BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHU THỊ PHƢƠNG THẢO
THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC
VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO SỰ VIỆC TRONG
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN HUYÊN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học khác.
Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2013
Tác giả luận văn
Chu Thị Phƣơng Thảo
quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc .................................................................. 58
2.2.2 Các giải pháp khác ................................................................................. 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 71
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ luật hình sự
: BLHS
Bộ luật tố tụng hình sự
: BLTTHS
Tòa án nhân dân
: TAND
Tòa án nhân dân tối cao
: TANDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
: VKSNDTC
Tòa án quân sự
: TAQS
án ộ ho
n
án
p này
nh á th m
m rộng th m quy n
t
p huy n tr n
s
ội ng
i n toàn
u m rộng th m quy n
n
i n toàn t
h
s
t
s th m á vụ án
trong luật tố tụng hình sự Vi t N m” để làm đề tài nghiên
cứu luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thẩm quyền xét xử là một vấn đề phức tạp cả về lý luận cũng như thực
tiễn, do vậy được rất nhiều tác giả quan tâm và có rất nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề này như: Luận án Tiến sĩ “Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo
Luật tố tụng hình sự Việt Nam” của T.S Nguyễn Văn Huyên, năm 2002; Luận
án tiến sỹ “Phúc thẩm trong tố tụng hình sự” của T.S Nguyễn Đức Mai. Một
số luận văn thạc sỹ luật học cũng đã nghiên cứu về thẩm quyền xét xử ở các
góc độ khác nhau như : Luận văn thạc sĩ luật học “Thẩm quyền của tòa án cấp
phúc thẩm trong tố tụng hình sự,” của Th.S Nguyễn Văn Tiến năm 1997; hay
Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Lê Na về “Hoàn thiện quy định về
3
thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân các cấp” năm 2009; Luận văn
“Giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự” của Th.S Trần Văn Tín; Luận văn
“Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự” của Th.S Đàm Văn Dũng ...
Ngoài ra, một số bài viết liên quan đến đề tài như: “Một số vấn đề về thẩm
quyền xét xử” của PGS.TS Trần Văn Độ, “Vấn đề giới hạn xét xử của Tòa án
nhân dân” của T.S Nguyễn Văn Hiện, “Một số vấn đề về tăng thẩm quyền xét xử
cho Tòa án cấp huyện” của tác giả Trần Đại Thắng …
Mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau
khảo ý kiến chuyên gia để giải quyết những vấn đề đặt ra.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, thực
tiễn xét xử của Tòa án, mục đích của luận văn nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận
và thực tiễn, nội dung của chế định thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc;
tìm ra những bất cập, vướng mắc trong áp dụng, qua đó đề xuất giải pháp
hoàn thiện các quy định của BLTTHS về thẩm quyền xét xử theo sự việc của
Tòa án. Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích những vấn đề lý luận chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự theo sự việc, trong đó có các quy định của pháp luật hiện
hành về thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự theo sự việc.
- Đánh giá thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự theo sự việc của Tòa án.
- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về
thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự theo sự việc và giải pháp nâng
cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền xét xử.
6. Kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về thẩm quyền xét xử nói
chung và thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc nói riêng.
5
- Qua việc nghiên cứu lý luận chung và đánh giá thực tiễn, luận văn đã
nêu lên những bất hợp lý, những vướng mắc trong việc áp dụng các quy phạm
pháp luật tố tụng hình sự trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo
sự việc. Từ đó, làm rõ được nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập đó.
- Đưa ra những đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về
thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc của Tòa án, cũng như các biện pháp
nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc.
hơn.
Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước (hay còn gọi là nguyên tắc
phân quyền) có cơ sở từ thuyết tam quyền phân lập. Thuyết tam quyền phân
lập lần đầu tiên xuất hiện bởi nhà tư tưởng Hi Lạp Aristote. Vào thế kỉ 18,
trước yêu cầu cấp bách đặt ra là tổ chức lại bộ máy nhà nước thay cho hình
thức quân chủ chuyên chế, nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp Montesquieu đã
phát triển thuyết tam quyền phân lập thành một thuyết độc lập, theo đó quyền
lực nhà nước phải được phân chia để quyền lực hạn chế quyền lực. Mỗi loại
cơ quan Nhà nước chỉ được thực hiện một loại quyền lực để chúng ràng buộc
lẫn nhau, không cho phép cơ quan nào được lạm dụng quyền lực. Kế thừa hạt
nhân hợp lý của học thuyết này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin
trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã đưa ra
những quan điểm mới về tổ chức quyền lực nhà nước. Đó là quyền lực nhà
nước thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân. Nhân dân trao quyền
7
lực ấy cho cơ quan cao nhất là Quốc hội. Tuy nhiên, trong nhà nước pháp
quyền, mỗi một loại cơ quan nhà nước có chức năng nhiệm vụ riêng. Phạm vi
hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước do pháp luật quy
định được hiểu là thẩm quyền của cơ quan nhà nước đó. Quốc hội có thẩm
quyền tối cao thực hiện quyền lập pháp và giám sát tối cao; còn cơ quan khác
như Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát thực hiện quyền hành pháp và tư pháp.
Tòa án là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Trong hệ thống cơ
quan tư pháp của Việt Nam thì Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp với
chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và các vụ việc khác
mà pháp luật quy định để bảo vệ pháp luật và sự công bằng xã hội. Theo quy
định tại Điều 127 của Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và
Điều 1 Luật Tổ chức TAND 2002 thì Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng
nh ủ
do pháp luật quy
á
qu n, t
h
thuộ h
nh”. Khái niệm thẩm quyền ở đây
được hiểu gồm quyền hành động và quyền quyết định.
Theo tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên, “th m quy n là t ng hợp á quy n
mà pháp luật quy
nh ho một t
ợ thự hi n ông vi
h
hoặ một án ộ, ông h
trong á lĩnh vự và ph m vi nh t
nh”.
Ở nước ta, ngành tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ.
Toà án tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, phúc thẩm; Tòa án nhân dân
cấp tỉnh và Tòa án quân sự khu vực vừa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, vừa
có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm; Tòa án nhân
dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Để phân định thẩm quyền xét xử của tòa án các cấp nói trên, cần phải dựa vào
một số dấu hiệu của vụ án như tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm, địa
điểm phạm tội, người thực hiện tội phạm. Chỉ trên cơ sở xem xét từng dấu
hiệu mới có thể xác định được thẩm quyền xét xử được chính xác. Khi đã xác
9
định đúng thẩm quyền xét xử sơ thẩm thì mới có thể dễ dàng xác định được
thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm. Vì vụ án chỉ xét xử theo thủ
tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị với bản
án được giải quyết ở cấp sơ thẩm. Như vậy, để xác định được thẩm quyền xét
xử phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm trước hết phải xác định thẩm quyền
xét xử sơ thẩm. Do đó, việc hiểu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm là cần thiết.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học hình sự, TTHS thì “ S th m
là
t
lần ầu
quy t
nh t t ả á v n
thẩm căn cứ vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm hoặc vụ án, để
phân biệt thẩm quyền của Tòa án cấp huyện với Tòa án cấp tỉnh, Tòa án quân
sự khu vực với Tòa án quân sự cấp quân khu.
Trong các dấu hiệu nói trên, xác định thẩm quyền xét xử căn cứ vào
dấu hiệu về sự việc phạm tội là khó khăn nhất. Vì việc xác định những yếu tố
như tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm hoặc vụ án là không dễ, nó
thường mang màu sắc chủ quan của nhà làm luật. Cần phải hiểu tính nghiêm
trọng và tính phức tạp của tội phạm là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Tính nghiêm trọng của tội phạm được hiểu là mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội gây ra cho xã hội, mức độ nguy hiểm cao tương
đương với việc gây ra thiệt hại lớn cho xã hội và ngược lại, mức độ nguy
hiểm của hành vi thấp sẽ gây thiệt hại ít hơn. Tính phức tạp của tội phạm
không thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi mà thể hiện ở khách thể tội
phạm, chủ thể tội phạm người có chức sắc cao, lãnh đạo chủ chốt…), cơ
quan tiến hành tố tụng khả năng điều tra, truy tố, xét xử) … Do đó, xác định
thẩm quyền xét xử căn cứ dấu hiệu này cho thấy tính chất tội phạm, tính phức
tạp của vụ án càng cao thì đòi hỏi cấp Tòa án xét xử và trình độ người xét xử
phải cao tương ứng.
