LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại VAI TRÒ của THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG xét xử sơ THẨM các vụ án HÌNH sự - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA (2005-2009)

Đề tài

VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT
ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Sinh viên thực hiện
Phùng Văn Khánh
Mssv: 5054783
Lớp: Thương mại 2- k31

Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Chí Hiếu

Cần Thơ, tháng 4/2009


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài .........................................................................1
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài..................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................2
5. Kết cấu của đề tài ..............................................................................................3

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM PHÁN..................................................... 4
I. Lý luận chung về Thẩm phán ở Việt Nam......................................................4
1.1. Khái niệm Thẩm phán ....................................................................................4
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển đội ngũ Thẩm phán ở Viêt Nam....................5
1.3. Điều kiện để trở thành Thẩm phán ở Việt Nam ..............................................9

1.3.1. Tiêu chuẩn của một Thẩm phán.......................................................10
1.3.2. Điều kiện để được bổ nhiệm làm Thẩm phán .....................................11
1.3.3. Miễn nhiệm, cách chức chức danh Thẩm phán...................................11
1.4. Những đóng góp của các Thẩm phán cho ngành Tòa án Việt Nam ...............12
II. Tìm hiểu về Thẩm phán ở một số nước trên thế giới..................................14

2.1. Thẩm phán ở Hàn Quốc ..............................................................................14
2.2. Thẩm phán ở Malaysia..................................................................................14

2.3. Thẩm phán Liêng Bang Nga .......................................................................15
2.4. Thẩm phán nước Cộng Hòa Pháp .................................................................16
2.5. Thẩm phán ở nước Mỹ..................................................................................16

CHƯƠNG II
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN

THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ XÉT XỬ CỦA THẨM PHÁN VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ ............................................................... 47
I. Thực tiễn về vai trò của Thẩm phán trong công tác xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự...........................................................................................................47
3.1. Những ưu điểm về vai trò của Thẩm phán trong quá trình xét xử Sơ thẩm các
vụ án Hình sự ......................................................................................................47
3.1.1. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động áp dụng pháp luật và giải thích
pháp luật trong quá trình xét xử ...........................................................................47
3.1.2. Thẩm phán và vai trò giáo dục pháp luật cho người dân thông qua hoạt
động xét xử Sơ thẩm các vụ án hình sự................................................................48
3.2. Những kết quả đạt được từ công tác xét xử của Thẩm phán ..........................50


3.3. Những hạn chế về vai trò của Thẩm phán trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự............................................................................................................51
3.4. Những thách thức của Thẩm phán trước tình hình hiện nay ..........................56
II. Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán trong xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự......................................................................................59

KẾT LUẬN............................................................................................... 62


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nói đến Tòa án là phải nhắc tới Thẩm phán. Thẩm phán có một vai trò đặc
biệt quan trọng trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự. Thẩm phán là người
được biết đến như một biểu tượng của họat động xét xử, là người trực tiếp đưa ra

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

1

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

được ở trường và qua thực tế theo dõi công tác xét xử sơ thẩm tại một số Tòa
hình sự tại một số địa phương, em hy vọng sẽ đóng góp được một vài ý kiến về
vai trò của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự hiện nay. Mục đích chính
là nhằm nâng cao hơn nữa vai trò xét xử độc lập của Thẩm phán, sự tôn trọng ý
thức khi tham gia phiên tòa của người dân, ý kiến việc bảo vệ tính mạng và sức
khỏe của Thẩm phán một vấn đề đang rất đáng quan tâm hiện nay. Một mặt nâng
cao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn của Thẩm phán tránh để xảy ra tình trạng oan
sai khi xét xử, hoặc tránh để xảy ra tình trạng khi xét xử bản án sơ thẩm xong bị
cáo tiếp tục kháng án lên các cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm làm tốn
nhiều thời gian, lãng phí tiền bạc… Mặt khác, các Tòa án cần quan tâm, nghiêm
túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị cho các
Thẩm phán, phân tích nguyên nhân dẫn đến sai phạm của Thẩm phán qua đó rút
ra bài học kinh nghiệm cho toàn ngành về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
đối với cán bộ công chức ngành Tòa án.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự, từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, bắt đầu phiên tòa đến khi kết thúc
phiên tòa cũng như những bất cập trong quá trình xét xử hiện nay, năng lực điều
hành phiên tòa hình sự của Thẩm phán, vai trò độc lập trong khi xét xử của Thẩm
phán với những người tiến hành tố tụng và một số sai phạm trong quá trình xét
xử của Thẩm phán để từ đó đề ra hướng khắc phục. Do thời gian nghiên cứu có

