn giải quyết các yêu cầu của đương sự, xác lập lại cho
đúng các quan hệ pháp luật dân sự mà các bên tham gia hoặc những quan hệ
mà pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ các bên khi có sự kiện pháp lý
xảy ra, xác định đúng các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của
18
pháp luât”10. Sở dĩ như vậy là khi các đương sự được thực hiện đầy đủ các
quyền TTDS của mình như quyền đưa ra các yêu cầu để Tòa án bảo vệ, quyền
đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,
quyền được biết chứng cứ do bên kia cung cấp, quyền áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời, quyền được bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ, quyền
tranh luận tại phiên tòa,…thì các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, Tòa án
có đầy đủ các chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự một cách chính xác, khách
quan, công minh và đúng pháp luật.
Ba là, tranh tụng tại PTDSST thể hiện tính chất dân chủ, công khai và
và phát triển một sự vật hay một hiện tượng nào trong xã hội đòi hỏi phải có
những nền tảng nhất định để dựa vào đó mà phát triển, từ nhỏ thành to, từ yếu
thành mạnh, từ hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Trong vấn đề tranh tụng cũng
vậy, muốn quy định tranh tụng trong TTDS nói chung và trong PTDSST nói
riêng thì phải chỉ rõ được cơ sở để hình thành, quy định vấn đề này. Xuất phát
từ cơ sở tranh tụng trong TTDS, tranh tụng tại PTDSST được hình thành dựa
trên ba cơ sở: Cơ sở lý luận, có sở thực tiễn và cơ sở pháp lý.
1.3.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận đầu tiên để tranh tụng trong TTDS cũng như tranh tụng
tại PTDSST hình thành và phát triển đó là bảo vệ quyền con người. Quyền
con người là quyền tự nhiên mà tạo hóa ban cho con người và không thể bị
tước bỏ bởi bất kỳ ai và bất kỳ chính thể nào. Tôn trọng và thực hiện quyền
con người luôn là vấn đề trọng tâm được tất cả các nhà nước, các hình thái xã
hội quan tâm, lấy đó làm nên tảng phát triển cũng như đề ra các chính sách,
chủ trương. Nhà nước ra đời là để đại diện cho nhân dân, để phục vụ nhân
dân, do đó dù tồn tại dưới thể chế nào thì hoạt động của Nhà nước cũng phải
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Mỗi thể chế chính trị
11
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, tr.23