Khi xác định thẩm quyền xét xử, việc bỏ sót một trong các dấu hiệu
trên có thể sẽ dẫn đến việc xác định sai thẩm quyền, vi phạm thủ tục tố tụng
ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án như: thời gian, kinh phí, quyền lợi
bị cáo, tính khách quan của vụ án… Vì vậy, để giải quyết vụ án hiệu quả, đáp
ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trước hết cần phải xem xét kĩ lưỡng
11
đồng thời cả ba dấu hiệu nói trên để xác định đúng thẩm quyền tiến hành tố
tụng.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về thẩm quyền xét xử
truy tố của Viện kiểm sát.
1.2 Cơ sở quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
theo sự việc
1.2.1 Cơ sở lý luận
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo
duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng lãnh đạo bằng cách đề ra đường
lối, chủ trương, chính sách qua từng thời k nhất định và sử dụng pháp luật
như là công cụ hữu hiệu nhất để thể chế hoá các quan điểm, đường lối, chủ
trương đó đi vào cuộc sống. Việc xây dựng các quy định về thẩm quyền xét
xử của Tòa án không thể không dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước.
Sự nghiệp đổi mới đã được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hoá... và đổi mới tư pháp cũng là nhiệm vụ trọng tâm. Vấn đề thẩm quyền
xét xử và phân định lại thẩm quyền xét xử của ngành Tòa án là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp. Nghị quyết Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ IX đã nêu rõ: “s p
nh hợp l th m quy n ủ
p l i h thống Tòa án nhân dân, ph n
án nh n d n á
p”. Nghị quyết Hội nghị
12
lần VIII- BCHTW Đảng khóa VII) đề ra nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt
động của cơ quan tư pháp, trong đó xác định: “ nghi n
t
án nhân dân tối cao tập trung làm tốt nhiệm vụ giám đốc thẩm, tổng kết thực
tiễn, hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật.
Xét xử sơ thẩm là một trong những giai đoạn tố tụng được quy định
trong BLTTHS, là giai đoạn xét xử đầu tiên nên việc xem xét toàn bộ nội
dung vụ án hình sự được thực hiện tại giai đoạn này, việc xem xét đều phải
tuân theo những nguyên tắc nhất định, các nguyên tắc này đều là những
nguyên tắc dân chủ trong luật TTHS, là cơ sở cho hoạt động xét xử của Tòa
án: nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội có
hiệu lực pháp luật của Tòa án, bảo đảm quyền bào chữa bị can, bị cáo; nguyên
tắc xác định sự thật vụ án, thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật... Ngoài ra, Tòa án được giao nhiệm vụ xét xử sơ thẩm
đóng vai trò rất quan trọng góp phần cùng với Tòa án cấp trên, các cơ quan
tiến hành tố tụng khác như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoàn thành nhiệm
vụ xét xử mà Nhà nước giao. Việc quy định thẩm quyền xét xử nói chung và
thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc nói riêng cần phải cân nhắc, xem xét
kỹ có ảnh hưởng đến hoạt động điều tra, truy tố không. Vì chế định về thẩm
13
quyền xét xử có mối liên hệ chặt chẽ với các chế định khác, khi thay đổi quy
định về thẩm quyền xét xử, các chế định khác liên quan như chế định thẩm
quyền điều tra, truy tố cũng bị ảnh hưởng và phải thay đổi theo. Như vậy, khi
quy định thẩm quyền của Tòa án nói chung và thẩm quyền xét xử sơ thẩm
theo sự việc nói riêng cần phải căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của luật
TTHS và các chế định liên quan khác.
Sự phân định thẩm quyền xét xử ngoài việc dựa vào các cơ sở đường
lối của Đảng, các nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự và các chế định liên
quan thì tính chất của tội phạm là cơ sở không thể thiếu để quy định về thẩm
quyền xét xử theo sự việc. Tính chất của tội phạm bao gồm tính nghiêm trọng
chính xác khi phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm cần phải dựa vào tính
nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm. Theo đó, loại tội càng nghiêm trọng, vụ
án có nhiều phức tạp đòi hỏi cơ quan và người tiến hành tố tụng càng phải có
trình độ, năng lực cao.
