Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự Lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TÔN THẤT CẨM ĐOÀN
THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ
Lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên- Huế

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH LUẬT

HÀ NỘI- 2002
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TÔN THẤT CẨM ĐOÀN


Chính vì vậy, Điều 72 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Không ai bị coi là có
tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật”. Hoạt động xét xử của Tòa án là sự thể hiện chất lượng, uy tín của
hệ thống các cơ quan tư pháp trong việc điều tra, truy tố, xét xử và thay mặt
Nhà nước đưa ra những phán quyết cuối cùng trong việc giải quyết vụ án hình
sụ.
Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, tổ chức xã hội,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, luật tố tụng hình sự quy định trình tự
xét xử vụ án hình sự bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy,
việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ xét
xử sơ thẩm, đến xét xử phúc thẩm khi có những điều kiện nhất định. Trường
hợp phát hiện có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết
vụ án hoặc khi phát hiện có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội
dung của bản án hoặc quyết định đó thì bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật vẫn có thể được đưa ra xem xét theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm. Khác với các hình thức xét xử khác, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bắt
buộc đối với bất kỳ vụ án hình sự nào.
Thực tiễn cho thấy trong tổng số các vụ án hình sự mà ngành Tòa án
đã giải quyết thì số lượng án sơ thẩm chiếm tỉ lệ lớn. Tại tỉnh Thừa Thiên- 2
Huế, hàng năm, các cấp Tòa án phải thụ lý, giải quyết khoảng từ 500 đến 600
vụ án hình sự, trong đó các vụ án được xét xử sơ thẩm chiếm trên 80%. Nếu
việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự không tuân thủ các quy định của thủ tục
tố tụng hình sự, thì sẽ dẫn đến việc xét xử của Tòa án bị sai sót, gây ra những
hậu quả rất xấu, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: "Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự, lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên- Huế" mang tính cấp thiết

quả việc áp dụng các thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp
trong cả nước nói chung và ở địa phương nói riêng.
Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra cho mình các
nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa
án.
- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục xét
xử sơ thẩm của Tòa án.
- Phân tích thực trạng áp dụng thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án các
cấp của tỉnh Thừa Thiên Huế để xác định sơ hở, thiếu sót, nguyên nhân của
chúng. Trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án.
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về thủ tục xét xử sơ thẩm,
đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án các
cấp tỉnh Thừa Thiên Huế.
4
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng
thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh tại Thừa Thiên Huế,
trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2000.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về Nhà nước và pháp
luật; những thành tựu của các khoa học: triết học, luật tố tụng hình sự, luật
hình sự, tội phạm học

chung, xét xử sơ thẩm của Tòa án nói riêng tại tỉnh Thừa Thiên Huế, ở chỗ:
- Về mặt lý luận, luận văn này là công trình nghiên cứu một cách
tương đối có hệ thống và toàn diện về thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án.
- Về mặt thực tiễn, luận văn này đề cập việc phân tích thực trạng áp
dụng các thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án các cấp tỉnh Thừa Thiên Huế, góp
phần giải quyết các vướng mắc mà thực tiễn xử lý các vụ án hình sự tại địa
phương gặp phải.
- Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng với tính chất là tài liệu tham
khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho cán bộ các cơ quan
bảo vệ pháp luật, cũng như cho giảng viên và sinh viên trong các trường đào
tạo đại học chuyên ngành luật.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có 88 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương.

6

PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, TÍNH CHẤT, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA XÉT XỬ SƠ
THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm
Ngay từ thời cổ Hy Lạp, La Mã, người ta đã khẳng định: ở đâu có
pháp luật, thì ở đó phải có một hệ thống bảo đảm cho pháp luật được thi hành
một cách nghiêm chỉnh. Sự bảo đảm đó, trước hết là phải bằng hoạt động của
cơ quan nhà nước có chức năng xử lý các hành vi vi phạm các quy định pháp

