THỦ TỤC XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NGỌC KIỆN

THỦ TỤC XÉT HỎI VÀ TRANH LUẬN
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 62 38 01 04

HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS. Hoàng Thị Minh Sơn

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC


Công trình đƣợc hoàn thành tại
Trƣờng Đại học luật TP. Hồ Chí Minh

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS, TS. Hoàng Thị Minh Sơn

Phản biện 1:……………………………………………….
Phản biện 2:……………………………………………….
Phản biện 3:……………………………………………….

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Trường họp tại
phòng…....Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, số 2 Nguyễn Tất Thành, Quận 4,
TP.HCM vào hồi……giờ……phút, ngày……tháng…….năm 2016.

Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, số 2 Nguyễn


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ở nước ta, trước yêu cầu khách quan của nhu cầu đổi mới kinh tế xã hội- giai đoạn đầu Nhà nước tập
trung hoàn thiện pháp luật về kinh tế (đổi mới pháp luật nội dung), về sau chú trọng đến đổi mới thủ tục tố tụng
(pháp luật hình thức) để nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phù hợp với các chuẩn mực chung
của quốc tế. Trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay, nhà nước mong muốn đạt được mục tiêu là hoạt động xét
xử được diễn ra theo hướng tranh tụng, công bằng, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong tố
tụng hình sự. Vì lẽ đó, nhu cầu hoàn thiện pháp luật tố tụng và đổi mới phiên tòa hình sự, hoàn thiện thủ tục xét
hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trở nên cấp thiết cao.
Việc lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu với đề tài Luận án tiến sỹ luật học: “Thủ tục xét hỏi và tranh luận tại
phiên tòa sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” dựa trên:
Một là, sự cần thiết phải làm rõ lý luận khoa học luật tố tụng hình sự về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm: Trong giai đoạn cải cách tư pháp đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta, đặt ra cho các nhà
khoa học pháp lý trách nhiệm giải quyết thấu đáo về mặt lý luận việc đổi mới phiên tòa hình sự gắn liền với đổi
mới thủ tục xét hỏi và tranh luận. Vì thủ tục xét hỏi, tranh luận có vị trí trung tâm trong quá trình tranh tụng tại
phiên tòa hình sự sơ thẩm; ở đó còn là cơ sở để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của công dân và xã hội.
Hai là, sự cần thiết phải hoàn thiện thủ tục xét hỏi, tranh luận và nâng cao chất lượng xét hỏi và tranh
luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm: Pháp luật tố tụng hình sự nước ta qua hai lần pháp điển hoá (ra đời Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1988 và năm 2003), ở đó nhà lập pháp đã thiết lập thành công một hệ thống thủ tục tố tụng
hình sự, là công cụ sắc bén để phòng, chống tội phạm và tăng cường pháp chế. Tuy nhiên mô hình tố tụng hình
sự nước ta chưa tiếp thu nhiều các hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng, nhiều quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 đã trở nên bất cập, trong đó quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận chưa đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn tranh tụng.
Trên thực tế, trong những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực về mọi mặt trong hoạt động tư pháp
hình sự, tuy nhiên chất lượng, hiệu quả xét xử vẫn chưa cao; việc tổ chức phiên tòa hình sự và hoạt động tranh
tụng tại phiên tòa còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới trong xã hội. Về tổ chức phiên toà theo
tinh thần cải cách tư pháp và vấn đề văn hoá pháp lý cũng có tính thời sự được dư luận quan tâm; thực trạng án

luận tại PTHSST trong TTHS Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Luận án chủ yếu phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về thủ tục
xét hỏi, tranh luận tại PTHSST, mà trọng tâm là theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; đồng thời
so sánh, đánh giá những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cùng vấn đề này; bên cạnh đó Luận án
còn tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST trong nền lập pháp
TTHS nước ta từ giai đoạn năm 1945, cũng như nghiên cứu các quy định của pháp luật TTHS một số nước trên
thế giới về vấn đề này.
Luận án nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật TTHS về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại
PTHSST ở Việt Nam từ năm 2005 đến 2015.
Về không gian: Để bảo đảm tính khái quát cao, Luận án không nghiên cứu bao hàm các khái niệm pháp
lý xung quanh thủ tục TTHS và không giàn trải ở các yếu tố liên quan đến tranh tụng khác, mà chỉ biện luận các
cơ sở và lý luận cho việc xây dựng khái niệm khoa học về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST và phân tích
đặc điểm, ý nghĩa của xét hỏi và tranh luận. Luận án nghiên cứu có giới hạn các yếu tố và cơ sở xác định thủ tục
xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Luận án không nghiên cứu hết các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự (sau đây viết tắt:
PTHS) mà chỉ chuyên sâu ở các quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên,
để bảo đảm tính hệ thống và hiệu quả của mục tiêu nghiên cứu, thì phân tích, lý giải một số quy định chứa đựng
các yếu tố tranh tụng là không thể thiếu được. Bên cạnh đó là sự lựa chọn nghiên cứu đối với pháp luật của các
nước Hoa Kỳ, Pháp và Nhật Bản về quy định thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Luận án chỉ đánh giá thực tiễn thực hiện thủ tục xét hỏi, tranh luận ở cấp xét xử sơ thẩm, cùng với một số
vụ án hình sự đã được xét xử.


