BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG HẢI LÂM
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN
ĐỊNH ĐOẠT QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, NHÀ Ở, Ô TÔ VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM VĂN TUYẾT
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về
hợp đồng ủy quyền định đoạt quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô và thực tiễn
áp dụng pháp luật trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang”
xin cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả.
- Luận văn này được thực hiện độc lập dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ
Phạm Văn Tuyết.
07
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
08
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
08
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
10
7. Kết cấu của luận văn
10
Chƣơng 1: Hợp đồng ủy quyền - Quy định của pháp luật và một
số vấn đề lý luận
11
1.1 Khái niệm chung về ủy quyền và hợp đồng ủy quyền
11
1.1.1. Khái niệm về ủy quyền
11
1.3.3. Thực hiện quyền yêu cầu
18
1.3.4. Quản lý tài sản
19
1.4. Các vấn đề cần xác định trong hợp đồng ủy quyền
20
1.4.1. Thông tin về chủ thể
20
1.4.2. Phạm vi ủy quyền
20
1.4.3. Ủy quyền lại
21
1.4.4. Thời hạn ủy quyền
22
1.4.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên
34
2.2. Mối liên quan giữa HĐUQ định đoạt quyền sử dụng đất, nhà ở, ô
tô và HĐCN quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà ở, ô tô
35
2.2.1. HĐUQ là cơ sở để xác lập HĐMB, HĐCN
36
2.2.2. Tư cách pháp lý của chủ thể được ủy quyền trong HĐCN quyền
sử dụng đất, HĐMB nhà ở, ô tô
37
2.2.3. Phạm vi xác lập, thực hiện hợp đồng mua bán tài sản, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được xác định theo phạm vi ủy quyền
37
2.3. So sánh ủy quyền định đoạt tài sản với hợp đồng mua bán,
chuyển nhượng nhà, đất, ô tô
38
2.3.1. Về hình thức và điều kiện
những tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, ô tô trên địa
bàn thành phố Bắc Giang
49
2.5.1. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
49
2.5.2. Đối với tài sản là ô tô
52
2.6. Những rủi ro các bên có thể gặp khi chuyển nhượng tài sản là
nhà, đất, ô tô bằng hợp đồng uỷ quyền
55
Kết luận chương 2
59
Chƣơng 3: Một số bất cập trong các quy định của pháp luật về
hợp đồng ủy quyền và một số kiến nghị
60
3.1. Một số bất cập trong các quy định của pháp luật về hợp đồng ủy
quyền
: Hợp đồng mua bán
GCN
: Giấy chứng nhận
GCN QSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSD đất
: Quyền sử dụng đất
QSH nhà ở
: Quyền sở hữu nhà ở
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hợp đồng ủy quyền (HĐUQ) là phương tiện pháp lý quan trọng giúp các
chủ thể có thể thông qua hành vi của người khác để xác lập và thực hiện hợp
đồng dân sự khi chủ thể đó không thể trực tiếp xác lập và thực hiện những hợp
đồng này nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định vì quyền và lợi ích hợp pháp
của mình.
Thông qua HĐUQ, một người có thể ủy quyền cho người khác nhân danh
mình thực hiện một hoặc một số công việc như thực hiện quyền đòi nợ, thực
hiện nghĩa vụ trả tiền, giao kết và thực hiện các hợp đồng dân sự kể cả các hợp
đồng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005
mất rất nhiều thời gian và phải nộp nhiều lần thuế khác nhau. Vì vậy, việc mua
bán, chuyển nhượng lần đầu thường được biến tướng thành ủy quyền định
đoạt tài sản và suy cho cùng thì mục đích của hành vi này là nhằm trốn thuế.
Hiện tượng này còn gây ra tình trạng mất công bằng xã hội, bởi thực tế cho
thấy các đối tượng biết cách lách luật trốn thuế chủ yếu là nhóm những người
làm dịch vụ buôn bán ô tô, nhà, đất (những người có thu nhập cao) chứ những
người dân lao động lương thiện (những người có thu nhập thấp) thì lại không
trốn được thuế bởi họ là những người có nhu cầu sử dụng tài sản thực sự vì thế
họ muốn tài sản phải đăng ký tên của họ.
