MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đổi mới bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói
riêng là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương 8
khoá VII của Đảng đã đề ra các quan điểm cơ bản về đổi mới bộ máy nhà
nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng. Các quan điểm này được
tiếp tục khẳng định và phát triển trong các văn kiện Đại hội và các Nghị
quyết Trung ương của Đảng ta trong những năm gần đây.
Về hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp, trong văn kiện
Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ:
… Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản
pháp luật làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ
quan tư pháp trước yêu cầu đổi mới như các Bộ luật: dân sự, tố
tụng dân sự, tố tụng hình sự (sửa đổi) và các luật, pháp lệnh về
xử phạt vi phạm hành chính, bảo đảm cho mọi vi phạm đều bị
xử lý, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, bảo đảm
quyền làm chủ của công dân, [11, tr. 130].
Đại hội IX của Đảng đã đề ra các biện pháp tiến hành cải cách tư
pháp ở nước ta là:
Tiếp tục cải cách, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt
động của các cơ quan tư pháp theo nguyên tắc nâng cao tinh thần
trách nhiệm, làm tốt công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét
xử, không để xảy ra những trường hợp oan sai Sắp xếp tại hệ
thống TAND, phân định thẩm quyền một cách hợp lý theo
nguyên tắc tổ chức TA theo cấp xét xử, tăng cường thẩm phán ở
1
những địa bàn trọng điểm, quy định rõ tiêu chuẩn, trách nhiệm và
thẩm quyền của hội thẩm nhân dân. TANDTC làm nhiệm vụ
hướng dẫn áp dụng pháp luật và thực hiện công tác giám sát xét
xử các bản án, quyết định đã có HLPL [13, tr. 295-296].
sửa đổi, bổ sung (7/1990, 12/1992 và 6/2000) để đáp ứng kịp thời yêu cầu
của thực tiễn.
Tuy nhiên, sau 15 năm áp dụng, bên cạnh những kết quả đạt được,
nhiều quy định của BLTTHS hiện hành nói chung và các quy định về phúc
thẩm nói riêng đã bộc lộ nhiều bất cập. Trong thực tiễn, các TA cấp phúc
thẩm rất vướng mắc khi áp dụng các quy định BLTTHS về phạm vi xét xử
phúc thẩm, về bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị; giải quyết
vấn đề kháng cáo quá hạn; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn
chặn tạm giam, Việc quy định một thủ tục xét xử phúc thẩm áp dụng
chung đối với tất cả các vụ án đã làm cho hoạt động xét xử phúc thẩm trở
thành quá tải, quá thời hạn luật định dẫn đến sự tồn đọng án trong những
năm gần đây ở các TA cấp phúc thẩm, đặc biệt là ở TANDTC. Điều đó ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội
phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng, không bảo vệ kịp thời lợi ích của
Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nguyên nhân của tình trạng này là do một số quy định của BLTTHS
về phúc thẩm chưa đầy đủ, cụ thể và rõ ràng. Cơ quan có thẩm quyền cũng
chưa hướng dẫn kịp thời, đầy đủ về việc áp dụng các quy định BLTTHS
dẫn đến nhận thức và áp dụng có nhiều vướng mắc. Mặt khác, hệ thống tổ
chức và hoạt động của các TA cấp phúc thẩm; trình độ nghiệp vụ và năng
lực của đội ngũ thẩm phán và kiểm sát viên và các bảo đảm khác cho hoạt
động của các TA và VKS cấp phúc thẩm cũng còn nhiều hạn chế.
BLTTHS (sửa đổi) được thông qua ngày 18/11/2003 tại kỳ họp thứ 4
Quốc hội khóa XI là một bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ
3
thống pháp luật nước ta nói chung và pháp luật TTHS nói riêng. Việc sửa
đổi bổ sung BLTTHS lần này được tiến hành tương đối đồng bộ, toàn diện
và về cơ bản đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta theo tinh
thần Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung
ương Đảng. Tuy nhiên, về cơ bản các quy định về phúc thẩm trong
hoàn thiện" của TS. Dương Ngọc Ngưu (Tạp chí TAND, số 11/2000 và số
01/2001); "Thủ tục phiên tòa phúc thẩm có gì khác với phiên tòa sơ thẩm"
của ThS. Mai Bộ (Tạp chí TAND, số 9/1995); "Quyền hạn của Tòa án khi
xét xử phúc thẩm" và "Sửa bản án sơ thẩm theo Điều 221 Bộ luật tố tụng
hình sự" của Hoàng Thị Sơn (Tạp chí Luật học, số 6/1997 và 5/1999);
"Hoàn thiện pháp luật về xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự" của ThS.