Chương III: Thực tiễn về vai trò xét xử của Thẩm phán và một số giải pháp
nhằm nâng cao vai trò của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
hiện nay.

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

3

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM PHÁN
I. Lý luận chung về Thẩm phán ở Việt Nam
1.1. Khái niệm Thẩm phán
Như chúng ta đã biết, bất kì nhà nước nào muốn tồn tại, thì một trong những
công việc phải làm là quản lý được xã hội. Mỗi nhà nước phải thiết lập nên cho
mình một hệ thống pháp luật làm chuẩn mực cho tất cả công dân của mình. Và để
cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống, cần phải có những người làm công
tác trị an (Công an, Cảnh sát) và những người làm nghề luật trong đó có Thẩm
phán. Trải qua nhiều thời kỳ từ phong kiến đến ngày nay bao giờ vai trò của
người cầm cán cân công lý cũng rất quan trọng, một Thẩm phán anh minh, liêm
khiết, chính trực sẽ tạo nên sự tin tưởng của nhân dân vào cơ quan công quyền
của nhà nước.
Theo khái niệm Thẩm phán trong từ điển Tiếng Việt thì Thẩm phán là
người chuyên làm công tác xét xử các vụ án.
Theo Điều 1 Pháp Lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 định
nghĩa “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm

vào bản chất sâu xa, cốt lõi của vấn đề, của việc vận dụng pháp luật thì thấy sự
vận dụng đó có tính sơ cứng, pháp lý đơn thuần.
Ở nước ta hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức từ cấp Trung ương đến
địa phương và các Tòa quân sự chuyên trách được quy định cụ thể tại Điều 2
Pháp Lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân. Gắn liền với mỗi cấp là
chức danh Thẩm phán khác nhau. Thẩm phán Toà án nhân dân ở nước ta gồm có:
a) Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b) Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Thẩm phán Toà án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
b) Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Thẩm phán Toà án nhân
dân tỉnh, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
d) Thẩm phán Toà án quân sự các cấp bao gồm thẩm phán Toà án quân sự
trung ương đồng thời là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Thẩm phán Toà án
quân sự cấp quân khu bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương
đương; Thẩm phán Toà án quân sự khu vực.
Hiệu quả hoạt động của Toà án thể hiện cụ thể ở việc thực hiện nhiệm vụ
xét xử của Toà án. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt để đáp ứng yêu cầu của công
tác xét xử đang là vấn đề được đặt lên hàng đầu.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển đội ngũ Thẩm phán ở Viêt Nam
Thực tiễn xét xử là toàn bộ hoạt động tố tụng của Tòa án trong quá trình áp
dụng pháp luật để đưa ra đường lối giải quyết các loại vụ án, trong đó người
Thẩm phán là nhân vật có vai trò quan trọng đóng góp vào thực tiễn xét xử một
cách rõ ràng nhất, đó chính là các bản án, các quyết định. Từ xa xưa cho đến
ngày nay vai trò của người đứng ra phân xử trong các vụ án bao giờ cũng trở nên
đặc biệt quan trọng, dưới thời phong kiến Việt Nam việc xét xử cũng rất được
quan tâm, chú trọng đến.
Dưới thời Đinh, phương pháp tập trung quyền lực tư pháp trong tay nhà vua
đã được áp dụng triệt để, nhà vua đích thân xem xét việc trừng phạt các vụ phạm
pháp, và việc trừng phạt các can phạm được diễn ra ngay trước cung điện nhà