Theo quy định tại khoản 2 điều 689 BLDS 2005, khi chuyển nhượng
những tài sản là nhà, đất thì phải lập thành văn bản và phải được công chứng,
chứng thực theo quy định của pháp luật; Thông tư số 75/2011/TT-BCA ngày
17-11-2011 của Bộ Công an (về sửa đổi, bổ sung Thông tư số 36/2010/TTBCA ngày 12-10-2010 Quy định về đăng ký xe) quy định: Giấy bán, cho, tặng
xe của cá nhân phải có chứng thực hoặc công chứng theo quy định của pháp
luật. Bên bán nhà, bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất (sau đây gọi chung
là bên bán) phải nộp thuế thu nhập từ chuyển quyền sở hữu nhà, quyền sử
3
dụng đất; bên mua nhà, ô tô, bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (sau
đây gọi chung là bên mua) phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ
tục đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu và phải nộp lệ phí trước bạ.
Trong thực tế, nếu bên mua là người kinh doanh nhà, đất, ô tô thì đa số
nhóm người này sẽ không đăng ký tài sản tên mình để tiết kiệm thời gian làm
thủ tục đăng ký sang tên và trốn được một lần thuế. Thay vì phải lập HĐCN
theo quy định của pháp luật thì hai bên lại thoả thuận lập HĐUQ, theo đó bên
bán ủy quyền cho bên mua được toàn quyền thực hiện việc chiếm hữu, quản
lý, sử dụng và định đoạt bao gồm cả việc cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng,
tặng cho, thế chấp vay vốn... Khi bên mua tìm được khách hàng thì sẽ căn cứ
lý khác nhau. Vi phạm nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan
hành chính nhà nước ở trung ương với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, đó là: “Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước phải đảm bảo
tính thống nhất của pháp luật quốc gia khi triển khai ở từng địa phương”1.
Hơn nữa, do các công văn trên chỉ là văn bản cá biệt không phải văn bản
quy phạm pháp luật, tính đúng đắn của nội dung công văn vẫn còn nhiều tranh
cãi, chưa có tính thuyết phục, cơ sở pháp lý không vững chắc nên một số đơn
vị không nhận được văn bản hướng dẫn cho rằng họ không có trách nhiệm
phải thực hiện. Chi cục Thuế thành phố Bắc Giang là một trong những đơn vị
không thu thuế thu nhập cá nhân của những giao dịch chuyển nhượng bất
động sản thông qua HĐUQ vì cho rằng giao dịch thông qua HĐUQ không làm
thay đổi chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản, không có hành vi chuyển
nhượng tài sản vì thế không làm phát sinh thu nhập từ việc chuyển nhượng tài
sản nên bên được uỷ quyền không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
Đất nước ta đang trong tiến trình đổi mới, cải cách mở cửa, hội nhập thế
giới, với nền kinh tế thị trường năng động, đời sống của nhân dân ngày càng
được cải thiện và nâng cao vì thế thị trường bất động sản cũng rất phát triển,
1
Khoa học Hành chính, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010. tr.35.
5
các giao dịch mua bán tài sản là ô tô, nhà ở, quyền sử dụng đất ngày càng diễn
ra thường xuyên, phổ biến và sôi động. Do đó Nhà nước cần ban hành những
văn bản pháp luật để kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội nhằm điều
chỉnh, giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này, hướng cho những
giao dịch này đi vào khuôn khổ, đảm bảo chặt chẽ, an toàn, đúng luật, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên.
bảo cho những giao dịch này diễn ra ổn định, công bằng, minh bạch; tránh tình
trạng cùng một hành vi pháp lý nhưng mỗi địa phương, mỗi ngành lại hiểu, áp
dụng và thực hiện một cách khác nhau, gây bất bình đẳng, dễ phát sinh tiêu
cực, làm rối loạn trật tự xã hội.