Nguyễn Nông (Tạp chí TAND, số 8/1994); "Việc Tòa án cấp phúc thẩm
sửa án sơ thẩm từ không có tội thành có tội theo khoản 3 Điều 221 Bộ luật
tố tụng hình sự" của Phạm Văn Khánh (Tạp chí Kiểm sát, số 7/1999);
Các công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến phúc thẩm
trong TTHS: "Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án
nhân dân" của tác giả Phạm Hưng (Tạp chí TAND, số 10 và số 11/1997);
"Vấn đề thực tiễn, lý luận và yêu cầu hoàn thiện thẩm quyền xét xử giám
đốc thẩm các vụ án hình sự của Tòa án các cấp" và "Vấn đề giới hạn xét
xử của Tòa án nhân dân" của TS. Nguyễn Văn Hiện (Tạp chí TAND, số
4/1997 và số 8/1999); "Về các căn cứ đổi mới tổ chức và hoạt động của
Tòa án các cấp" của PGS.TS Trần Văn Độ (Tạp chí Luật học, số 3/1997);
"Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp" của PGS.TS
Phạm Hồng Hải (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2001); "Vài nét về
quá trình hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân" của TS. Đặng
Quang Phương (Tạp chí TAND, số 6/1995);
Một số nhà khoa học pháp lý trên thế giới cũng nghiên cứu về vấn
đề này và quan điểm của họ cũng rất khác nhau, trong số đó có các nhà
5
khoa học pháp lý Xô viết như: "Giáo trình tố tụng hình sự Xô viết" của
GS.TS Stơrogovích M. C., Nxb Khoa học pháp lý, Matxcơva, 1980; "Phúc
thẩm trong tố tụng hình sự Xô viết" của GS.TS Pêrơlốp V. Đ., Nxb Pháp lý,
Mátxcơva, 1968; "Bảo vệ quyền lợi của bị cáo trong xét xử phúc thẩm" của
GS.TS Martưnchích E. G., Nxb. Kisinhốp, 1979;
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
sáng tỏ về mặt lý luận một số nội dung cơ bản của phúc thẩm: bản chất của
phúc thẩm; thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm và thủ tục xét xử phúc thẩm.
Từ đó đưa ra khái niệm đầy đủ, hoàn chỉnh và khoa học về phúc thẩm;
- Khái quát về quá trình phát triển của pháp luật TTHS Việt Nam về
phúc thẩm trước khi ban hành BLTTHS 1988; phân tích làm sáng tỏ nội
dung các quy định pháp luật TTHS hiện hành về phúc thẩm có so sánh với
BLTTHS sửa đổi mới được thông qua ngày 18/11/2003 tại kỳ họp thứ 4
Quốc hội khóa XI;
- Khái quát về thực trạng phúc thẩm ở nước ta những năm gần đây;
chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn và nguyên nhân để từ đó đề
xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật TTHS về phúc thẩm và
nâng cao hiệu quả phúc thẩm.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, về cải cách tư
pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tác
giả đã vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử để phân tích làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu.
7
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp với một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích - tổng
hợp, thống kê, lịch sử, lôgíc - pháp lý, để phân tích có phê phán các quan
điểm khác nhau về vấn đề nghiên cứu. Tác giả đã tiến hành khảo sát và thu
thập số liệu thống kê về thực tiễn phúc thẩm các vụ án hình sự ở TANDTC,
một số TA cấp tỉnh và Viện phúc thẩm I VKSNDTC những năm gần đây.
Những luận điểm khoa học trong luận án của tác giả được phát triển
dựa trên các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý ở nước ta
và một số nước khác trên thế giới.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
"phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội,…
bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân". Đây cũng là một nội dung cấp
thiết của việc bảo vệ quyền con người nói chung mà mỗi quốc gia cũng như
cộng đồng quốc tế đều quan tâm giải quyết.
Trong Tuyên ngôn Viên và chương trình hành động được thông qua
ngày 25/6/1993 tại Hội nghị thế giới về Nhân quyền đã nhấn mạnh:
Quyền con người và các quyền tự do cơ bản là quyền của
mọi người được hưởng khi sinh ra; việc thúc đẩy và bảo vệ các
quyền đó là trách nhiệm trước tiên của các chính phủ Việc đề
cao và bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản phải
9
được coi là một mục tiêu ưu tiên của Liên hợp quốc , là mối
quan tâm chính đáng của cộng đồng quốc tế [25, tr. 657].