Khi tính toán, xem xét một vấn đề ta không thể bỏ qua tính hiệu quả
kinh tế của vấn đề đó. Nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc
cũng vậy, chế định thẩm quyền phải được quy định sao cho phù hợp, đạt kết
quả cao nhưng không tốn kém, giảm chi phí cho xã hội nói chung và hoạt
động của cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Ngoài ra, quy định về thẩm
quyền xét xử còn phải đảm bảo được quyền lợi, tiết kiệm chi phí cho người
tham gia tố tụng. Có thể thấy, chi phí cho hoạt động điều tra hay xét xử ở cấp
dưới sẽ thấp hơn ở cấp trên. Cụ thể, khi tiến hành hoạt động xét xử sơ thẩm ở
cấp huyện không tốn kém chi phí đi lại do địa bàn gần, người tham gia tố tụng
có điều kiện thuận lợi để tham gia phiên tòa, từ đây tránh được tình trạng
hoãn phiên tòa, tiết kiệm được những chi phí cho phiên tòa lần sau. Nếu có
kháng cáo, kháng nghị sẽ do Tòa án cấp tỉnh xét xử, đều trong một tỉnh nên
các chi phí đi lại, lưu trú cũng thấp hơn. Nếu xét xử sơ thẩm ở Tòa án cấp
tỉnh, có kháng cáo, kháng nghị tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm tại
trụ sở hoặc xét xử lưu động đều phải chịu chi phí sẽ cao hơn nhiều so với cấp
tỉnh xét xử phúc thẩm.
Để có thể phản ánh một cách khách quan sự việc phạm tội, xét xử đúng
người, đúng tội, đảm bảo tính công bằng xã hội thì người tiến hành tố tụng
cần phải có trình độ nghiệp vụ chuyên môn nhất định. Vụ án càng khó, càng
15
phức tạp đòi hỏi người có trình độ càng cao. Việc phân định thẩm quyền xét
xử theo sự việc không thể không tính đến trình độ của Thẩm phán, cán bộ
ngành Toà án, Điều tra viên, Kiểm sát viên, đồng thời cần phải tính đến điều
thẩm đã được hình thành từ rất lâu và phát triển cho tới bây giờ. Xã hội ngày
càng phát triển tương ứng với nó sự phân định thẩm quyền xét xử luôn phải
có thay đổi để phù hợp với sự phát triển của đất nước. Ngay sau khi Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, hệ thống Toà án nhân dân đã được hình
thành khi đó toà sơ cấp, cấp toà thấp nhất chỉ có thẩm quyền xét xử những vụ
án hình sự đơn giản, mang tính chất vi cảnh. Sau khi có Hiến pháp năm 1959,
Toà sơ cấp đã được đổi tên thành toà án huyện, quận, thị xã… và đã có thay
đổi theo hướng tăng một bước về thẩm quyền. Theo điểm d Điều 12 của Pháp
lệnh năm 1961 quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và tổ
chức các tòa án nhân dân địa phương, Tòa án nhân dân cấp huyện có quyền
phân xử những vụ án hình sự nhỏ không phải mở phiên toà và xét xử sơ thẩm
những vụ án hình sự có thể phạt từ hai năm tù trở xuống. Đến khi Luật tổ
chức toà án nhân dân ngày 4/7/1981 ban hành theo quy định tại Điều 36, Tòa
án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án hình sự,
trừ những tội xâm phạm an ninh quốc gia, những tội phạm hình sự có tính
chất nghiêm trọng, phức tạp hay gây hậu quả lớn. Sau đó BLHS năm 1988 ra
đời, theo khoản 1 Điều 145 BLTTHS năm 1988, Tòa án nhân dân cấp huyện
được xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định từ 7 năm tù
trở xuống, trừ những tội đặc biệt xâm phạm an ninh quốc gia và một số tội
khác của Bộ luật hình sự. Cho đến nay khi BLTTHS năm 2003 được ban
hành, thẩm quyền của Tòa án cấp huyện đã được xử tới các tội phạm rất
nghiêm trọng có khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống.
