BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------
HOÀNG THỊ THANH
THỦ TỤC PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------------------
HOÀNG THỊ THANH
THỦ TỤC PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
luôn động viên, khích lệ giúp em hoàn thành tốt luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban cán sự đảng, Lãnh đạo Tòa án nhân dân
tỉnh Lạng Sơn, các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã luôn tạo điều kiện để
em có thể vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác, vừa được học tập, tích lũy
kiến thức, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
Do kiến thức còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong nhân đươc sự chỉ dẫn, đóng góp của quý thầy cô và các bạn
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Lạng Sơn, tháng 8 năm 2018
Học viên
Hoàng Thị Thanh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. BLTTDS:
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
2. BLTTDS:
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011
3. BLTTDS:
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
4. TAND :
1.1.1. Khái niệm thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm ........................................... 7
1.1.2. Đặc điểm thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm ............................................ 9
1.1.3. Ý nghĩa của thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm ...................................... 12
1.2. Nội dung các quy định pháp luật hiện hành về phiên tòa dân sự sơ thẩm
......................................................................................................................... 13
1.2.2. Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ................................... 26
1.2.3. Thủ tục nghị án và tuyên án .................................................................. 35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 39
CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ
THẨM TẠI TAND THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN VÀ
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 40
2.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội, dân cƣ của thành phố Lạng Sơn, cơ cấu tổ
chức của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. ............ 40
2.2. Thành công và nguyên nhân thành công trong thực hiện phiên tòa
dân sự sơ thẩm tại TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn .............. 43
2.3. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong thực hiện phiên tòa dân sự sơ
thẩm tại TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn ............................... 59
2.4. Một số kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về thủ
tục PTDSST tại TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. .................. 62
2.4.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục PTDSST ................. 62
2.4.2. Một số kiến nghị bảo đảm thực hiện pháp luật về thủ tục PTDSST .... 65
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
2
Quốc Hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam)
khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua BLTTDS năm 2015 (có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 07 2016). Theo đó, các quy định của BLTTDS về phiên tòa dân sự
sơ thẩm đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của
cải cách tư pháp, tăng cường tranh tụng, đề cao vai trò của các bên. BLTTDS
năm 2015 dành một chương riêng (Chương XIV) để quy định về trình tự, thủ
tục phiên toà sơ thẩm, gồm các mục như: Quy định chung về phiên tòa sơ
thẩm; Thủ tục bắt đầu phiên tòa; Tranh tụng tại phiên tòa; Nghị án và Tuyên
án. Tuy nhiên, thực ti n áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 về thủ
tục phiên toà sơ thẩm còn có nhiều vướng mắc, bất cập, phát hiện nhiều vấn
đề nảy sinh mà pháp luật chưa có quy định hoặc có quy định nhưng thiếu cụ
thể, không phù hợp với thực ti n dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong
quá trình thực hiện.
Trong những năm qua, các vụ án dân sự phát sinh tại Tòa án nhân dân
(TAND) thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn ngày càng tăng, với tình tiết
ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự. Cùng với sự n lực của các cấp, các ngành và toàn xã hội, các
Thẩm phán, cán bộ TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều cố
gắng nhằm xét xử các vụ án dân sự được chính xác, khách quan, góp phần
vào việc giữ vững an ninh - chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực
ti n xét xử tại Tòa án nói chung và tại TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng
Sơn nói riêng cho thấy vẫn còn những vướng mắc, bất cập của BLTTDS về
phiên tòa dân sự sơ thẩm, dẫn đến việc các Thẩm phán, Tòa án và Viện kiểm
sát có cách hiểu khác nhau và áp dụng pháp luật không thống nhất, cần được
tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ. Chất lượng xét xử tại phiên tòa dân sự sơ
thẩm chưa thực sự bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của người dân,
thực hiện tại Tòa án nhân dân Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh”. Luận văn của tác
giả nghiên cứu về phiên tòa dân sự sơ thẩm theo quy định của BLTTDS năm
2011 và thực ti n thực hiện tại TAND Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh nên sẽ có
những đặc thù khác so với thực ti n áp dụng tại TAND thành phố Lạng Sơn,
tỉnh Lạng Sơn.
- Bên cạnh đó, liên quan đến đề tài này, có thể kể đến luận văn của thạc sĩ
luật học Nguy n Thị Thu Hà: “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã bảo vệ thành công tại trường Đại học Luật
Hà Nội năm 2002. Luận văn đã đưa ra được những vấn đề lý luận về tranh tụng
tại phiên tòa sơ thẩm một cách đầy đủ, đồng thời nên lên được những vướng
4
mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề tranh
tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm trước khi có sự ra đời của BLTTDS năm
2004. Luận văn thạc sĩ của tác giả Vi Minh Huyền, bảo vệ tại trường Đại học
Luật Hà Nội năm 2015 với đề tài: “Tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm –
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân cấp huyện trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn”.