3
4. Những đóng góp mới của Luận án
Cho đến nay ở Việt Nam chưa có một luận án tiến sĩ nào nghiên cứu về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa sơ thẩm trong TTHS Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cụ thể của Luận án với những đóng góp mới như
sau:
Thứ nhất, Luận án làm rõ, bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại

Chương 1: Lý luận về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Chương 2: Thực trạng xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.


4
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Các chuyên khảo: cuốn “Criminal Procedure A Worldwide Study”1 (Tố tụng hình sự- Một nghiên cứu
trên toàn thế giới) của tác giả Craig M. Bradley; cuốn Criminal evidence and procedure: The Essential
Framework”2 (Khung thiết yếu về chứng cứ và thủ tục TTHS) của tác giả Stephen Seabrooke và John Sprack;
cuốn “General Reports to the 10th international congress of comparative law” 3 (Báo cáo tổng quan của Đại hội
quốc tế lần thứ 10 về pháp luật so sánh) của các tác giả: Lamm, Vanda, Péteri, Zoltán; cuốn “Judges, legislator
and professors: Chapters in European Legal History”4 (Thẩm phán, các nhà lập pháp và các giáo đồ: Những
chương trong lịch sử pháp lý Châu Âu) của tác giả R.C. Van Caenegem; cuốn “An Introduction to the Legal
System of the United States”5 (Giới thiệu nền pháp lý Hoa Kỳ) của tác giả E. Allan Farnswarth; cuốn “Criminal
Procedure: Prosecuting crime”6 (Thủ tục tố tụng: Truy tố hình sự) của tác giả Joshua Dressler và George C.
Thomas III; cuốn “Japanese Law”7 (Pháp luật Nhật Bản) của tác giả Hiroshi Oda; cuốn “Procédure pénale”8
(Tiến trình tố tụng hình sự) của tác giả Corinne Renault-Brahinsky; cuốn “допрос в советском уголовном
судопроизводстве”9 (Thủ tục thẩm vấn trong TTHS Liên Xô), của tác giả Н.и. Порубов; cuốn “Problems in
Criminal Procedure”10 (Những vấn đề trong TTHS) của các tác giả: Joseph D. Grano và Leslie W.Abramson;
cuốn “Principles of Criminal Procedure”11 (Những vấn đề chủ yếu của thủ tục TTHS) của các tác giả: Russell
L. Weaver, Leslie W.Abramson, John M. Burkoff và Catherine Hancock; cuốn “International Criminal
Procedure- A Clash of Legal Cultures”12 (Thủ tục TTHS quốc tế- Sự xung đột văn hóa pháp lý)13 của tác giả
Christine Schuon.
Qua việc nghiên cứu các công trình nước ngoài, tác giả Luận án đánh giá như sau:

1

Craig M. Bradley (2007), Criminal Procedure A Worldwide Study, Carolina Academic Press, Durham- North Carolina.

13
Về Tòa án hình sự quốc tế, tham khảo thêm tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa (2014), Luật hình sự quốc tế với việc đảm
bảo quyền con người, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
2


5
Một là, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài phân tích diện rộng các thủ tục xét xử nói chung, chứng
minh sự bình đẳng của các bên tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm14. Ở đó hoạt động xét hỏi, tranh luận
không được phân chia thành hai phần riêng biệt, nhưng lại thể hiện đậm nét quan hệ đối tụng. Vì thế mà phiên
tòa diễn ra dân chủ và sinh động. Ví dụ cụ thể như trong thủ tục xét hỏi, tranh luận với thủ tục “chất vấn chéo”
trở thành điển hình trong các phiên tòa theo mô hình TTHS tranh tụng. Các công trình ở nước ngoài phân tích
sâu về vai trò hướng dẫn luật và điều khiển phiên tòa của thẩm phán chủ tọa, về cơ chế bồi thẩm đoàn tham gia
xét xử và hoạt động buộc tội của công tố viên. Đồng thời thủ tục xét xử rất coi trọng vai trò của người làm
chứng- được hầu hết các tác giả ghi nhận.
Hai là, nổi bật là các quyền của bị cáo tại PTHSST được các học giả nước ngoài quan tâm bàn luận
nhiều. Trong đó bình luận có tính thuyết phục về thực tiễn áp dụng quyền thúc đẩy thông tin của người bị buộc
tội. Họ phải được thông báo lý do bị buộc tội và tội danh bị cáo buộc. Họ còn được thông báo về quyền được im
lặng, quyền được tư vấn pháp luật trước khi bước vào phiên tranh tụng, nếu không thì phiên xét xử sơ thẩm sẽ bị
coi là vi phạm nghiêm trọng, dẫn đến có thể bị cấp phúc thẩm hủy án. Điều này có ý nghĩa tham khảo vì chính
trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) mà Việt Nam gia nhập năm 1982 đã quy định
rằng để thực hiện quyền bào chữa, người bị buộc tội phải được thông báo về lý do buộc tội (Điều 14/3/a). Ngoài
ra, cần lưu ý đến thủ tục nhận tội của bị cáo quyết định đến phương thức xét xử của Tòa án. Nghĩa là thủ tục xét
xử coi trọng sự tự nguyện của bị cáo, có thể là do họ chấp nhận cáo buộc thì Tòa sẽ tuyên án hoặc họ thương
lượng nhận tội để đổi lấy lợi ích từ phía cơ quan công tố hoặc của bị hại, ví dụ như công tố viên sẽ rút lại cáo
buộc. Trong quá trình xét xử, bị cáo còn được hưởng quyền không phải tự buộc tội mình, theo đó cho phép bị
cáo không cần phải chứng minh là mình vô tội, mà trách nhiệm đó thuộc về công tố viên. Nếu công tố viên
không chứng minh được thì bị cáo sẽ đỗ lỗi và sẽ được tuyên vô tội.v.v. Phân tích trên cho thấy tại PTHSST
nguyên tắc tranh tụng được đề cao và thực thi triệt để; từ phía nhà nước rất chú trọng thiết lập các quyền cho
người bị buộc tội để họ tự bảo vệ mình, chứ không chỉ là cân bằng quyền lực cho cán bộ tư pháp.

