Download miễn phí Giáo trình Sinh lý học vật nuôi - Sinh lý tổ chức cơ và thần kinh
Khi co bóp cơ sản sinh nă ng lượng, m ột ph ần nă ng lượ ng được gi ải phóng nh ờ các
phản ứ ng hóa học được dùng trự c ti ếp để sinh công (khoảng 25-30%) ph ầ n còn lại biế n
thành nhi ệ t m ất đi.
Trong quá trình co cơ, nhi ệt được phát sinh ra ở 2 giai đoạ n: giai đoạ n khởi động và
giai đoạn phục hồi. Nhi ệt kh ởi động sản sinh trong giai đoạ n yếm khí bao gồm 2 dạng:
dạng nhiệt kh ởi động để co cơ (50 -70%) và d ạ ng nhiệt kh ởi động làm giãn cơ (35%).
Nếu cơ co bóp ng ắ n, nhiệt kh ởi động chiếm khoảng 20-30% tổng hợp nhiệt. Còn l ại là
nhi ệt ph ục hồi, được s ản sinh ch ủ yếu trong giai đoạn hiếu khí.
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-06-04-giao_trinh_sinh_ly_hoc_vat_nuoi_sinh_ly_to_chuc.qclCK23iQv.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-68719/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
trong lúc sức căng không đổi. Điều này rất
quan trọng: Chẳng hạn ở cơ tử cung mang thai, thai lớn dần, cơ tử cung dãn ra ngày càng to
nếu sức càng tăng theo sẽ bị co thắt mạnh và ép chết thai.
Cơ vân co giãn nhanh nhưng chóng mỏi, cơ trơn có thể co giãn mấy phút liền và hầu
như thường xuyên không mỏi, chẳng hạn vận động co giãn tạo nên nhu động dạ dày ruột
suốt ngày đêm.
1.3. Lực của cơ
Lực tối đa của cơ đo bằng tải trọng tải cực đại mà cơ đó có khả năng nâng lên
cao. Lực cơ không lệ thuộc vào chiều dài mà lệ thuộc vào độ dày của cơ, nghĩa là vào
số lượng các sợi cơ chứa đựng trong một bắp cơ. Số lượng sợi cơ càng nhiều lực cơ
càng lớn. Để so sánh lực giữa các cơ khác nhau người ta lấy lực tuyệt đối chia cho mặt
cắt sinh lý của một bắp cơ để được sức tuyệt đối của mỗi đơn vị là lcm2 mặt cắt sinh
lý của nó.
Ở các cơ có sợi xếp song song và các cơ hình thoi, mặt cắt sinh lý trùng với mặt cắt
giải phẫu. Riêng ở cơ hình lông chim, mặt cắt sinh lý lớn hơn hẳn mặt cắt giải phẫu,
nên lực của loại cơ này lớn hơn hẳn so với các cơ có sợi xếp song song hay hình thoi có
cùng kích thước.
Một vài con số thí dụ: Lực cơ (tính trên lcm2 mặt cắt) của cơ nhai là lòng, của cơ
nhị đầu cánh tay: ứng, của cơ vai: 8,lkg, của cơ tam đầu cánh tay 17 kg, của cơ trơn
284
nói chung lkg.
1.4. Công của cơ
Khi có bóp, cơ hoàn thành một công gọi là công cơ giới của cơ. Công này được tính
theo công thức:
W = P. S
W: công tính bằng kglm hay giải.
P: Trọng vật tính bằng kg hay gam
S: độ đài của cơ mang trọng vật tính bằng mét.
Công của cơ lớn hay nhỏ, phụ thuộc vào những nhân tố sau đây:
- Độ dài của cơ khi bắt đầu co rút:
Khi bắt đầu co rút, nếu sợi cơ càng dài thì trọng vật nó mang được càng lớn. Thí dụ:
khi chân sau của ngựa chuẩn bị đá, phải kẻo chân gấp về phía trước làm cho cơ duỗi dài
ra, do đó sức co của chân khi đá tăng lên. Nhưng nếu sợi cơ bị kẻo ra dài quá thì công của
cơ bị giảm xuống; khi cơ kéo dài tới một mức độ nào đó mà đạt được một công lớn nhất thì
đó là độ dài thích hợp của cơ.
- Trọng lượng vật mang (trọng vật).
Qua thí nghiệm trên cơ đùi ếch ta lập được một bảng về mối quan hệ giữa trọng vật
và công của cơ như sau:
Trọng vật (g) 0 50 100 150 200 250
Chiều cao cơ co (mm) 15 9 7 5 2 0
Công của cơ (g/mm) 0 450 700 450 400 0
Qua bảng trên ta thấy: công của cơ đạt cao nhất khi mang một trọng vật trung
bình phù hợp với lực của cơ, quá nhẹ sẽ thiệt công, quá nặng công thu được cũng thấp.
- Tốc độ co bóp của cơ.
Trong một phạm vi nhất định cơ co càng chậm thì công thực hiện được càng
nhiều và ngược lại. Nhưng nếu co bóp quá chậm tuy công thu được nhiều nhưng phần
lớn biến thành nhiệt mất đi. Như vậy co bóp chậm là không lợi, phải khắc phục ma sát
bên trong cơ nên tốn nhiều năng lượng. Khi mắc công cụ lên súc vật như mắc yên
ngựa, vai cày phải vừa khít, đừng ái ngại cho rằng con vật bị đau, phải cân đối để thu
được công cao.
- Hiệu suất cơ giới của cơ.