Xã hội chúng ta ngày càng phát triển, kể từ khi Việt Nam gia nhập
WTO, tình hình tội phạm có xu hướng gia tăng và ngày càng phức tạp có liên
quan đến yếu tố nước ngoài), tội phạm xảy ra ở nhiều địa bàn không chỉ ở
17
thành phố lớn, mà còn ở các tỉnh, huyện lẻ. Do vậy, sự phân định thẩm quyền
nay 100% có trình độ Đại học luật hoặc tương đương. Theo đánh giá hàng
năm thì số Thẩm phán hoàn thành nhiệm vụ chiếm trên 90%. Mặc dù số
lượng và chất lượng Thẩm phán được nâng lên một bước cơ bản so với trước
đây, nhưng so với yêu cầu thực tế thì có thể nói là thực trạng đội ngũ Thẩm
phán hiện nay vẫn còn hạn chế về chất lượng và số lượng [30].
Để đáp ứng với yêu cầu phòng và đấu tranh chống tội phạm hình sự
trong giai đoạn mới, vấn đề phân cấp thẩm quyền xét xử của tòa án các cấp
một cách hợp lý là đòi hỏi bức xúc, nhằm đảm bảo pháp chế thống nhất, tôn
trọng và bảo đảm các quyền của công dân trong tố tụng hình sự.
Với vai trò quan trọng của mình trong mối liên hệ với các quy định
khác của pháp luật TTHS, thẩm quyền xét xử các VAHS phải được quy định
một cách phù hợp trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện tất cả các căn cứ
trên.
1.3 Sơ lƣợc lịch sử phát triển các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc của Tòa án các cấp
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời, hệ thống Tòa án đã được hình thành. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký sắc lệnh ngày 13/9/1945 và sau đó bổ sung bằng sắc lệnh 21 ngày
14/2/1946 thành lập các Tòa án quân sự. Từ khi thành lập, tòa án này đã xét
xử được nhiều loại tội phạm, trấn áp và trừng trị kịp thời mọi âm mưu hành
động chống phá Cách mạng, chính quyền. Sau đó, sắc lệnh 163 ngày
23/8/1946 ra đời quy định về tổ chức, thẩm quyền của các tòa án binh, đây là
cơ sở cho việc tổ chức và quy định thẩm quyền xét xử Tòa án quân sự ngày
nay.
Về Tòa án tư pháp, một loạt các văn bản có liên quan khác được ban
hành như Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về Tổ chức Toà án và ngạch Thẩm
19
n 5 ngày, những vụ án
t
t
ồi
in ồi th ờng quá số ti n y” Điều
th m quy n
t
s th m những vi
ti u hình là những vi
th
ph t tù t 6
tr n 9 ồng Điều 10, sắc lệnh 51). Như vậy,
Toà sơ cấp cấp toà thấp nhất trong hệ thống toà án lúc đó chỉ có thẩm quyền
xét xử những vụ án hình sự nhỏ, đơn giản, mang tính vi cảnh.
Sau một thời gian thực hiện trong điều kiện có chiến tranh, các quy
định trên không còn hợp lý. Do vậy, đến 26/5/1948 Sắc lệnh số 185 về ấn
định thẩm quyền của Tòa án sơ cấp và Tòa án đệ nhị cấp trên tinh thần mở
rộng thẩm quyền của Tòa án sơ cấp được ban hành, cho phép Tòa án sơ cấp
có thể xử việc bồi thường quá 200 đồng, hoặc nếu vì tình thế chiến tranh lại
mất liên lạc với Toà đệ nhị cấp thì Tòa án cấp này giam cứu bị can đến 45
ngày nếu là việc tiểu hình, hoặc đến 4 tháng nếu là đại hình.
những vi
ng
ng
p huy n, thành phố thuộ t nh,
ợ
t
s th m những vụ án
nh thuộ th m quy n ủ
hình sự nh
ác Tòa án
hông phải m phi n toà…”. Tiếp đó,
Pháp lệnh năm 1961 về tổ chức TANDTC và TAND địa phương quy định mở
rộng thêm một bước đáng kể thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện, cho
phép TAND cấp huyện phân xử những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên
toà và sơ thẩm những VAHS nhỏ có thể phạt tù từ 2 năm trở xuống. Còn
TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án có thể xử phạt
trên hai năm tù và những vụ án thuộc thẩm quyền cấp dưới nhưng lấy lên để
xét xử. Trong quá trình thực hiện quy định này đã có những vướng mắc nên
TANDTC ban hành thông tư 1080/TC ngày 25/9/1961 và thông tư 1071/TC
ngày 7/9/1965 đã hướng dẫn việc phân xử những vụ án hình sự nhỏ không