Lưu hoàn thành năm 2005; Đề tài “Cải cách hệ thống tư pháp hình sự nhằm bảo vệ các quyền con người”, Đề
tài nghiên cứu nhóm B của Đại học Quốc gia Hà Nội trong Dự án của Đan Mạch, do tác giả Lê Văn Cảm (chủ
nhiệm) hoàn thành năm 2011; và Đề tài thuộc Dự án nêu trên: "Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ
quyền con người" do tác giả Nguyễn Ngọc Chí làm chủ nhiệm.
- Về tạp chí khoa học chuyên ngành luật:
+ Bài báo khoa học quan trọng đầu tiên phải kể đến là, “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Hoàng Thị Minh Sơn, đăng
trên Tạp chí Luật học số 10 năm 2009.
+ Bài báo khoa học quan trọng thứ hai: “Một số vấn đề hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
về thủ tục xét xử sơ thẩm” của tác giả Trần Văn Độ, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 08 năm 2012.
+ Liệt kê đến bài “Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của tác giả Lê Thị Thúy Nga, đăng
trên Tạp chí Luật học số 07 năm 2008.
Ngoài ra còn có nhiều bài báo khoa học thể hiện nhiều vấn đề khác nhau trong khoa học tố tụng hình sự,
trong đó có đề cập đến thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST.
- Về luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ:
Về luận án tiến sĩ:
Ở phạm vi trong nước, chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST.
Chỉ có thể liệt kê đến Luận án của tác giả Lê Tiến Châu “Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam”
hoàn thành năm 2008 tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam; Luận án của tác giả Võ Thị Kim Oanh, “Xét xử sơ
thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” hoàn thành năm 2008 tại Viện Nhà nước và Pháp luật- Viện Hàn Lâm
khoa học xã hội Việt Nam.
Về luận văn thạc sĩ:
+ Luận văn của tác giả Đỗ Văn Thinh, “Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” hoàn thành năm
2006 tại Trường đại học luật TP. Hồ Chí Minh; Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Toản, “Tranh luận tại phiên
tòa hình sự sơ thẩm” hoàn thành năm 2011 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận văn của tác giả Lê Đức Thọ
“Xét hỏi, tranh luận và nâng cao tính tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”, hoàn thành năm 2008 tại
Trường đại học luật TP. Hồ Chí Minh; Luận văn của tác giả Phạm Đình Thanh, “Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa
hình sự” hoàn thành năm 2011 tại Trường đại học luật Hà Nội; Luận văn của tác giả Đặng Thị Giao, “Thủ tục
tranh luận tại phiên tòa hình sự”, hoàn thành năm 2011 tại Trường đại học luật Hà Nội; Luận văn của tác giả


+ Đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST là gì, nó có vị trí, vai trò
như thế nào trong hoạt động tranh tụng và giải quyết vụ án hình sự?
+ Chứng tỏ như thế nào về mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST là quan hệ về nội
dung hoạt động tố tụng, còn quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với nhau và với cả người tham gia tố
tụng là quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ do luật định (làm rõ các dạng quan hệ ở khía cạnh này)?
+ Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST bị chi phối bởi mô hình TTHS Việt Nam và các nguyên tắc cơ
bản trong TTHS như thế nào?
+ Nội dung quy định về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST trong TTHS Việt Nam? Thực tiễn
thực hiện có những hạn chế, vướng mắc gì, nguyên nhân của nó?
+ Biện pháp nâng cao chất lượng xét hỏi và tranh luận tại PTHSST ở Việt Nam hiện nay là gì?
- Lý thuyết nghiên cứu của Luận án là:


8
+ Quan điểm khoa học về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
+ Nội dung, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Việc xác định và làm rõ lý thuyết nghiên cứu về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST làm tiền đề cho
việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của Luận án.
- Giả thuyết nghiên cứu
Với nhận thức, giả thuyết nghiên cứu là những “luận điểm cần phải chứng minh trong luận án”; là những
“nhận định sơ bộ, là kết luận giả định của nghiên cứu; là câu trả lời sơ bộ cần phải chứng minh..."15, chúng tôi
đưa ra giả thuyết nghiên cứu của Luận án dựa trên sự tìm hiểu quy định của pháp luật TTHS về thủ tục xét hỏi,
tranh luận tại PTHSST và thực tiễn áp dụng, như sau:
Một là, lý luận về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST trong khoa học pháp lý Việt Nam còn chưa
được chứng minh một cách có tính thuyết phục; thực trạng quy định của pháp luật TTHS về xét hỏi, tranh luận
thể hiện bất cập và thực tiễn thực hiện xảy ra vướng mắc, được đặt trong bối cảnh Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 mới có hiệu lực, nếu có giải pháp đồng bộ sẽ bảo đảm hiệu quả, chất lượng tranh tụng.
Hai là, đổi mới thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại PTHSST trong nền pháp luật TTHS Việt Nam
không phù hợp với thực tiễn có thể dẫn đến hoạt động TTHS kém hiệu quả, ảnh hưởng đến chất lượng bản án sơ
thẩm. Thực tiễn ở đây bao gồm cả thực tiễn tranh tụng và tình hình xã hội. Về thực tiễn tranh tụng có thể hiểu

chứng minh cơ sở xác định thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST; làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi,
tranh luận và làm rõ mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia xét hỏi, tranh luận tại PTHSST.
1.1. Khái niệm thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Trong mục này, trước khi phân tích, xây dựng khái niệm thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST, tác giả
Luận án tiếp cận làm rõ nội hàm “thủ tục”, “thủ tục tố tụng hình sự”, tiếp cận nghiên cứu, bình luận các khái
niệm thủ tục xét hỏi, thủ tục tranh luận trong khoa học pháp lý Việt Nam để làm rõ thủ tục xét hỏi, tranh luận là
gì, với điểm phù hợp, hạn chế như thế nào, có đặc điểm gì .v.v.
1.1.1. Khái niệm thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Qua việc phân tích, bình luận, tác giả đề xuất xây dựng khái niệm khoa học về thủ tục xét hỏi tại
PTHSST như sau: Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là một thủ tục tố tụng được thực hiện bởi Hội
đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác theo trình tự quy định của pháp luật,
thông qua đặt câu hỏi và thực hiện các hoạt động khác nhằm kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách công khai,
bình đẳng để làm rõ các tình tiết, sự thật khách quan của vụ án hình sự.
1.1.2. Khái niệm thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Qua việc đánh giá, phân tích, tác giả đề xuất xây dựng khái niệm khoa học về thủ tục tranh luận tại
PTHSST như sau: Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là một thủ tục tố tụng bắt buộc, dưới sự điều
khiển của chủ tọa phiên tòa, các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa, bị cáo và người tham gia tố tụng
khác đưa ra quan điểm, lập luận có căn cứ của mình về các chứng cứ, tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại phần
xét hỏi và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
1.2. Mục đích và ý nghĩa của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
1.2.1. Mục đích của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Mục đích chung của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ
án, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho tất cả các chủ thể khi tham gia TTHS; nó còn góp phần bảo vệ
quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự … Mục đích của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST ở khía
cạnh không những là tạo điều kiện cho người bị buộc tội chứng minh là mình vô tội hoặc để làm giảm nhẹ tội,
mà quan trọng hơn là lúc các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trách nhiệm chứng minh sự vô tội cho họ. Cơ
quan tiến hành tố tụng phải triệt để tôn trọng quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, phải luôn nhận
thức rằng người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có
bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật16.
Về mục đích cụ thể của thủ tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST biểu hiện:

“Các vị không thể nào buộc được chúng tôi tin có sự phạm tội ở nơi không có sự phạm tội, - các vị chỉ có thể
biến bản thân sự phạm tội thành một hành vi pháp lý mà thôi. Các vị đã xóa nhòa ranh giới, nhưng các vị sẽ
nhầm nếu như các vị nghĩ rằng điều đó chỉ đem lại lợi ích cho các vị. Nhân dân nhìn thấy sự trừng phạt, nhưng
không nhìn thấy sự phạm tội, và chính vì nhân dân nhìn thấy sự trừng phạt ở nơi không có sự phạm tội, cho nên
nhân dân cũng không còn nhìn thấy sự phạm tội ở nơi có sự trừng phạt nữa”17. Về vấn đề này, tư tưởng vĩ đại
của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rất coi trọng về công tác xét xử phải đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh
theo pháp luật. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1948, Người viết: “Các bạn là những người phụ
trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công vô
tư”, cho nhân dân noi theo”18. Người rất không hài lòng trước việc pháp luật của ta không được thực hiện
nghiêm minh, xét xử thiếu công bằng, “thưởng có khi quá rộng mà phạt thì không nghiêm”, lẫn lộn giữa công và
tội. Theo Người thì có công thì được thưởng, có lỗi thì phải phạt19 …
- Trong hoạt động xét xử tại PTHSST, hoạt động xét hỏi và tranh luận có vị trí trung tâm, cũng là quan
trọng nhất để xác định sự thật khách quan của vụ án. Ở đó việc hỏi và trả lời được diễn ra công khai, việc đưa ra

17

Nhà Xuất bản Sự Thật (1978), C.Mác- PH. Ăng Ghen toàn tập (Tập 1), Hà Nội, tr. 167.
Nhà Xuất bản Chính trị Quốc Gia (1995), Hồ Chí Minh Toàn tập, Hà Nội, tr. 381-382.
19
Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
(2003), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 277.
18


11
lý lẽ, lập luận, đối đáp dân chủ, bình đẳng tại phiên tòa tạo điều kiện cho người tham gia tố tụng bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình …
- Qua thực tiễn xét hỏi, đặc biệt là tranh luận là lúc cơ quan tiến hành tố tụng có thể phát hiện căn cứ
pháp luật TTHS và pháp luật hình sự còn bất cập, hạn chế, để có phương hướng, đề xuất cơ quan có thẩm quyền
hoàn thiện về mặt quy phạm. Qua hoạt động xét hỏi, tranh luận đã không ít trường hợp Tòa án phát hiện được sơ

Thứ hai, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử với người bào chữa biểu hiện ở các mặt như
sau: Một là, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với người bào chữa vừa là quan hệ phối hợp vừa là quan hệ đối
tụng: Hai là, mối quan hệ giữa Hội đồng xét xử với người bào chữa là quan hệ chấp hành sự điều hành.


12
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG XÉT HỎI, TRANH LUẬN
TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM
2.1. Thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại
phiên toà hình sự sơ thẩm
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trong mục này, những nội dung cơ bản được làm rõ như sau:
Luận án nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST trong pháp
luật TTHS Việt Nam thông qua các văn bản: Hiến pháp năm 1946; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 của Chủ
tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa; Thông tư số 22- HCTP ngày 18/12/1957 của Bộ tư pháp trả lời một số
điểm về quyền bào chữa; Thông tư số 2421- TC ngày 29/12/1961 của TANDTC hướng dẫn việc thực hiện chế
độ Hội thẩm nhân dân; Thông tư số 16-TATC ngày 27/9/1974 quy định về trình tự tố tụng tại phiên tòa; tìm
hiểu quy định về thủ tục xét hỏi, tranh luận ở miền Nam nước ta trước năm 1975 và theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1988 và năm 2003.
Qua nghiên cứu, cho thấy: Ở giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự
năm 1988 cho thấy thủ tục xét hỏi tại PTHSST được coi trọng. Việc xét hỏi tại PTHSST đặt nặng vào vai trò
của chủ tọa phiên tòa. Việc xét hỏi rất kỹ càng và là cơ sở để Hội đồng xét xử đưa ra kết luận bị cáo phạm tội
hay không. Trong khi đó thủ tục tranh luận được quy định rất sơ sài, quyền bào chữa quy định rất hạn chế và bị
cáo và người tham gia tố tụng khác có rất ít quyền. Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời quy định thủ tục xét
hỏi, tranh luận thành hai chương riêng biệt, trong đó ghi nhận cụ thể hơn về trình tự xét hỏi, phương pháp xét
hỏi và thủ tục tranh luận. Tuy nhiên quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập được Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 (sau đây viết tắt: BLTTHS) sửa đổi, bổ sung nhưng nó đã không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
tranh tụng.

và đưa ra ý kiến có nhận tội hay không trước khi bước vào thủ tục xét hỏi. Mặt khác nghiên cứu đã chỉ rõ quyền
xét hỏi trực tiếp bị bó hẹp; về trình tự xét hỏi thể hiện chưa hợp lý; đồng thời nghiên cứu đã chỉ rõ nội dung, ưu
điểm và hạn chế của các phương pháp xét hỏi .v.v. Những bất cập này đã hạn chế quyền hạn chứng minh của
người tham gia tố tụng.
Về thủ tục tranh luận: quy định Kiểm sát viên đề nghị kết tội theo toàn bộ hay một phần cáo trạng là
chưa hợp lý, mà phải dựa vào diễn biến phiên tòa để đưa ra kết luận về tội danh, khung hình phạt mới chính xác.
Quy định về tranh luận cũng chưa dự liệu hết được trường hợp một bị cáo có nhiều người bào chữa, thì thủ tục
trình bày ý kiến bào chữa như thế nào; về thủ tục đối đáp đã không ràng buộc được Kiểm sát viên phải đáp lại
đầy đủ ý kiến của người bào chữa và bị cáo; về thủ tục rút quyết định truy tố, pháp luật TTHS vẫn tạo khả năng
cho Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án sau khi Kiểm sát viên rút quyết định truy tố là chưa phù hợp.v.v.
Ngoài ra thực trạng một số quy định có liên quan đến hoạt động xét hỏi, tranh luận, có ý nghĩa tranh tụng cũng
đã được làm rõ, như quyền triệu tập người làm chứng của Kiểm sát viên, người bào chữa và người tham gia tố
tụng khác ra trước phiên tòa .v.v.
2.1.3. So sánh, đánh giá những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục xét hỏi, tranh
luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Mục này đã so sánh, đánh giá những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thủ
tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Quá đó cho thấy bộ luật mới quy định về vấn đề này vẫn
chưa triệt để, cần phải tiếp tục hoàn thiện.
2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự của một số nƣớc trên thế giới về thủ tục xét hỏi, tranh luận
tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Nghiên cứu quy định về thủ tục xét hỏi và tranh luận ở một số nước trên thế giới, cho thấy thủ tục xét
hỏi, tranh luận tại PTHSST ở Hoa Kỳ, Pháp và Nhật Bản quy định có tính tranh tụng cao, được thực hiện rất
hữu hiệu, gắn với việc bảo đảm các quyền của bị cáo; vai trò của người làm chứng và người bị hại tại phiên tòa
rất được coi trọng .v.v. Tuy nhiên các thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST ở các nước nêu trên với hạn chế là
phiên tòa phải trải qua nhiều thủ tục rườm rà, kéo dài, hao tốn sức lực, chi phí và sự bị động thái quá của bị can,
bị cáo gây khó khăn cho việc chứng minh của nhà nước.


14
2.3. Thực tiễn thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục xét hỏi và tranh luận

(Kết hợp với hoạt động khảo sát thông qua việc 300 phiếu phỏng vấn đối với Kiểm sát viên, Thẩm phán,
Thư ký Tòa án và luật sư ở các địa phương khác nhau trên quy mô toàn quốc để đánh giá).


15
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN THỦ TỤC XÉT HỎI
VÀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM
3.1. Nhu cầu của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên
tòa hình sự sơ thẩm
Thứ nhất, giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS và ở phương diện thực tiễn về thủ tục xét hỏi, tranh luận
tại PTHSST phải đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới và phải xuất phát từ thực tiễn Việt
Nam, tính đến điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, để xác định các mối quan hệ xã hội nào cần phải điều chỉnh
bằng quan hệ pháp luật tố tụng hình sự;
Thứ hai, giải pháp phải trên cơ sở tổng kết và đánh giá thực tiễn thi hành BLTTHS;
Thứ ba, hoàn thiện thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST phải theo hướng tăng tính tranh tụng, tiếp thu
những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng;
Thứ tư, hoàn thiện pháp luật TTHS về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST phải đảm bảo tính đồng bộ,
thống nhất của hệ thống pháp luật về tư pháp hình sự Việt Nam.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật
Ngoài những bất cập, hạn chế của BLTTHS về thủ tục xét hỏi, tranh luận tại PTHSST đã được khắc
phục trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nhưng qua nghiên cứu, so sánh những điểm mới của
nó và trên cơ sở thực tiễn, tác giả Luận án đề xuất tiếp tục hoàn thiện pháp luật TTHS về vấn đề nghiên cứu như
sau:
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về các quy định xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 306 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục trình bày cáo trạng:
Một là, đổi tên gọi điều luật là “Công bố bản cáo trạng” thành “Trình bày lời buộc tội và ý kiến của bị cáo”; hai
là, về nội dung điều luật: loại bỏ thủ tục đọc cáo trạng của Kiểm sát viên tại PTHSST nhằm khắc phục hạn chế,
vướng mắc của nó, thay vào đó là bổ sung thủ tục trình bày lời buộc tội của Kiểm sát viên và giải thích, bổ sung
luận điểm truy tố nếu cần thiết; bổ sung thủ tục bị hại trình bày ý kiến buộc tội trong trường hợp khởi tố vụ án

Trong trường hợp này quy định chủ tọa phiên tòa được cắt câu hỏi của bị cáo và người tham gia tố tụng khác
không liên quan đến vụ án hoặc vòng vo. Quy định này tăng tính tranh tụng cao, bảo đảm quyền chất vấn trực
tiếp, quyền bào chữa cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp khác của bị cáo.
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 311 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Hỏi người làm chứng) ở các
nội dung: Một là, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều luật này bằng việc xác lập trường hợp người làm chứng là
người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất (mà không tự mình khai báo được) hoặc người làm
chứng có nhược điểm về tâm thần có người đại diện của họ giúp họ trình bày lời khai. Quy định này để phù hợp
với thực tiễn tranh tụng tại PTHSST có người làm chứng chưa thành niên bị hạn chế về thể chất hoặc tâm thần,
người có nhược điểm về thể chất như bị câm, điếc .v.v, cần phải có người đại diện của họ giúp đỡ trong việc đưa
ra lời khai; Hai là, sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều luật này theo hướng không bắt buộc trong mọi trường hợp
người làm chứng phải ở lại phiên tòa khi họ đã trình bày xong để tạo ra sự linh hoạt, thuận lợi cho người làm
chứng.
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 308 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Công bố lời khai trong giai
đoạn điều tra, truy tố) ở hai nội dung như sau: Một là, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều luật này theo hướng quy
định Hội đồng xét xử chỉ được công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố theo yêu cầu của Kiểm sát viên,
người bào chữa hoặc người được xét hỏi khác. Hội đồng xét xử không được công bố lời khai để chứng minh tại
phiên xét hỏi mà chỉ là người thực hiện theo yêu cầu như đã nêu là nhằm bảo đảm khách quan, bình đẳng trong
việc chứng minh tại phiên tòa, mặt khác sẽ giúp cho Hội đồng xét xử tránh được định kiến buộc tội, cũng như sự
phàn nàn của người tham gia phiên tòa. Hai là, bổ sung trường hợp bắt buộc phải công bố những lời khai trong
giai đoạn điều tra, truy tố khi bị cáo chối tội và khi cần phải đối chất tại khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015- vì trên thực tế xảy ra nhiều phiên tranh tụng bị cáo không nhận tội, hoặc không thừa nhận hành vi
nào đó xuyên suốt từ quá trình điều tra cho đến khi xét hỏi tại phiên tòa.
- Kiến nghị mở rộng đối tượng của vật chứng và vật thể được đưa ra xem xét tại phiên tòa theo quy định
tại khoản 1 Điều 312 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Xem xét vật chứng), gồm băng ghi âm, ghi hình, phim
và các dự kiện điện tử nhằm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn. Cụ thể khoản 1 Điều 312 được thiết lập như sau (bao


17
gồm đặt tên gọi mới của điều luật là “Xem xét vật chứng và vật thể liên quan đến vụ án” thay cho tên gọi cũ là
“Xem xét vật chứng”).

về triệu tập người làm chứng ra trước phiên tòa: Thứ hai, mở rộng quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa
để bảo đảm cho việc tranh tụng của chủ thể này:
3.3. Tăng cƣờng các biện pháp bảo đảm thực hiện quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục
xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Việc đề xuất các biện pháp bảo đảm thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nhằm mục
đích tăng cường tính tranh tụng tại PTHSST theo tinh thần cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Cụ thể:


18
Một là, tăng cường các biện pháp triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nói chung, thủ
tục xét hỏi và tranh luận tại PTHSST nói riêng:
- Đề xuất các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Bộ Tư pháp và Cơ quan điều tra các
cấp chịu trách nhiệm và kịp thời tập huấn, tuyên truyền thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hoạt động
tập huấn, tuyên truyền Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên
nghiệp và tương đương giao nhiệm vụ cho Sở Tư pháp phối hợp với các trường đào tạo luật và chuyên ngành
pháp lý. Tránh thực trạng Bộ luật chậm đi vào cuộc sống do chậm tuyên truyền, tập huấn.
- Đề xuất Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn
thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, tránh thực trạng Bộ luật chậm được
ban hành văn bản hướng dẫn thi hành.
.

Hai là, về cơ sở vật chất phục vụ phiên toà:
- Đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời xây dựng trụ sở Tòa án, với thiết kế phòng xử án đủ

rộng, có phòng nghị án, phòng lưu trữ vật chứng và phòng chờ xét xử (gồm có mục đích cách ly bị cáo, cách ly
người làm chứng). Đề xuất này rất quan trọng, vì nó không những triển khai thực hiện có hiệu quả Điều 257 Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015 về phòng xử án, mà còn khắc phục được thực trạng phiên tòa được tổ chức thiếu
tính trang nghiêm, chật hẹp, quá tải, thiếu cơ sở vật chất và phương tiện để thực hiện việc cách ly bị cáo, cách ly
người làm chứng, giảm chất lượng, hiệu quả tranh tụng. Tuy nhiên việc xây dựng lại trụ sở Tòa án các cấp với


Lối vào

Người phiên dịch,
người giám định, người
làm chứng

-------------------------------lối ra

Bị hại,
nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự,…

Lối ra

lối vào

Mô tả: 1) Vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX sơ thẩm có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm;
2) Không có vành móng ngựa; bị cáo có bàn, ghế đề ngồi thực hiện việc ghi chép.
3) Hội đồng xét xử ngồi trên bục cao nhất; Thư ký phiên tòa ngồi dưới một cấp, quay lưng vào HĐXX; Kiểm sát
viên và Luật sư bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo, các đương sự ngồi đối diện nhau và ở phía
dưới HĐXX; thấp hơn nữa là vị trí của những người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa 20.

Ba là, về mặt đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ và đào tạo các chức danh Thẩm phán và
Kiểm sát viên:
- Đề xuất các cơ quan tư pháp trung ương liên tịch ban hành quy tắc ứng xử tại phiên tòa đối với Hội
đồng xét xử, Kiểm sát viên và người bào chữa. Trong đó nghiêm cấm cách ứng xử, phát ngôn và có hành vi
thiếu văn minh tại phiên tòa, nếu vi phạm thì tùy mức độ phải xử lý kỷ luật của ngành và theo quy chế nghề
nghiệp.


những người am hiểu khoa học, họ là những nhà chuyên môn giỏi ở các lĩnh vực khác nhau, nếu công tác trong
ngành tư pháp sẽ phát huy được lợi thế. Ví dụ như cán bộ cơ quan thuế, thì giỏi về lĩnh vực thuế. Còn Kiểm sát
viên, Thẩm phán có thể chuyển sang làm cơ quan quản lý hành chính một thời gian để nắm được kinh nghiệm về
lĩnh vực đó, phục vụ giải quyết án được thuận lợi.
- Đề xuất đổi mới quy trình bổ nhiệm Kiểm sát viên và Thẩm phán. Theo đó các chức danh này được
đưa ra dân bầu ở từng địa bàn cấp huyện của nơi trụ sở Tòa án, theo nhiệm kỳ 5 năm. Như vậy sẽ nâng cao được
ý thức, trách nhiệm của Kiểm sát viên và Thẩm phán.
- Đề xuất Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Y tế thành lập cơ quan giám định tư pháp ở cấp huyện (gọi là Tổ
chức giám định Tư pháp cấp huyện) để kịp thời giám định trong các trường hợp thiệt hại về tính mạng, sức khỏe,
tài sản, bệnh lý tâm thần, giám định cơ học .v.v., phục vụ kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều tra,
truy tố, xét xử ở địa phương. Nó cũng sẽ giảm tải cho cơ quan giám định ở cấp tỉnh hiện nay.
Bốn là, về nhận thức của các chủ thể tham gia xét hỏi và tranh luận, cũng như Hội đồng xét xử:
Việc nhận thức đúng đắn về đường lối cải cách tư pháp và việc đổi mới PTHSST theo hướng tranh tụng
có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việc nhận thức đúng đắn đó phải xuất phát từ lợi ích chung của nhà nước và xã
hội, phải đổi mới tư duy theo hướng hoạt động TTHS là nhằm bảo đảm pháp chế, xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam và cụ thể hơn nữa nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng


21
hình sự, chứ không phải từ lợi ích cục bộ ngành và địa phương. Nếu các chủ thể là người tiến hành tố tụng
không chịu đổi mới tư duy hoặc chậm đổi mới thì hậu quả là phiên tranh tụng sẽ không đạt được yêu cầu theo
hướng tranh tụng công bằng; quyền lợi của người tham gia tố tụng không được bảo vệ kịp thời và đầy đủ. Bởi vì
chỉ có thể nhận thức đúng đắn và tích cực đổi mới tư duy thì hoạt động tố tụng sẽ khách quan, công tâm hơn,
tránh được định kiến buộc tội và thiên vị lẫn nhau trong hoạt động tranh tụng. Bên cạnh đó còn là nhận thức về
trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng- trong đó Thẩm phán và Kiểm sát viên phải
nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án hình sự, làm cho hoạt động thực tiễn tránh
khỏi sự lạm quyền, tùy tiện, tùy nghi. Trong đó hoạt động phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là không
thể thiếu, tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở các văn bản ký kết giao ước phối hợp với nhau là chưa đủ mà cần phải
định kỳ tổng kết rút kinh nghiệm về vấn đề này. Cần nhận thức đúng đắn rằng trong quan hệ phối hợp giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng không được bao biện lẫn nhau, làm trái thủ tục tố tụng, tránh sự hoài nghi của xã hội

22
KẾT LUẬN
Nghiên cứu thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm cho thấy vai trò trọng tâm, cơ bản
của nó trong quá trình tranh tụng. Luận án đạt được những giá trị cơ bản như sau:
Một là, các điểm mới trong phần nghiên cứu lý luận của Luận án, đó là:
(i) khái niệm khoa học về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm được chứng tỏ:
trước hết nó là một thủ tục tố tụng có tính bắt buộc, công khai, thể hiện sự dân chủ, bình đẳng, được thực hiện
bởi các chủ thể theo trình tự luật định. Thủ tục xét hỏi, tranh luận không thể thiếu vai trò điều khiển của chủ tọa
phiên tòa. Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm có vai trò trọng tâm trong quá trình tranh
tụng, đều có mục đích chung là nhằm làm rõ sự thật khách quan vụ án, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho
các chủ thể tham gia tố tụng hình sự .v.v. Nếu như thủ tục xét hỏi phản ánh đặc điểm mô hình tố tụng hình sự,
thì trong thủ tục tranh luận các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự được thể hiện rõ nét nhất, phản ánh sự bình
đẳng của các bên tham gia tranh tụng. Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm với mục đích cụ
thể là để làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án, làm rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các
tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án .v.v.
(ii) Luận án lần đầu làm rõ về mối quan hệ giữa thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm, mà nội dung cơ bản của nó cho thấy thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận có quan hệ tác động lẫn nhau,
biện chứng với nhau và làm tăng tính tranh luận; chúng xuất phát từ nền tảng truyền thống pháp lý của quốc gia
và phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với nhau và với cả người tham gia tố tụng. Về mối
quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng, có thể rút ra nhận định như sau: Quan hệ giữa Hội đồng xét xử với
Kiểm sát viên vừa là quan hệ phối hợp vừa là quan hệ chế ước; quan hệ giữa Hội đồng xét xử với người bào
chữa là quan hệ chấp hành sự điều hành và quan hệ giữa Kiểm sát viên với người bào chữa vừa là quan hệ phối
hợp vừa là quan hệ đối tụng. Các quan hệ này được hình thành và xuất phát từ các chức năng cơ bản của tố tụng
và nhằm đáp ứng với nhu cầu của thực tiễn xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm;
(iii) Luận án làm sáng tỏ cơ sở xác định thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, với nội
dung trọng tâm là mô hình tố tụng hình sự Việt Nam với yêu cầu cải cách tư pháp và nguyên tắc tố tụng hình sự.
Theo đó mô hình tố tụng thẩm vấn ở nước ta đang vận hành với những đặc trưng của nó chi phối sâu sắc đến
việc xây dựng và áp dụng thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Về nguyên tắc tố tụng hình
sự, cho thấy nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng và công khai, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người
bị buộc tội và nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử- đây là các nguyên tắc định hình, tác động nhiều đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status