ra phán quyết của mình, kết luận bị cáo có phạm tội hay không, nếu có thì
phạm tội gì, phạm vào điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt
đối với bị cáo cũng như giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại và các vấn
đề cần thiết khác. Nặng tin vào hồ sơ, có định kiến sau khi đọc hồ sơ, xem
nhẹ việc xác minh sự thật khách quan tại phiên toà là biểu hiện của thái độ xử
mà không xét.
Nói tóm lại: xét xử là “hoạt động của Toà án tại phiên toà để xem xét
các chứng cứ và căn cứ vào pháp luật, xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các
quyết định của Toà án” [ 25, Tr. 482 ]. Đây là một dạng đặc biệt của hoạt
động thực hiện quyền lực Nhà nước, do Toà án, mà cụ thể là Hội đồng xét xử
tiến hành công khai trước sự giám sát của đông đảo quần chúng nhân dân,
theo một trình tự và thủ tục hết sức chặt chẽ được quy định tại Bộ luật tố tụng
hình sự. Các trình tự và thủ tục này, một mặt bảo đảm sự nghiêm túc trong
hoạt động xét xử ở chốn pháp đình, mặt khác thể hiện bản chất dân chủ, bình
đẳng và công minh của pháp luật Xã hội chủ nghĩa. 8
Để bảo đảm cho hoạt động xét xử của Toà án được chính xác, công
minh và có tính thuyết phục cao, nhiều nước trên thế giới quy định việc xét xử
của Toà án bao gồm nhiều cấp xét xử . Ở nước ta cũng vậy, các vụ án nói
chung cũng như các vụ án hình sự nói riêng đều được giải quyết theo hai cấp
xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Ngoài ra, trong một số trường
hợp đặc biệt thì vụ án có thể được giải quyết theo những trình tự và thủ tục
đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm.
Mỗi vụ án hình sự, sau khi Cơ quan điều tra đã thu thập chứng cứ để
chứng minh tội phạm và Viện kiểm sát đã ra bản cáo trạng truy tố bị can ra
trước Toà án thì hồ sơ vụ án được chuyển đến Toà án để xét xử . Khi Toà án
mở phiên toà lần đầu để xét xử vụ án thì đó chính là xét xử theo trình tự sơ
thẩm. Nếu sau đó, trong thời hạn luật định, bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị

quyết định các biện pháp tư pháp đối với bị cáo cũng như trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra hoặc kiến nghị với cơ
quan Nhà nước, tổ chức xã hội sửa chữa những thiếu sót trong việc quản lý
Nhà nước, quản lý kinh tế và quản lý con người; Nếu có căn cứ, Toà án còn
có thể khởi tố vụ án đối với người phạm tội mới hoặc hành vi phạm tội mới,
v.v Nói cách khác, tính chất của xét xử sơ thẩm chính là việc Toà án phải
xem xét và quyết định một cách công khai, toàn diện tất cả các vấn đề đặt ra
của vụ án, theo yêu cầu của pháp luật tố tụng hình sự.
Xuất phát từ tính chất như đã nêu trên nên hoạt động xét xử sơ thẩm
có một vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự. Xét xử sơ
thẩm được xác định như là một công đoạn đầu tiên trong giai đoạn kết thúc
của quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Hay nói cách khác, xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu cho toàn bộ hoạt động xét xử của
Toà án. Bởi vậy, Bộ luật tố tụng hình sự đã giành một phần lớn, gồm 7
chương (từ chương XV đến chương XXI - từ Điều 145 đến Điều 203) và Điều
61 để quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm. 10
Với ý nghĩa là cuộc điều tra công khai, tại phiên toà sơ thẩm, mọi tài
liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thu thập được
đều được đưa ra xem xét một cách công khai; những người tiến hành tố tụng
được nghe trực tiếp lời khai, lời trình bày của người tham gia tố tụng; những
người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai, lời trình bày của nhau, họ
được đối chất, tranh luận và chất vấn một cách công khai về những vấn đề mà
tại cơ quan điều tra họ chưa có điều kiện thực hiện. Tại phiên toà, quyền và
nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực
hiện một cách công khai, đầy đủ; bị cáo, người bị hại đều bình đẳng với
nhau, thậm chí còn bình đẳng cả với đại diện viện kiểm sát trong việc xuất
trình chứng cứ, tranh luận và đưa ra yêu cầu. Do đó, có thể nói xét xử sơ thẩm

định), trong Bộ luật tố tụng hình sự (nguyên tắc luật định) và các văn bản
khác, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố
tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Các nguyên tắc
tố tụng hình sự thể hiện bản chất của tố tụng hình sự, là cơ sở cho mọi hoạt
động và hành vi tố tụng hình sự.
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã thể hiện khá đầy đủ các nguyên
tắc tiến bộ, dựa trên nền tảng chung là dân chủ và pháp chế XHCN. Trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm, các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm đều được
xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự.
Qua nghiên cứu thủ tục xét xử sơ thẩm, chúng tôi thấy những nguyên
tắc, yêu cầu cơ bản đó là:
Nguyên tắc pháp chế
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 Bộ luật tố tụng hình sự: “
Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật
này” 12
Trong tố tụng hình sự, không chỉ ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, mà trong
tất cả các giai đoạn tố tụng, nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải triệt để tuân thủ các
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự khi thực hiện các hoạt động, các hành vi
tố tụng.
Thực tiễn cho thấy hầu hết các vụ án bị xử oan sai là do trong quá
trình xét xử vụ án, nguyên tắc này đã không được tuân thủ một cách triệt để.
Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một nguyên tắc
và yêu cầu cơ bản, có tính chất xuyên suốt của thủ tục tố tụng hình sự Việt
Nam.