Vì vậy, các quốc gia đều chú ý điều chỉnh bằng pháp luật quá trình
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội, đặc
biệt là hoạt động xét xử các vụ án hình sự, nhằm tạo ra một cơ chế kiểm
tra, giám sát chặt chẽ có hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, phát
hiện và khắc phục kịp thời các sai sót về xét xử của các TA cấp dưới. Phúc
thẩm trong TTHS là một trong các hình thức, phương tiện được các nước
sử dụng nhằm đạt được mục đích này.
Sự hình thành và phát triển của chế định phúc thẩm trong TTHS gắn
liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ và
tiến bộ của TTHS như: nguyên tắc công bằng; nhân đạo; suy đoán vô tội;
bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; xét xử công khai, trực tiếp và
bằng lời nói; Vì vậy, chế định phúc thẩm trong TTHS không thể tồn tại
trong xã hội mà ở đó không có nền dân chủ.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người theo xu hướng ngày
càng dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội (trong đó bao gồm cả lĩnh vực
TTHS), các nguyên tắc nói trên ngày càng được bổ sung và hoàn thiện.
Sự ra đời của TA cấp phúc thẩm còn xuất phát từ quan niệm của các
nhà lập pháp cho rằng việc xét xử lại các vụ án có kháng cáo, kháng nghị ở
TA cấp trên sẽ hạn chế được những sai sót về xét xử của các thẩm phán
Tòa sơ thẩm. TA cấp trên sẽ xử đúng công lý hơn vì Tòa này gồm những
thẩm phán cao niên, có kinh nghiệm hơn và ở xa các đương sự nên không
chịu ảnh hưởng địa phương. Nguyên tắc hai cấp xét xử còn bắt buộc các
thẩm phán Tòa cấp dưới phải thận trọng trong việc xét xử, nếu không án
văn sẽ bị Tòa cấp trên tiêu hủy [27, tr. 67].
11
Như vậy, có thể thấy rằng, sự ra đời của chế định phúc thẩm trong
TTHS là một nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội loài người phát triển
đến một trình độ nhất định. Nó gắn liền với sự hình thành và phát triển của
các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ và tiến bộ của TTHS. Trong điều kiện
ngày nay, dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội đang trở thành xu hướng
phát triển tất yếu của các quốc gia, chế định phúc thẩm trong TTHS ngày
càng được hoàn thiện và trở thành một trong các hình thức, phương tiện
pháp lý hữu hiệu được các nước sử dụng rộng rãi nhằm bảo vệ có hiệu quả
hơn các quyền và tự do cơ bản của công dân.
Với ý nghĩa đó, phúc thẩm có vai trò vô cùng quan trọng thể hiện ở
một số điểm cơ bản sau đây:
Một là, phúc thẩm là một trong những hình thức giám đốc xét xử chủ
yếu của TA cấp trên đối với TA cấp dưới. Thông qua việc xét xử lại vụ án
mà bản án hoặc quyết định chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị, TA cấp
phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án
(quyết định) sơ thẩm chưa có HLPL mà còn có phát hiện và khắc phục kịp
thời các vi phạm nghiêm trọng về xét xử của TA cấp dưới. Theo thống kê,
số vụ án hình sự được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm trung bình hàng
năm chiếm gần 30% số vụ án đã xét xử sơ thẩm, trong số đó, các TA cấp
phúc đã sửa, hủy án sơ thẩm hoặc tuyên bị cáo vô tội đối với khoảng 25 -
30% số bị cáo (xem Phụ lục số 2 và 3). Bằng quyền hạn của mình, TA cấp
được hiểu cả ở ba nghĩa (nội dung) nêu trên: phúc thẩm là một giai đoạn,
một chế định của TTHS đồng thời là một thủ tục xét xử. Hay nói cách
khác, khái niệm phúc thẩm trong TTHS bao gồm các yếu tố (nội dung) cấu
thành nêu trên. Như vậy, xét về nội hàm, thì "phúc thẩm" là khái niệm rộng
nhất, trong đó bao hàm các khái niệm hẹp: "Giai đoạn phúc thẩm", "chế
định phúc thẩm" và "thủ tục xét xử phúc thẩm". Khi nói về phúc thẩm với
13
nghĩa là một giai đoạn, một chế định của TTHS hoặc một thủ tục xét xử,
tức là mới chỉ xem xét ở một góc độ nào đó của phúc thẩm (theo nghĩa hẹp
của khái niệm này). Vì vậy, để có khái niệm đầy đủ về phúc thẩm hình sự,
cần phải làm sáng tỏ các nội dung (yếu tố) cấu thành khái niệm "phúc
thẩm".
1- Giai đoạn phúc thẩm: Quá trình giải quyết các vụ án hình sự (quá
trình TTHS) được phân thành các giai đoạn có tính độc lập tương đối kế
tiếp và liên quan chặt chẽ với nhau. Giai đoạn tố tụng trước là tiền đề cho
giai đoạn tố tụng sau. Ví dụ, để có thể đưa một vụ án ra xét xử thì phải có
quyết định truy tố của VKS đối với các bị cáo trong vụ án đó và muốn truy
tố thì phải có kết luận của cơ quan điều tra về vụ án. Ngoài các đặc điểm
chung, mỗi giai đoạn tố tụng có một số dấu hiệu đặc trưng của riêng mình.
So với các giai đoạn tố tụng khác, giai đoạn phúc thẩm có một số đặc điểm
đặc trưng sau đây:
- Nhiệm vụ trực tiếp của phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và có
căn cứ của các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL đồng thời xem
xét lại vụ án về nội dung;
- Giai đoạn phúc thẩm có phạm vi xác định các chủ thể tiến hành và
tham gia tố tụng đặc trưng bao gồm: TA cấp phúc thẩm, VKS cấp phúc
thẩm; những người có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; những
người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố
tụng khác mà TA cấp phúc thẩm thấy cần thiết triệu tập tham gia phiên tòa.
Ngoài ra, ở một mức độ nhất định, chủ thể tham gia ở giai đoạn tố tụng này
thẩm được tuyên và kết thúc khi bản án, quyết định sơ thẩm có HLPL hoặc
được thay thế bằng bản án, quyết định phúc thẩm.
Có ý kiến cho rằng, phúc thẩm không phải là một giai đoạn độc lập
của quá trình TTHS mà phụ thuộc vào việc có hay không có kháng cáo,
15
kháng nghị đối với bản án (quyết định) sơ thẩm trong thời hạn luật định.
Bởi vì, sau khi xét xử sơ thẩm, không phải tất cả các vụ án hình sự, mà chỉ
có những vụ án mà bản án có kháng cáo, kháng nghị mới được đưa ra xét
xử phúc thẩm [102, tr. 9]. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, ý kiến này đã sai
lầm khi đồng nhất "giai đoạn phúc thẩm" với "thủ tục xét xử phúc thẩm".
Đối với một vụ án cụ thể, thủ tục xét xử phúc thẩm không phải là bắt buộc.
Thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị đối
với bản án (quyết định) sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trong trường
hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì mặc dù không
phải tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án đó, nhưng đối với vụ án đó giai đoạn
phúc thẩm vẫn tồn tại và được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm được
tuyên và kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và bản án có
HLPL.
Giai đoạn phúc thẩm có thể dài, ngắn khác nhau tùy thuộc vào việc
kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể và quá trình giải quyết đối với từng
vụ án cụ thể. Ví dụ, đối với vụ án được xét xử trong trường hợp có mặt đầy
đủ những người có quyền kháng cáo tại phiên tòa sơ thẩm, thì giai đoạn
phúc thẩm sẽ kết thúc, nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
theo quy định (30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm) không có ai kháng
cáo, kháng nghị. Đối với trường hợp vụ án tuy có kháng cáo hoặc kháng
nghị, nhưng sau đó người đã kháng cáo hoặc VKS kháng nghị rút toàn bộ
kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa, thì giai đoạn phúc thẩm sẽ
kết thúc ở thời điểm TA cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử
phúc thẩm vụ án. Còn đối với các vụ án khác thì giai đoạn phúc thẩm kết
thúc sau khi tuyên án phúc thẩm.
sơ thẩm về vụ án đó bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp
luật. Vì vậy, không phải tất cả các vụ án hình sự sau khi xét xử sơ thẩm đều
17
được xem xét lại theo thủ tục này. Thủ tục phúc thẩm sẽ kết thúc sau khi
TA cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định về vụ án đó.
Như vậy, thời điểm bắt đầu của giai đoạn phúc thẩm và thời điểm bắt
đầu của thủ tục xét xử phúc thẩm là khác nhau. Thời điểm bắt đầu của giai
đoạn phúc thẩm là cố định, không thay đổi và sớm hơn: ngay sau khi tuyên
bản án (quyết định) sơ thẩm. Còn thời điểm bắt đầu thủ tục phúc thẩm phụ
thuộc vào ý chí của các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy
định của pháp luật và được xác định từ thời điểm TA nhận được kháng cáo,
kháng nghị. Còn thời điểm kết thúc giai đoạn phúc thẩm và thời điểm kết
thúc thủ tục phúc thẩm chỉ trùng nhau trong trường hợp vụ án có kháng
cáo, kháng nghị: ngay sau khi TA cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định
phúc thẩm. Đối với vụ án không có kháng cáo, kháng nghị, thủ tục phúc
thẩm không phát sinh, vì vậy, không thể có thời điểm bắt đầu và kết thúc
thủ tục này.
Những nội dung nêu trên về phúc thẩm mới chỉ khái quát được các
yếu tố (nội dung) cơ bản cấu thành khái niệm phúc thẩm. Để làm sáng tỏ
bản chất pháp lý của phúc thẩm trên cơ sở đó đưa ra một khái niệm đầy đủ,
chính xác về phúc thẩm trong TTHS, cần làm sáng tỏ các vấn đề khác của
phúc thẩm như tính chất của phúc thẩm, thẩm quyền của TA cấp phúc thẩm
và thủ tục xét xử phúc thẩm.
1.1.2. Tính chất của phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Tính chất của phúc thẩm là vấn đề quan trọng và quyết định bản chất
của phúc thẩm trong TTHS và các nội dung khác như: phạm vi xét xử phúc
thẩm, quyền hạn và thủ tục xét xử phúc thẩm của chế định này. Đây cũng là
vấn đề được các nhà khoa học cũng như cán bộ thực tiễn chú ý và tranh cãi
khá gay gắt, kéo dài những năm gần đây với những quan điểm rất khác
nhau. Có thể chia các quan điểm này thành hai nhóm chính sau đây:
đoán vô tội; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; ) của TTHS gắn
liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng dân chủ và tiến bộ trong
lịch sử xã hội loài người. Để bảo đảm dân chủ và công bằng, kịp thời bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời tạo sự thống nhất
ở mức độ nhất định trong nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các thẩm
phán, giữa các TA với nhau, cần thiết phải có một trình tự (thủ tục tố tụng)
để xem xét lại các phán quyết chưa có HLPL của TA cấp dưới khi có yêu
cầu (kháng cáo) của bị cáo và đương sự hoặc yêu cầu (kháng nghị) của
VKS. Như vậy, trong TTHS nguyên tắc "hai cấp xét xử" ra đời cùng với
TA thực hiện nhiệm vụ này là TA cấp phúc thẩm.
Cùng với xu hướng dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, trong đó
có lĩnh vực TTHS, nguyên tắc "hai cấp xét xử" ngày càng được bổ sung,
hoàn thiện. Ngày nay, nguyên tắc này được hầu hết các quốc gia trên thế
giới thừa nhận và trong hệ thống tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói
riêng của mỗi nước đều có các Tòa phúc thẩm hoạt động để thực hiện chức
năng xét xử lại các vụ án hình sự, mà bản án (quyết định) chưa có HLPL bị
kháng cáo hoặc kháng nghị. Tuy nhiên, nguyên tắc này được áp dụng ở
những phạm vi và mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh
của mỗi nước trong từng giai đoạn cụ thể. Do những điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể (chiến tranh, trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội chưa phát triển, ),
trong một giai đoạn nhất định ở một số nước chưa áp dụng hoặc áp dụng
hạn chế nguyên tắc "hai cấp xét xử" trong tố tụng nói chung và TTHS nói
riêng. Ví dụ, trong giai đoạn từ 1945 - 1957, ở nước ta theo Sắc lệnh số
21/SL ngày 14/2/1946 và Sắc Lệnh 156/SL ngày 17/11/1950, thì tất cả
những vụ án phản cách mạng thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS và không
áp dụng nguyên tắc "hai cấp xét xử". Đối với các vụ án này chỉ xét xử theo
một trình tự sơ thẩm đồng thời là chung thẩm. Bản án sau khi tuyên có hiệu
lực thi hành ngay, không ai có quyền kháng cáo, kháng nghị [70, tr. 28-33].
20
Còn đối với các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của hệ thống TA thường
quốc gia thông qua ngày 22/11/2001 và Hội đồng Liên bang Nga phê chuẩn
ngày 05/12/2001) [80] xác định cấp phúc thẩm là "TA giải quyết vụ án
hình sự theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định của TA cấp sơ
thẩm và TA cấp chống án chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị". Theo
pháp luật của Đan Mạch, thì TA cấp cao xét xử phúc thẩm những vụ án do
các TA cấp khu vực xét xử sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị; TATC xét xử
phúc thẩm những bản án sơ thẩm của TA cấp cao bị kháng cáo, kháng nghị
[90, tr. 71-74]. Ở CHLB Đức, TA khu vực cấp cao (TA bang) có thẩm quyền
xét xử phúc thẩm những vụ án sơ thẩm của TA khu vực có kháng cáo, kháng
nghị [90, tr. 122]. Tại Australia, TA tối cao bang có thẩm quyền xét xử phúc
thẩm các bản án, quyết định của TA cấp dưới có kháng cáo, kháng nghị;
TA tối cao liên bang có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án có kháng
cáo, kháng nghị của Tòa Thượng thẩm của các bang [90, tr. 109-115]. Tại
Nhật Bản, TA cấp trên xem xét theo trình tự phúc thẩm các bản án sơ thẩm,
nếu có kháng cáo của bị cáo hoặc kháng nghị của công tố viên [90, tr. 25-
42],
Ngoài ra, pháp luật của các nước còn gián tiếp xác định TA cấp phúc
thẩm là cấp xét xử thứ hai thông qua việc cho phép áp dụng tại phiên tòa
phúc thẩm các quy định về thủ tục tố tụng ở phiên toà sơ thẩm, nếu không
có quy định khác. Về vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập đầy đủ hơn ở mục 1.3
của luận án.
Từ phân tích trên có thể khẳng định rằng, tính chất của phúc thẩm
trong TTHS là xét xử lại các vụ án, mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có
HLPL bị kháng cáo, kháng nghị. Việc xác định tính chất của phúc thẩm
trong BLTTHS 1988 và BLTTHS sửa đổi của nước ta là "xét lại " (như
tính chất của giám đốc thẩm) là không chính xác, mâu thuẫn với nguyên tắc
22
"TA thực hiện chế độ hai cấp xét xử" quy định tại Điều 20 BLTTHS sửa
đổi. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của TS. Nguyễn Văn Hiện khi
cho rằng: "Việc đồng nhất tính chất của giám đốc thẩm và phúc thẩm là không
1. Khi TA không áp dụng đúng luật và văn bản dưới luật đối với các
sự kiện đã được công nhận trong bản án sơ thẩm hoặc có sai sót trong việc
áp dụng các đạo luật và văn bản dưới luật;
2. Khi hình phạt đã bị hủy bỏ hoặc thay đổi hoặc lệnh tổng ân xá đã
được công bố sau khi đã có bản án sơ thẩm (Điều 372).
Tuy nhiên, trong trường hợp nếu đơn kháng cáo này đã gửi đến TA
cấp cao, thì TA tối cao sẽ không xem xét (Điều 373).
1.1.3.2. Đối tượng của xét xử phúc thẩm
Sau khi xét xử sơ thẩm trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị, nếu
bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị, thì vụ án hình sự được xem xét
lại theo thủ tục phúc thẩm ở TA cấp cao hơn. Tuy nhiên, về đối tượng của
xét xử phúc thẩm trong khoa học TTHS còn có nhận thức không thống nhất
tập trung ở hai loại quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, đối tượng của xét xử phúc thẩm là
những bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng
nghị [73, tr. 262], [74, tr. 287], [104, tr. 408]. Quan điểm này dựa trên cơ
sở quy định của BLTTHS nước ta (Điều 204) và BLTTHS của một số nước
khác (Australia, Nhật Bản, ). Quan điểm thứ hai cho rằng, đối tượng của
xét xử phúc thẩm là những vụ án mà bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có
HLPL bị kháng cáo, kháng nghị.
24
Chúng tôi cho rằng, quan điểm thứ hai về đối tượng của xét xử phúc
thẩm chính xác và có căn cứ hơn. Theo quy định các điều 19, 24, 28 và 30
Luật tổ chức TAND năm 1993; các điều 20, 24, Điều 30 Luật tổ chức TAND
năm 2002; Điều 18 và Điều 22 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002, thì đối
tượng của phúc thẩm được xác định là những vụ án mà bản án (quyết định)
chưa có HLPL của TA cấp dưới bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Pháp luật của
một số nước: Điều 5 BLTTHS (2001) CHLB Nga [80], CHLB Đức [90, tr.
122] cũng xác định đối tượng của xét xử phúc thẩm trong TTHS là những
vụ