Với vị trí công tác là người trực tiếp tham gia giải quyết các tranh chấp
phát sinh từ việc các bên chuyển nhượng tài sản cho nhau bằng HĐUQ giả
tạo, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng ủy
quyền định đoạt quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô và thực tiễn áp dụng pháp
luật trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” cho luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành Luật Dân sự của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về HĐUQ, hợp đồng
mua bán tài sản, hợp đồng mua bán nhà ở, HĐCN quyền sử dụng đất nhưng
các công trình này chỉ nghiên cứu riêng, độc lập về từng loại hợp đồng mà
chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về mối liên quan giữa
ủy quyền định đoạt tài sản với hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản,
cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu trên giác độ hẹp về HĐUQ định đoạt
quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô.
Trong quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy mới chỉ có một số ít bài viết đăng
trên các báo và mạng Internet phản ánh tình trạng các đối tượng kinh doanh
nhà, đất, ô tô khi chuyển nhượng các tài sản là nhà, đất, ô tô đã thông đồng với
nhau lập HĐUQ giả tạo để che giấu hành vi chuyển nhượng tài sản nhằm mục
đích trốn thuế. Các bài viết này chưa nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách
sâu sắc và toàn diện trên cả phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật
đối với lĩnh vực chuyển nhượng các tài sản là nhà, đất, ô tô. Tác giả các bài
viết chưa đưa ra được các kiến nghị, giải pháp nhằm ngăn chặn hạn chế những
giao dịch có nhiều rủi ro này.
7
Để phạm vi nghiên cứu được chuyên sâu, đề tài tập trung nghiên cứu các
giao dịch liên quan đến lĩnh vực bất động sản và một số tài sản mà pháp luật
có quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phát sinh trên địa bàn
thành phố Bắc Giang. Đây cũng chính là địa bàn mà tác giả luận văn đang công
tác, là lĩnh vực được giao tham mưu giúp việc cho UBND thành phố Bắc Giang
trong quản lý chuyên ngành theo chức năng nhiệm vụ do pháp luật quy định.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam và
Nhà nước Việt Nam về pháp luật. Đặc biệt là quan điểm của Đảng và quy định
của Nhà nước trong các giao dịch dân sự về chuyển nhượng tài sản, ủy
quyền…
Để giải quyết yêu cầu của đề tài, luận văn đã sử dụng phương pháp luận
nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
khác như: thống kê, phân tích, chứng minh, tổng hợp, diễn giải… để hoàn
thành luận văn này.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc thực hiện đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng ủy quyền
định đoạt quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô và thực tiễn áp dụng pháp luật trên
địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” nhằm hướng tới một số mục
đích cụ thể sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về các quy định của pháp luật thực định
trong lĩnh vực chuyển nhượng những tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô.
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng hành vi chuyển nhượng những tài sản là
nhà, đất, ô tô trên địa bàn thành phố Bắc Giang; cảnh báo một thực trạng trong
xã hội là có một số tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nhà,
10
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ những hạn chế, bất
cập của các quy định pháp luật trong lĩnh vực chuyển nhượng những tài sản là
quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô và thực trạng các giao dịch này được tiến hành
thông qua các HĐUQ trên địa bàn thành phố Bắc Giang. Luận văn cũng đưa ra
những đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật để ngăn chặn những hành vi chuyển
nhượng tài sản là nhà, đất, ô tô bằng HĐUQ nhằm mục đích trốn thuế, góp
phần giữ vững ổn định, an toàn cho các giao dịch dân sự trong lĩnh vực này.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên
cứu bộ môn Luật Dân sự trong các trường đại học và cho những người đang
trực tiếp làm công tác quản lý, giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong
lĩnh vực chuyển nhượng những tài sản là nhà, đất, ô tô.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn thạc sĩ luật học về đề tài “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng
ủy quyền định đoạt quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô và thực tiễn áp dụng
pháp luật trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” ngoài phần
mở đầu và phần kết luận, có ba chương chính, gồm:
Chƣơng 1: Hợp đồng ủy quyền - Quy định của pháp luật và một số vấn
đề lý luận.
Chƣơng 2: Một số vấn đề về ủy quyền định đoạt quyền sử dụng đất, nhà
ở, ô tô và thực trạng việc ủy quyền định đoạt quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô
trên địa bàn thành phố Bắc Giang.
Chƣơng 3: Một số bất cập trong các quy định của pháp luật về hợp đồng
ủy quyền và một số kiến nghị.