Khóa luận tốt nghiệp “Mở rộng tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt
Nam” của tác giả Nguy n Minh Anh bảo vệ năm 2003, khóa luận “Tranh tụng
trong tố tụng dân sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp” bảo vệ thành
công năm 2011 của tác giả Trần Thị Thu Nga; Khóa luận tốt nghiệp của tác giả
Cao Thị Sáu về “Tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam” bảo vệ năm 2012.
- Về đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường có thể kể đến là Đề tài “Hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng
cải cách tư pháp”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2010, do TS.
Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường về
“Tranh tụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp”,
về thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm khoa học, hợp lý, bảo đảm tranh tụng đáp
ứng yêu cầu của cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ TƯ ngày
02 06 2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
nhằm bảo đảm các phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng
dân chủ, công khai tại phiên tòa xét xử, coi đây là một khâu đột phá của hoạt
động tư pháp, nhằm đảm bảo những phán quyết của Tòa án đưa ra phải
nghiêm minh, công bằng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các
đương sự. Bên cạnh đó nhằm nâng cao chất lượng phiên tòa sơ thẩm của
TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài được
xác định là những vấn đề chung về phiên tòa dân sự sơ thẩm như khái niệm,
đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa dân sự sơ thẩm, đánh giá các quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Nghiên cứu, tìm hiểu thực ti n thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm của
TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ năm 2014 đến nay để thấy được
những bất cập, những vướng mắc trong quá trình tiến hành phiên tòa, chỉ ra các
hạn chế vướng mắc, nguyên nhân và tìm ra giải pháp khắc phục.
3.3 Phạm vi nghiên cứu
6
Trong giới hạn của đề tài, nội dung của luận văn chỉ tập chung vào
nghiên cứu những vấn đề pháp lý sau:
- Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục phiên tòa
dân sự sơ thẩm. Luận văn không nghiên cứu những quy định chung về phiên
tòa dân sự sơ thẩm và những thủ tục tiến hành sau phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Luận văn cũng không nhiên cứu thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
và thủ tục giải quyết việc dân sự.
SƠ THẨM
1.1. Nhận thức chung về thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm
1.1.1. Khái niệm thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm
Để làm rõ khái niệm thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm, trước hết cần làm
rõ khái niệm phiên tòa dân sự sơ thẩm. Để làm rõ khái niệm phiên tòa dân sự
sơ thẩm, cần làm rõ ba khái niệm: phiên tòa, sơ thẩm, vụ án dân sự.
"Phiên tòa", theo Từ điển tiếng Việt, là lần họp để xét xử của Tòa án.
Trong Từ điển luật học Việt Nam, phiên tòa được hiểu "là hình thức hoạt
động xét xử của Tòa án"1. "Sơ thẩm", theo Đại từ điển tiếng Việt là "xét xử
lần đầu một vụ việc ở Tòa án cấp thấp"2. Tùy theo tính chất của các loại vụ
việc phát sinh tại Tòa án mà có dân sự sơ thẩm, hình sự sơ thẩm, hành chính
sơ thẩm. Trong đó, theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, dân sự sơ thẩm
dùng để chỉ hoạt động xét xử lần đầu đối với các vụ án dân sự.
Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, trong các Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động tồn tại ba khái niệm: vụ
án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án lao động và không có sự phân biệt giữa khái
niệm vụ án dân sự và việc dân sự. Theo đó, vụ án dân sự bao gồm những
tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự; hôn nhân và gia
đình. BLTTDS năm 2004 ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục tố tụng dân sự
(TTDS), tố tụng kinh tế, tố tụng lao động thành thủ tục TTDS. Theo đó, thủ
tục TTDS là thủ tục giải quyết các vụ, việc dân sự phát sinh từ quan hệ pháp
luật dân sự theo nghĩa hẹp, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và
lao động. Khái niệm vụ, việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự.
Khái niệm vụ án dân sự dùng để chỉ các tranh chấp dân sự theo nghĩa hẹp,
hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động mà được Tòa án thụ
lý, giải quyết. Khái niệm việc dân sự dùng để chỉ các yêu cầu dân sự theo
1
Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, Hà
thẩm không tiến hành công khai nên những người tham gia tố tụng chỉ được
triệu tập khi cần thiết.