bình đẳng trước Toà án là Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những
người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng
cứ, yêu cầu và tranh luận trước Toà án.
Hiện nay, do nhận thức chưa đầy đủ về quyền này nên ở một số phiên
toà đã xảy ra tình trạng Hội đồng xét xử, không tôn trọng việc bị cáo, người
bào chữa, người tham gia tố tụng đưa ra các chứng cứ, yêu cầu; tình trạng
thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, gây mất trật tự tại phiên toà.
Nguyên tắc bảo đảm việc tham gia tố tụng hình sự của các tổ chức
xã hội và công dân.
Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự thì Mặt trận Tổ quốc,
Công đoàn, Hội nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên
hiệp phụ nữ, các tổ chức xã hội khác và công dân có quyền và nghĩa vụ tham
gia tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, góp phần đấu
tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận
lợi để các tổ chức xã hội và công dân tham gia tố tụng hình sự . 14
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, nguyên tắc này được thể hiện ở các
nội dung như:
- Đối với những vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử là người chưa thành
niên thì thành phần Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩn nhân dân là giáo
viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; đại diện của nhà
trường hoặc tổ chức xã hội, cha mẹ hoặc người thân của bị cáo phải được
triệu tập đến tham gia phiên toà để phát biểu ý kiến về những vấn đề có liên
quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Khi phát hiện có những vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các tổ chức xã hội và công dân có
quyền kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan này phải xem

hành tố tụng; toàn diện, tức phải xem xét, đánh giá các chứng cứ buộc tội
cũng như gỡ tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nguyên nhân và điều kiện phát
sinh tội phạm ; đầy đủ, tức không bỏ sót tình tiết nào của vụ án.
Trong thực tiễn, không ít trường hợp, do không thực hiện đúng
nguyên tắc này, việc xem xét, đánh giá chứng cứ của thẩm phán, hội thẩm
nhân dân mang tính chủ quan, tuỳ tiện nên dẫn đến vụ án bị xử oan, sai.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
Điều 12 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Bị can, bị cáo có quyền tự
bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và
Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của
họ.”
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho bị cáo sử dụng tất cả các biện
pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ mình trước toà án. Những người
tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện cho bị cáo hoặc người bào chữa của bị
cáo được sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để chứng minh
bị cáo vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. 16
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo ở giai đoạn xét xử sơ
thẩm được coi như tập trung nhất về quyền bào chữa.
Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng
hoặc người tham gia tố tụng
Theo điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự thì thẩm phán, hội thẩm nhân
dân, kiểm sát viên, điều tra viên, thư ký phiên toà, người phiên dịch, người
giám định không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng nếu có lý do xác đáng
để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hành nhiệm vụ của mình.
Để nguyên tắc này được thực hiện, thủ tục tố tụng hình sự quy định cụ
thể những trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc người tham
gia tố tụng ( như việc thay đổi thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân quy định

động, gây áp lực để tác động đến hoạt động xét xử của thẩm phán, hội thẩm
nhân dân, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc này. Sự sai phạm này, trách
nhiệm trước hết là của thẩm phán và hội thẩm nhân dân vì họ tự mình đã
không đấu tranh và không thực hiện đúng nguyên tắc này.
Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 18 Bộ luật tố tụng hình sự:
“Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số”
Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số là một nguyên tắc
thật sự dân chủ trong hoạt động xét xử và có quan hệ mật thiết với các nguyên
tắc khác như: nguyên tắc “ xét xử có hội thẩm tham gia”, nguyên tắc “ thẩm
phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Thực
hiện một nguyên tắc này cũng tức là bảo đảm cho nguyên tắc khác được thực
hiện.
Nguyên tắc này được bảo đảm bằng các quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự về thành phần hội đồng xét xử ở cấp sơ thẩm, về thủ tục nghị án. 18
Nguyên tắc xét xử công khai
Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc dân chủ của hoạt
động xét xử được quy định tại Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự. Tính công
khai trong hoạt động xét xử được thể hiện ở chỗ phiên toà phải tiến hành công
khai, mọi công dân (trừ những người dưới 16 tuổi) đều có quyền được dự và
theo dõi diến biến của phiên toà. Ngay cả khi để đảm bảo bí mật Nhà nước
hoặc giữ gìn đạo đức xã hội, Toà án có thể xử kín, nhưng việc tuyên án vẫn
phải công khai. Nguyên tắc xét xử công khai không chỉ thể hiện tính dân chủ
mà còn bảo đảm nhân dân kiểm tra được hoạt động của Toà án, đề cao được
trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng.
Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục
Theo quy định tại khoản 1 Điều 159 Bộ luật tố tụng hình sự thì xét xử

Chuẩn bị xét xử là chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra
xét xử theo quy định của pháp luật. Ở giai đoạn này, Tòa án, Viện kiểm sát và
những người tiến hành tố tụng phải xử lý các tình huống có liên quan đến việc
đưa hoặc không đưa vụ án ra xét xử.
1. Thời hạn chuẩn bị xét xử
Theo quy định tại khoản 2 Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự, thời hạn
chuẩn bị xét xử đối với tội ít nghiêm trọng là ba mươi ngày, đối với tội
nghiêm trọng là bốn mươi lăm ngày, đối với tội rất nghiêm trọng là hai tháng,
đối với tội đặc biệt nghiêm trọng là ba tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
án. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định kéo dài
thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội ít
nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, không quá ba mươi ngày đối với tội rất
nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi đã có quyết định đưa vụ 20
án ra xét xử, phải mở phiên tòa trong thời hạn mười lăm ngày; trong trường
hợp có lý do chính đáng, thì có thể mở phiên tòa trong thời hạn ba mươi ngày.
Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung, thì trong thời hạn mười lăm
ngày sau khi nhận lại hồ sơ, thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa đối với tội ít nghiêm trọng là bốn
mươi lăm ngày, đối với tội nghiêm trọng là sáu mươi ngày, hai tháng + ba
mươi ngày đối với tội rất nghiêm trọng, ba tháng + ba mươi ngày đối với tội
đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp trả hồ sơ lại để điều tra bổ sung, Tòa
án có thêm mười lăm ngày để làm các thủ tục đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên,
thực tiễn cho thấy không ít trường hợp vụ án được trả lại để điều tra bổ sung,
sau khi Tòa án nhận được hồ sơ, có thể ra một trong những quyết định sau:
Thứ nhất, tiếp tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nếu như cơ quan điều
tra chưa đáp ứng được yêu cầu của Tòa án.
Thứ hai, quyết định tạm đình chỉ vụ án, nếu sau khi nhận lại hồ sơ vụ

định tại Điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng không phải là biện pháp mà
cơ quan điều tra hoặc Viện Kiểm sát đã áp dụng. Ví dụ: khi Tòa án nhận hồ
sơ vụ án, người bị truy tố bị áp dụng biện pháp tạm giam, nhưng trong thời
gian chuẩn bị xét xử, Tòa án thay đổi biện pháp đó bằng biện pháp cấm đi
khỏi nơi cư trú. Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là trường hợp khi Tòa án
thụ lý hồ sơ vụ án, bị cáo đang bị Tòa án áp dụng một trong các biện pháp
ngăn chặn, nhưng Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp đó và không buộc bị
cáo phải chịu bất kỳ một biện pháp ngăn chặn nào khác.
Thực tiễn xét xử cho thấy, trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án
không chỉ áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn mà còn áp
dụng, thay đổi, hoặc hủy bỏ cả những quyết định khác không phải là biện
pháp ngăn chặn như kê biên tài sản hoặc hủy bỏ biện pháp không phải là kê
biên tài sản. Việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam phải do 22
Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án quyết định, còn các biện pháp ngăn chặn
khác phải do thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa quyết định.
Thời hạn tạm giam người bị truy tố để chuẩn bị xét xử không được
quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 151 Bộ luật tố tụng hình
sự, tức là thời hạn tạm giam không được quá thời hạn bảy mươi lăm ngày đối
với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, không quá một trăm hai mươi
ngày đối với tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Cũng theo quy định tại Điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự, đối với bị
cáo đang bị tạm giam, mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết,
nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Tòa án ra
lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa. Tuy nhiên ,do chưa có hướng
dẫn cụ thể về vấn đề này, nên trong thực tiễn xét xử, vấn còn có các quan
điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, Tòa án đã ra lệnh tạm giam bị cáo 75

của Hội đồng giám định pháp y.
- Chưa xác định được bị can hoặc không biết bị can ở đâu.
d) Tòa án quyết định đình chỉ vụ án
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm phán được phân công chủ tọa
phiên tòa có thể ra quyết định đình chỉ vụ án, khi có một trong các căn cứ quy
định tại các điểm3, 4, 5, 6, 7 Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự. Như vậy, căn cứ
để thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án
cũng là căn cứ để không khởi tố vụ án, là căn cứ để cơ quan điều tra đình chỉ
điều tra theo Điều 139 Bộ luật tố tụng hình sự, là căn cứ để Viện Kiểm sát rút
quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa theo Điều 156 Bộ luật tố tụng hình
sự Những căn cứ đó là:
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu
trách nhiệm hình sự.

Trích đoạn Không giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo Không áp dụng các biện pháp cần thiết cách ly người làm chứng khi xét hỏ Đối với các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, hội đồng xét xử không yêu cầu người bị hại hoặc đại diện của họ trình bày lờ Việc xét hỏi tại phiên toà là không đầy đủ. Nhiều vụ án việc nghị án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status