11
Chƣơng 1
lĩnh vực đất đai; Giám đốc công ty ủy quyền cho Phó Giám đốc ký hợp đồng
lao động với người lao động v.v.
Nếu ủy quyền theo thủ tục dân sự thì sự ủy quyền của bên ủy quyền mới
chỉ là ý chí đơn phương của bên ủy quyền vì thế quan hệ ủy quyền chỉ hình
thành khi có sự đồng ý của bên được ủy quyền. Nói cách khác, ủy quyền dân
sự phải là sự thỏa thuận giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền về việc một
bên giao cho bên kia thay mình thực hiện một công việc nhất định. Ở góc độ
này thì ủy quyền chính là nội dung của một hợp đồng dân sự. Ví dụ: A ủy
quyền cho B và B đồng ý nhận ủy quyền để đến UBND huyện X nhận Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSD đất) của A.
Như vậy, ủy quyền là việc một bên cho người khác quyền được thay mặt
mình để thực hiện thay mình một số quyền và nghĩa vụ mà pháp luật cho phép.
1.1.2. Khái niệm về hợp đồng ủy quyền
Thông thường, để đáp ứng một số nhu cầu phục vụ cho hoạt động của con
người trong đời sống xã hội, các chủ thể sẽ trực tiếp thực hiện các hành vi nhất
định để tham gia vào các quan hệ pháp luật và thực hiện các quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ những quan hệ đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do
những lý do nhất định, chủ thể không thể trực tiếp tham gia và thực hiện các
quan hệ pháp luật, mà phải thông qua hành vi của một cá nhân khác thực hiện
các giao dịch vì quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong các trường hợp
này, người ta nghĩ đến việc xác lập một quan hệ pháp luật với một người khác
để từ quan hệ này, người khác được quyền nhân danh họ xác lập và thực hiện
các giao dịch nói trên. Các quan hệ này được gọi là quan hệ ủy quyền, quan hệ
ủy quyền được xác lập, thực hiện thông qua giao dịch dân sự và những giao
dịch dân sự dạng này gọi là HĐUQ.
Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể có thể thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình khi không có điều kiện trực tiếp tham gia các quan hệ pháp
14
tụng... Chỉ khi bên được ủy quyền đưa ra được HĐUQ làm căn cứ chứng minh
mình là người được ủy quyền thì bên thứ ba (người trả nợ, cơ quan tiến hành
tố tụng) mới cho phép người được ủy quyền tham gia vào các quan hệ pháp
luật để thực hiện các quyền và nghĩa vụ thay cho người ủy quyền.
Với bản chất của HĐUQ như đã phân tích trên, về mặt học thuật, có thể
khái niệm về HĐUQ như sau:
HĐUQ là thỏa thuận dân sự giữa các bên, theo đó, một bên (gọi là bên
ủy quyền) ủy quyền cho bên kia (gọi là bên được ủy quyền) thực hiện một hoặc
một số công việc nhất định. Bên được ủy quyền nhân danh bên ủy quyền thực
hiện các quyền, nghĩa vụ của bên ủy quyền hoặc thực hiện các công việc khác
trong phạm vi ủy quyền, vì quyền và lợi ích hợp pháp của bên ủy quyền. Bên
được ủy quyền được nhận thù lao của bên ủy quyền do đã thực hiện công việc
ủy quyền nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định.
1.2. Chủ thể của hợp đồng ủy quyền
HĐUQ được giao kết giữa một bên là người có nhu cầu thông qua người
khác để thực hiện một hoặc một số công việc nhất định với một bên là người
đồng ý thực hiện công việc đó. Vì vậy, chủ thể của HĐUQ bao gồm các bên
sau đây:
1.2.1. Bên ủy quyền
Bên ủy quyền là bên có nhu cầu thực hiện một hoặc một số công việc cụ
thể nhưng không thể tự mình thực hiện công việc đó hoặc thấy rằng nếu tự
thực hiện thì hiệu quả công việc không cao... nên uỷ quyền cho người phù hợp
thay mình thực hiện công việc này. Ví dụ: Một người đang sống và làm việc ở
nước ngoài muốn đề nghị UBND phường nơi trước đây mình cư trú cấp Giấy
xác nhận tình trạng hôn nhân, nếu chỉ để giải quyết việc này mà phải về nước
thì rất tốn kém tiền bạc và mất thời gian. Vì thế pháp luật cho phép người này
có thể làm văn bản ủy quyền cho một người ở trong nước nhân danh mình liên
16
Cũng là một bên chủ thể trong giao dịch dân sự nên bên được ủy quyền
phải có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Nếu như pháp
luật không có quy định khác về năng lực hành vi của bên ủy quyền thì đối với
bên được ủy quyền (đại diện theo ủy quyền), pháp luật có quy định: “Người từ
đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ
quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ
đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện”1. Quy định này của pháp luật cho
phép cá nhân dù chưa đủ 18 tuổi nhưng khi đã đủ 15 tuổi thì vẫn có quyền
giao kết HĐUQ với tư cách là bên được ủy quyền (trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác). Chẳng hạn, A là người giám hộ của C, A không được phép ủy
quyền cho B (là người đã đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi) để đại diện cho C
trong các giao dịch dân sự vì điều kiện của cá nhân làm người giám hộ phải là
người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trong trường hợp này B chưa đủ 18
tuổi nên không được nhân danh A để đại diện cho C trong các giao dịch dân
sự. Tuy nhiên A có thể ủy quyền cho B đến đội thuế phường X để nộp thuế
Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập cá nhân vì việc nộp tiền thuế không bắt buộc
phải do người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thực hiện.
Tất nhiên ngoài những điều kiện trên, cả bên ủy quyền và bên được ủy
quyền còn phải có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật như:
không trong thời gian bị Tòa án cấm làm công việc liên quan đến công việc
được uỷ quyền, mục đích và nội dung của công việc uỷ quyền không vi phạm
điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội...
1
Khoản 2, Điều 143, BLDS 2005
quan hệ hợp đồng được xác lập giữa người được ủy quyền với người thứ ba sẽ
18
là người trực tiếp giao kết hợp đồng nhưng quyền và nghĩa vụ phát sinh từ
quan hệ hợp đồng này sẽ thuộc về bên ủy quyền. Vì vậy, người được ủy quyền
là người trực tiếp thực hiện hợp đồng nhưng người được hưởng lợi ích từ hợp
đồng là người ủy quyền. Chẳng hạn, A ủy quyền cho B được nhân danh A để
ký hợp đồng bán căn nhà của A cho C. Căn cứ vào HĐUQ, B được quyền giao
kết hợp đồng mua bán nhà với C. người ký và thực hiện hợp đồng sẽ là B, sau
khi B thực hiện xong hợp đồng thì phải bàn giao cho A số tiền thu được từ
việc bán nhà. Thuế thu nhập từ chuyển quyền sở hữu nhà sẽ đánh vào người
có thu nhập là A chứ không phải B.
1.3.2. Thực hiện nghĩa vụ dân sự
Nếu đối tượng của HĐUQ là việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì phạm vi
nghĩa vụ mà bên được ủy quyền phải thực hiện trước bên có quyền được xác
định thông qua nội dung của HĐUQ. Bên có nghĩa vụ chỉ được ủy quyền cho
người khác thay mình thực hiện nghĩa vụ dân sự khi đã thông báo trước cho
bên có quyền và được bên có quyền đồng ý. Bên được ủy quyền là người trực
tiếp thực hiện nghĩa vụ đó trước bên có quyền nhưng bên ủy quyền vẫn phải
chịu trách nhiệm trước bên có quyền nếu bên được ủy quyền không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ đó1. Ví dụ: A ủy quyền cho B
thực hiện nghĩa vụ trả nợ C. Nếu B không trả tiền cho C, trả không đủ hoặc trả
chậm so với thỏa thuận thì A vẫn phải chịu trách nhiệm đối với C về khoản
tiền chưa trả, trả thiếu hoặc khoản tiền phạt do trả chậm.
1.3.3. Thực hiện quyền yêu cầu
Nếu đối tượng của HĐUQ là thực hiện quyền yêu cầu thì trong HĐUQ
phải xác định rõ phạm vi quyền yêu cầu đã được ủy quyền. Bên có quyền yêu
cầu có thể ủy quyền cho người khác nhân danh mình thực hiện quyền yêu cầu