đông đảo các Luật sư, Luật gia, Thẩm phán, những bậc trí thức yêu nước được
đào tạo từ chế độ cũ tự nguyện đứng vào hàng ngũ kháng chiến vì độc lập, tự do
của dân tộc và xây dựng một nền Tư pháp của chế độ mới với công lao đóng góp
to lớn của thế hệ cán bộ Tư pháp đầu tiên với những tên tuổi như Vũ Trọng
Khánh, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Văn Hưởng, Trần Công Tường ... Theo chức
năng, quyền hạn quy định tại Nghị định số 37 ngày 01/12/1945, Bộ Tư pháp chịu
trách nhiệm quản lý toàn diện về tổ chức, cán bộ, hoạt động và cơ sở vật chất của
các cơ quan tư pháp. Ngày 13/9/1945, Bộ Tư pháp trình Chính phủ ký ban hành
Sắc lệnh số 33 thiết lập các Toà án quân sự đầu tiên ở một số thành phố để xét xử
mọi hành vi phương hại đến nền độc lập nước nhà. Và chỉ bốn tháng sau đó, Sắc
lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 đã thiết lập các Toà án và các ngạch Thẩm phán
bao gồm cả các ngạch Thẩm phán làm nhiệm vụ công tố, buộc tội trên toàn cõi
Việt Nam. Toà án tư pháp được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc dân
chủ, tiến bộ.

(1)

Nguyễn Minh Tuấn, Lịch sử và những vấn đề đương đại liên quan đến nhà nước và pháp luật - Sơ lược
về vấn đề Toà án và xét xử thời kỳ phong kiến, cập nhật 11/03/2007

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

6

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Khi cuộc kháng chiến của dân tộc bắt đầu chuyển hướng sang tổng phản

thành lập theo Quyết định số 296/QĐ-GĐ ngày 22 tháng 9 năm 2004 của Giám
đốc Học viện Tư pháp.
Các Tòa án cấp tỉnh hiện có 921 Thẩm phán trong tổng số 1.118 tổng biên
chế Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh được duyệt. Các Tòa án cấp huyện hiện
có 2.411 Thẩm phán trong tổng số 3.515 tổng biên chế Thẩm phán toà án nhân
dân cấp huyện được duyệt. Về số lượng cán bộ, Thẩm phán, đến thời điểm tháng
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

7

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

3/2008, Toà án nhân dân tối cao có 524/603 người, trong đó có 116/120 Thẩm
phán; Toà án nhân dân cấp tỉnh có 3264/3559 người, trong đó có 998/1118 Thẩm
phán; 678 Toà án nhân dân cấp huyện có 7550/7822 người, trong đó có
3250/3690 Thẩm phán. Bên cạnh đội ngũ Thẩm phán, trong hệ thống Tòa án
nhân dân hiện có 4538 Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án. Như vậy, so với biên
chế thì hiện tại các Toà án nhân dân địa phương vẫn còn thiếu khoảng 1.300
Thẩm phán. Đến năm 2010, nếu tính theo mức tăng trung bình số lượng vụ án
các loại thụ lý ở cấp sơ thẩm, dự báo các toà án nhân dân các cấp sẽ phải thụ lý
khoảng 450.000 vụ. Nếu cứ mỗi Thẩm phán giải quyết được trung bình 5 vụ
việc/tháng, thì đến năm 2010, số lượng Thẩm phán cần có để đảm bảo tiến độ và
chất lượng xét xử sẽ vào khoảng 7.000 người. Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và lý luận chính trị, 100% Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, 95% Thẩm phán
cấp tỉnh và cấp huyện có trình độ cử nhân luật; 90% Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao, 66% Thẩm phán cấp tỉnh và 20% Thẩm phán cấp huyện có trình độ cử
nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị. Về phẩm chất đạo đức, 100% Thẩm phán



Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

hạn chế, trong khi đó đã bắt đầu phát sinh nhiều loại vụ án phức tạp cả về hình sự
có yếu tố nước ngoài.
1.3. Điều kiện để trở thành Thẩm phán ở Việt Nam
1.3.1. Tiêu chuẩn của một Thẩm phán
Theo Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNVUBTWMTTQVN ngày 01/4/2003 của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng,
Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành
một số quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm
2002 thì một số tiêu chuẩn cụ thể của Thẩm phán được hiểu như sau:
Để trở thành Thẩm phán ở Việt Nam thì công dân Việt Nam phải có những
tiêu chuẩn sau đây:
Thứ nhất, Công dân Việt Nam phải trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết
và trung thực, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích nhà nước, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp công dân, đơn vị quản lý công chức hoặc có những bài viết, công trình
nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc được áp dụng
vào thực tiễn. (xem Điều 5 của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm nhân dân
năm 2002)
Như vậy, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và
trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa phải là:
 Không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ Xã hội chủ nghĩa và nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
 Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, các chủ trương của Đảng
và các chính sách của Nhà nước, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy
tắc sinh hoạt công cộng;

xét xử theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân
năm 2002, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.
 Có trình độ cử nhân luật là phải có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên
ngành luật do các trường đại học trong nước có chức năng đào tạo đại học về
chuyên ngành luật theo quy định cấp, nếu văn bằng tốt nghiệp đại học về chuyên
ngành luật do cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì văn bằng đó phải được công
nhận ở Việt Nam theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt
Nam;
 Đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử là phải có chứng chỉ về đào tạo nghiệp
vụ xét xử do cơ quan có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp cấp, nếu là
chứng chỉ do các cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì phải được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận;
 Thời gian làm công tác pháp luật là thời gian công tác kể từ khi được xếp
vào một ngạch công chức bao gồm Thư ký Toà án, Thẩm tra viên, Chấp hành
viên, Chuyên viên hoặc nghiên cứu viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Công chứng viên, Thanh tra viên, cán bộ bảo vệ an ninh trong Quân đội, cán bộ
pháp chế, giảng viên về chuyên ngành luật. Thời gian được bầu hoặc cử làm Hội
thẩm, thời gian làm Luật sư cũng được coi là “thời gian làm công tác pháp luật”;
 Có năng lực làm công tác xét xử là có khả năng hoàn thành tốt công tác xét
xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án cấp
tương ứng mà người đó có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán
theo nhận xét, đánh giá của cơ quan đơn vị quản lý công chức hoặc có những bài
viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc
được áp dụng vào thực tiễn.

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

10

SVTH: Phùng Văn Khánh

nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thẩm phán Toà án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Thẩm phán Toà án quân sự quân khu
và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực) (Theo các Điều 26, 27 và
28 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân).
1.3.3. Miễn nhiệm, cách chức chức danh Thẩm phán
Thẩm phán sẽ bị miễn nhiệm, cách chức chức danh của mình trong những
quy định sau đây:
a. Miễn nhiệm Thẩm phán
Thẩm phán có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán do sức khoẻ, do
hoàn cảnh gia đình Thẩm phán và đương nhiên được miễn nhiệm chức danh
Thẩm phán khi nghỉ hưu hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

11

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

thành nhiệm vụ được giao (khoản 1, 2 Điều 29 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội
thẩm Toà án nhân dân năm 2002).
b. Cách chức chức danh Thẩm phán
Thẩm phán sẽ đương nhiên bị mất chức danh Thẩm phán khi bị kết tội bằng
bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm,
Thẩm phán có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây: (khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án
nhân dân năm 2002).
+ Vi phạm trong công tác xét xử, giải quyết những việc thuộc thẩm quyền
của Toà án;


SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

nhân dân tỉnh Cao Bằng, Nguyễn Xuân Phúc tỉnh Thái Bình, Vũ Thị Tâm, chánh
án Phạm Văn Phiêu và Thẩm phán Nguyễn Văn Hạnh của tỉnh Thái Bình… Các
Thẩm phán của nước ta đã thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ xét xử các vụ
án mà pháp luật giao phó, đội ngũ Thẩm phán luôn luôn cận kẽ trong các công
tác xét xử nhằm đảm bảo chất lượng xét xử các vụ án, họ có kỹ năng nghề nghiệp
tốt, nhận thức được trách nhiệm nghề nghiệp của mình và thường xuyên trau dồi
đạo đức nghề nghiệp, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi xét xử, các Thẩm phán luôn tuân theo các quy định của pháp luật, từng
trường hợp phạm tội cụ thể, cân nhắc kỹ rồi soi chiếu vào các quy định của pháp
luật để có quyết định đúng đắn, có hướng giải quyết sao cho thấu tình đạt lý
nhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi con người, thể hiện tính nghiêm minh và góp
phần xây dựng xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Các Thẩm phán luôn nhận
thức một cách toàn diện và đầy đủ về vai trò, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của
mình trong công việc cũng như trong phiên tòa xét xử các loại tội phạm. Bên
cạnh công tác xét xử là việc tuyên truyền phổ biến và giải thích các quy định của
pháp luật cho nhân dân, sau mỗi phiên tòa xét xử là những bài học kinh nghiệm
từ việc xét xử để lại những lời khuyên, giáo dục ý thức mọi người trước hành vi
phạm pháp của người phạm tội. Từ khi thành lập đến nay, ngành Tòa án nói
chung và các Thẩm phán nói riêng đã có nhiều đóng góp to lớn cho đất nước, giữ
vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo
môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Toà án nhân dân nói chung và Thẩm phán nói riêng luôn là chỗ dựa
của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ
hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả

người vô tội. Đó là những gì mà pháp luật nước ta hướng đến và các Thẩm phán
với vai trò to lớn, cao cả đó trong hoạt động xét xử của mình đã góp phần đưa
nghành Tòa án nước ta đi lên và là nơi mà các quy định của pháp luật được áp
dụng và thật sự đi vào cuộc sống.
II. Tìm hiểu về Thẩm phán ở một số nước trên thế giới
2.1. Thẩm phán ở Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, để trở thành Thẩm phán, các ứng viên phải qua kỳ thi chuyên
môn về tư pháp và hoàn thành chương trình đào tạo trong 2 năm ở Viện nghiên
cứu và Đào tạo tư pháp. Theo thống kê, từ năm 1949 đến năm 1990, ở Hàn Quốc
có trên 200 nghìn ứng cử viên tham dự kỳ thi chuyên môn tư pháp nhưng chỉ có
trên 4800 người đạt yêu cầu, như vậy, tỷ lệ số người đạt yêu cầu chỉ có 2,3%.
Để đảm bảo cho các thẩm phán không bị lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào
khác của Nhà nước, các Thẩm phán được đảm bảo về mặt pháp lý, quyền bất khả
bãi miễn Thẩm phán, quyền tài phán. Thẩm phán được bảo vệ trước mọi sự đe
doạ và tấn công khi làm nhiệm vụ. Không Thẩm phán nào có thể bị sa thải khỏi
cơ quan trừ khi bị buộc tội hoặc khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các Thẩm
phán không bị đình chỉ công tác, hạ bậc lương hoặc bị kỷ luật nếu chưa có Quyết
định kỷ luật của Hội đồng kỷ luật tư pháp được thành lập tại Toà án tối cao. Tuy
nhiên, Chánh án Toà án tối cao có thể ra quyết định buộc thôi việc đối với những
Thẩm phán có hạn chế về sức khoẻ theo đề nghị của Hội đồng Thẩm phán Toà án
tối cao.(4)
2.2. Thẩm phán ở Malaysia
Ở Malaysia, các Thẩm phán phải đảm nhiệm công việc cho tới 65 tuổi, trừ
khi bị sa thải do những hành vi sai trái. Lương của Thẩm phán được quy định
bằng văn bản riêng do Nhà vua ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Chánh án
(3)

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình, Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân
dân theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2+3
(139+140) tháng 1 năm 2009, tr.43

Luật pháp Liên bang Nga có những quy định cụ thể để bảo đảm hoạt
động xét xử độc lập của Thẩm phán cũng như quyền lợi của họ. Thẩm phán
có quyền bất khả bãi miễn quyền tài phán và quyền được bảo vệ, Thẩm
phán có quyền bất khả xâm phạm, sự bất khả xâm phạm còn được mở rộng
đến nơi ở, nơi làm việc, phương tiện làm việc, tài sản Thẩm phán không bị
truy cứu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật. Thẩm phán có thể
không bị khởi tố vụ án hình sự, bị bắt giam, bị giam nếu không có sự phê
chuẩn của Toà án. Việc bảo đảm vật chất cho Thẩm phán không chỉ được
áp dụng khi Thẩm phán đương nhiệm mà còn cả khi họ về hưu, từ chức.
Tuỳ theo cấp và trình độ, Thẩm phán được hưởng lương, lương hưu và
phụ cấp tương xứng. Thẩm phán được cấp nhà, được miễn hoặc ưu tiên
trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội như: được quyền sử dụng các phương
tiện giao thông công cộng không phải trả tiền khi có thẻ công vụ, được
quyền giữ chỗ trước, phục vụ ưu tiên trong các dịch vụ khách sạn, dịch vụ
điện thoại Thẩm phán và các thành viên trong gia đình được phục vụ và
điều trị y tế không phải trả tiền. Tính mạng, sức khoẻ và tài sản của Thẩm
(5)

Quy chế đối với thẩm phán của một số nước trên thế giới, Trang: Phụ trương pháp luật,
/>rticleid=2041- cập nhật Thứ sáu, 20/02/2009

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

15

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự


Tên của ứng cử viên sẽ được gửi tên Uỷ ban Tư Pháp Thượng viện Hoa kỳ. Uỷ
ban sẽ tiến hành một cuộc điều tra xem ứng cử viên có phù hợp với vị trí này hay
(6)

Phương Yến, Chế độ ưu đãi đối với Thẩm phán theo luật pháp Liên bang Nga, cập nhật 25/02/2009
/>rticleid=1730
(7)
Phạm Liên, Quy chế đối với thẩm phán của một số nước trên thế, cập nhật Thứ tư, 25/02/2009
/>rticleid=1850-,

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

16

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

không. Nếu mọi kết quả đều thuận lợi, việc bổ nhiệm ứng cử viên làm Thẩm
phán sẽ được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Thượng viện và tiến hành bỏ
phiếu thông qua hoặc phản đối do đa số quyết định.
Các Thẩm phán Hoa kỳ chỉ ngừng thực hiện nhiệm vụ khi nghỉ hưu theo
nguyện vọng, do tình trạng sức khoẻ yếu kém hay qua đời hoặc khi họ phải kỷ
luật. Tất cả các thẩm phán liên bang được bổ nhiệm theo quy định của Điều III
Hiến pháp Hoa kỳ đều được giữ chức vụ đó “trong thời gian có hành vi chính
đáng”, có nghĩa là họ sẽ được giữ chức vụ đó suốt đời hoặc cho đến khi họ muốn
ngừng lại. Cách thức duy nhất buộc họ phải từ nhiệm là tiến hành luận tội tại Hạ
viện và kết tội tại Thượng viện. Theo quy định của Hiến pháp (đối với các Thẩm
phán Toà án tối cao) và các quy định về lập pháp (đối với Thẩm phán Toà phúc


17

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

nước nhà, đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Bên cạnh những quy
định về quy chế, hoạt động xét xử của Thẩm phán ở nước mình, chúng ta cần học
hỏi kinh nghiệm xét xử, cách thức đào tạo của các nước khác trên thế giới để xây
dựng đội ngũ Thẩm phán trong tương lai thật giỏi, liêm khiết, giải quyết được
nhiều vụ án lớn, không để xảy ra oan sai, các vụ chạy án, góp phần xây dựng xã
hội công bằng dân chủ văn minh.

GVHD: Nguyễn Chí Hiếu

18

SVTH: Phùng Văn Khánh


Đề tài: Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

CHƯƠNG II
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM
PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
Nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự trước tiên chúng ta đi vào nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của

19

SVTH: Phùng Văn Khánh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status