Thứ ba: Thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm được tiến hành trên cơ sở việc
thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự.
Quyền tự định đoạt là quyền tố tụng đặc trưng của đương sự trong
TTDS. Vụ án dân sự được phát sinh dựa trên đơn khởi kiện của người khởi
kiện mà đa số là đương sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước nên phiên tòa dân sự
sơ thẩm được tiến hành trên cơ sở việc thực hiện quyền yêu cầu Toà án bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong suốt quá trình tố tụng dân sự,
quyền tự định đoạt của các đương sự luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Nếu các đương sự hoặc người đại diện của đương sự không rút yêu cầu khởi
kiện, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ
án dân sự và không có các căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án, thì
phiên tòa dân sự sơ thẩm phải được mở.
Mặt khác, trên cơ sở quyền tự định đoạt của các đương sự thì Tòa án có
trách nhiệm giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự, trừ một số trường
hợp ngoại lệ. Trong suốt quá trình tố tụng, các đương sự có quyền thay đổi,
bổ sung, rút yêu cầu, vì vậy phạm vi xét xử tại phiên toà sơ thẩm dựa trên yêu
cầu được đưa ra tại phiên toà của đương sự, phụ thuộc vào quyền tự định đoạt
của các đương sự. Nếu tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, các đương sự rút toàn bộ
yêu cầu khởi kiện (rút yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có)) và việc rút
yêu cầu đó là tự nguyện thì Toà án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Như vậy, quyền tự định đoạt của đương sự được thể hiện rõ nhất tại phiên tòa
dân sự sơ thẩm, di n biến của phiên tòa dân sự sơ thẩm phụ thuộc vào quyền
tự định đoạt của các đương sự.
Thứ tư: Khi tiến hành thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm, các bên đương
sự có quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu.
Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc
sự sơ thẩm có thể kiểm tra, đánh giá được chất lượng hoạt động của Tòa án ở
các khâu thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Đồng thời, nếu thực hiện đúng, tốt
thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm, Tòa án sẽ phát hiện và khắc phục kịp thời
các sai sót, vi phạm pháp luật của hoạt động ở các giai đoạn tố tụng trước như
thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Thủ tục tiến hành phiên tòa dân sự sơ thẩm là
13
hoạt động tố tụng quan trọng nhất, chính yếu của giai đoạn xét xử sơ thẩm và
quá trình TTDS. Nếu việc tiến hành thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm được
thực hiện tốt, bản án sơ thẩm của Tòa án giải quyết đúng đắn quyền và nghĩa
vụ của các đương sự sẽ góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm,
khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, quá trình tố tụng kết thúc nhanh chóng.
Khi đó, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo vệ kịp thời, tiết
kiệm chi phí tố tụng cho Nhà nước và các đương sự, các quan hệ dân sự được
ổn định, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Việc thực hiện đúng thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm còn có ý nghĩa
quan trọng đối với hoạt động lập pháp. Tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, những
người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng kiểm tra, phân tích đánh giá yêu
cầu, chứng cứ, tài liệu, đồng thời, phân tích các quy định của pháp luật nội
dung và pháp luật tố tụng để ra phán quyết về giải quyết vụ việc. Thông qua
hoạt động xét xử, đề xuất những kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ điều luật
hoặc ban hành văn bản pháp luật mới thay thế.
Bên cạnh đó, việc thực hiện đúng, tốt thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm
sẽ góp phần bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đảm bảo
công bằng và ổn định xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét
xử của Tòa án, là thước đo đánh giá trình độ nghiệp vụ năng lực công tác của
những người tiến hành tố tụng, đảm bảo uy tín của cơ quan tư pháp nói chung
và Tòa án nói riêng.
trên cơ sở kết quả báo cáo của Thư ký Tòa án về sự có mặt, vắng mặt của
những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý
do vắng mặt. M i Thẩm phán có cách kiểm tra căn cước các đương sự khác
nhau, song đều nhằm xác định chính xác các thông tin của các đương sự như
họ tên, tuổi, địa chỉ nơi cư trú của đương sự (nếu họ là cá nhân); hỏi tên, địa chỉ
trụ sở chính của đương sự (nếu là cơ quan, tổ chức). Đối với người đại diện
hợp pháp của đương sự, chủ tọa phiên tòa hỏi họ về họ, tên, tuổi, nghề nghiệp,
chức vụ, nơi cư trú, quan hệ với đương sự. Hội đồng xét xử có thể yêu cầu
đương sự, người đại diện của đương sự xuất trình giấy tùy thân có dán ảnh.