Khi cơ hoạt động, không phải toàn bộ năng lượng đều được chuyển thành công
cơ giới mà phần lớn chuyển thành nhiệt mất đi, hệ số công hữu ích này xê dịch trong
khoảng 15-20% khi luyện tập tăng đến 25-30%, hãn hữu 35% ở người và 50% ở gia
súc. Tỷ số giữa năng lượng cơ giới và toàn bộ năng lượng tiêu hao gọi là hiệu suất cơ
giới của cơ Luyện tập là một biện pháp quan trọng làm tăng hiệu suất cơ giới của cơ.
Luyện tập đều đặn tiêu hao năng lượng có thể giảm 50% so với không luyện tập. Nếu
285
ngày nào cũng luyện tập, hiệu suất cơ giới có thể tăng 5-10 lần.
1.5. Sự mệt mỏi của cơ
Sau một thời gian hoạt động, khả năng làm việc của cơ giảm sút, ta nói cơ đã bị
mệt và cơ thể ở vào trạng thái mệt mỏi. Khi nghiên cứu trên các vận động viên điền
kinh thấy hiện tượng mệt cơ tăng tỷ lệ thuận với việc giảm hàm lượng glycogen cơ.
Mệt cơ là do những biến đổi trong cơ gây ra do thiếu oxygen và tăng tích luỹ các sản
phẩm chuyển hóa trong cơ. Tăng tuần hoàn máu đến cơ có thể khắc phục hiện tượng
này, nhưng thực tế khi cơ co tạo sức căng cơ đè vào mạch máu làm cho lưu thông máu
trong cơ bị trở ngại.
Thực nghiệm trên tiêu bản cơ - thần kinh cho thấy sự dẫn truyền các tín hiệu thần kinh
qua synapse giảm đi sau những hoạt động cơ kéo dài, đây là nguyên nhân chính gây ra sự
mệt mỏi của cơ, thực nghiệm tiến hành như sau:
Trên 2 tiêu bản cơ - thần kinh cơ đùi ếch, đầu tiên kích thích vào dây thần kinh đi đến
cơ tiêu bản A thấy cơ A co, sau một số lần kích thích cơ A không co bóp nữa. Tiếp theo,
bắt chéo dây thần kinh của tiêu bản B sang dây thần kinh của tiêu bản A rồi kích thích điện
vào dây thần kinh của tiêu bản A thì thấy cơ B co bóp: như vậy mệt mỏi không phải xuất
hiện ở dây thần kinh.
Sau đó kích thích điện trực tiếp lên cơ A thì thấy cơ A co bóp. Vậy mệt mỏi cũng
không phải xuất hiệu ngay ở bắp cơ mà chỉ còn một chỗ xuất hiện sự mệt mỏi, đó là
synapse thần kinh cơ.
Tuy nhiên xét toàn bộ thì sự mệt mỏi còn chịu sự chi phối của võ não. Vỏ não bị
ức chế thì mệt mỏi xuất hiện sớm. Vỏ não được kích thích hưng phấn thì mệt mỏi xuất
hiện chậm.
Đó là cơ sở của việc diều khiển gia súc khi chúng làm việc, đừng đánh đập chửi
mắng và cũng là cơ sở khoa học của sự khích lệ động viên động viên trong phong trào lao
động sản xuất của con người.
1.6. Cơ chế co cơ
1.6.1. Cơ chế lý học
Ta biết rằng trong mô cơ, nước chiếm 75%, 25% còn lại là chất khô, trong đó
khoảng 20% là protein. Phần protein này gồm 2 loại: protein cấu trúc và protein sợi co giãn,
gồm Miozin (2/3) (sợi dày) và sợi mỏng Actin (1/3).
Khi cơ yên tĩnh đầu tận cùng của các sợi nhỏ Actin nằm vào giữa sợi dày Miozin và
liên kết với nhau bằng những cầu ngang nhỏ. Cầu này có dạng xoắn ốc do các chuỗi
polipeptid ở tận cùng phân tử miozin tạo nên. Khi cơ yên tĩnh, vòng xoắn ốc này dãn ra do
sức đẩy tĩnh điện của các điện tích âm ở chân cầu và điện t ích âm của nhóm phosphale
tận cùng trong ATP được cố định ở đầu cầu.
286
Khi có xung thần kinh truyền tới, do tác dụng của dòng điện động nên con Ca liệt
kết với ATP của cầu và ADP của sợi actin khiến điện tích âm của nhóm phosphate tật
cùng trong ATP được trung hòa nên cầu co lại và đẩy sợi actin đi một đoạn lồng vào
dọc theo sợi myozin. Men ATPase chuyển ATP của cầu thành ADP, mối liên hệ giữa
cầu vi sợi actin bị phá hoại, sau đó ADP của cầu lại thu nhận một nhóm phosphate mới
về chuyển thành ATP, cầu lại giãn ra, liên kết với phần khác của sợi actin và chuẩn
bịch( một chu kỳ co mớ i. Trong mỗi sợi cơ có hàng ngàn cầu, chúng co và giãn ở
những thờ. gian khác nhau. Kết quả là các sợi actin trượt liên tục giữa các sợi myozin.
1.6.2. Cơ chế hóa học
Quá trình sinh hóa trong sự co cơ diễn ra qua 2 giai đoạn: yếm khí và hiếu khí.
1 6.2.1. Giai đoạn yếm khí
Bước 1 : Khi có xung thần kinh đến cơ, trước hết ATP trong cơ được phâ...