Để bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng và xét xử trực tiếp và bằng
lời nói, tất cả những người tham gia tố tụng cần được triệu tập tham gia phiên
tòa sơ thẩm. Việc triệu tập các đương sự và những người tham gia tố tụng
8
Điều 239 BLTTDS năm 2015
15
khác được coi là hợp lệ khi Tòa án thực hiện theo đúng các thủ tục quy định
tại các điều, từ Điều 170 đến Điều 181 BLTTDS năm 2015. Những người
tham gia phiên tòa sơ thẩm bao gồm: đương sự, người đại diện của đương sự,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng,
người giám định, người phiên dịch (Điều 227 đến 232 BLTTDS). Về mặt lý
thuyết, người định giá, thẩm định giá tài sản cũng là những người tham gia tố
tụng nhưng BLTTDS năm 2015 lại không quy định về sự tham gia phiên tòa
sơ thẩm dân sự của họ, dẫn đến lúng túng cho Tòa án khi xác định căn cứ
pháp lý triệu tập những người này tham gia tố tụng.
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự là những chủ thể quan trọng và việc giải
Điều 71, bị đơn có thếm các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 72,
người có quyền và nghĩa vụ liên quan có thêm các quyền và nghĩa vụ tố tụng
được quy định tại Điều 73 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, là quyền và nghĩa
vụ tố tụng nêu trên của các đương sự khi tham gia tố tụng ở tất cả các giai
đoạn tố tụng, cho nên, chủ tọa phiên tòa chỉ lựa chọn, phổ biến những quyền
và nghĩa vụ của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự và các quyền, nghĩa vụ
liên quan đến việc kháng cáo, khiếu nại, thi hành bản án, quyết định sơ thẩm.
Việc phổ biến các quyền và nghĩa vụ tố tụng cho các chủ thể khác được
thực hiện theo quy định tại các Điều 78, 80, 82 BLTTDS năm 2015.
1.2.1.4. Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những ngƣời tiến hành
tố tụng, ngƣời giám định, ngƣời phiên dịch
Việc giới thiệu về họ tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát
viên (nếu có), Thư ký Tòa án và Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát
viên dự khuyết (nếu có), người giám định, người phiên dịch nhằm đảm bảo
cho những người tham gia tố tụng và Kiểm sát viên thực hiện quyền yêu cầu
thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch tại
phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Theo Điều 21 BLTTDS năm 2015, Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia
phiên tòa sơ thẩm dân sự đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập
chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền
sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất
năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc vụ việc dân sự thuộc phạm vi
điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát
sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật
để áp dụng thì đại diện Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên tòa sơ thẩm.
Có thể thấy, quy định này nhằm tang cường công tác kiểm sát đối với những
vụ án mà giá trị tài sản tranh chấp lớn, ảnh hưởng đến cuộc sống của người
dân hay những vụ án mà có đương sự là người yếu thế hoặc bảo vệ lợi ích
dân sự nói riêng là phải bảo đảm sự vô tư, khách quan của những người tiến
hành tố tụng và tham gia tố tụng như người giám định, người phiên dịch. Do
10
Xem Điều 96 BLTTDS
18
đó, đối với các trường hợp quy định tại các điều 52, 53, 54 và 84 BLTTDS năm
2015 thì người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch phải từ
chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi. Thủ tục giải quyết yêu cầu thay đổi
người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch được thực hiện
theo quy định tại Điều 240 BLTTDS năm 2015.
1.2.1.6. Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có ngƣời vắng mặt11
Khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà thuộc trường
hợp quy định tại Điều 233 BLTTDS năm 2015 thì Hội đồng xét xử sẽ ra
quyết định hoãn phiên tòa. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên
tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa (như vắng
mặt người làm chứng, vắng mặt người giám định) thì chủ tọa phiên tòa phải
hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì Hội
đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do BLTTDS năm 2015 quy định
và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì
phải nêu rõ lý do.
Theo Điều 228 BLTTDS năm 2015, nếu có người tham gia tố tụng vắng
mặt thì Hội đồng xét xử có thể sẽ hoãn phiên tòa. “Hoãn phiên tòa là việc dời
thời gian tiến hành phiên tòa đã định sang thời điểm khác muộn hơn”12. Việc
hoãn phiên tòa chỉ được thực hiện khi có các căn cứ hoãn phiên tòa nhằm hạn
chế việc lạm dụng hoãn phiên tòa để trì hoãn, kéo dài thời gian giải quyết vụ
án. Căn cứ hoãn phiên tòa quy định tại Điều 233 BLTTDS năm 2015, bao gồm: