tranh tụng tại phiên tòa theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 21

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc cải cách tư pháp, TA có vị trí trung tâm và xét xử tại
phiên tòa được xem là hoạt động quan trọng nhất. Bởi vì, thông qua phiên tòa,
các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự là buộc tội và bào chữa được thực hiện
một cách công khai, dân chủ, bình đẳng. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho
HĐXX thực hiện chức năng xét xử của mình bằng việc đưa ra những quyết định
khách quan, đúng pháp luật, hợp tình, hợp lý.
Xác định được tầm quan trọng của việc tranh tụng tại phiên tòa với việc ra
các phán quyết của TA, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh: “Việc phán quyết của
TA phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Tiếp đó, trong
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2205 một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan
tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt
động đột phá của các cơ quan tư pháp…”
Tuy nhiên, thời gian qua, việc thực hiện chủ trương này còn nhiều hạn
chế. Những quy định của BLTTHS 2003 cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết dẫn tới
bất cập và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Đó là tình trạng phân định các chức năng tố tụng không rõ ràng, chồng
chéo dẫn tới việc HĐXX lấn sân, làm thay chức năng của VKS như: HĐXX xét
hỏi là chủ yếu, đặt những câu hỏi mang tính áp đặt buộc bị cáo khai đúng với
những lời khai trước đó; Là tính thiếu chủ động của KSV tại phiên tòa khi thực
hiện chức năng buộc tội.
1
Bên cạnh đó, tranh tụng tại phiên tòa cũng bị hạn chế bởi tình trạng vi
phạm các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS như nguyên tắc bảo đảm quyền bình
đẳng trước TA, nguyên tắc về suy đoán vô tội và nguyên tắc bảo đảm quyền bào
chữa vẫn xảy ra Thể hiện qua việc một số Thẩm phán còn hạn chế thời gian
trình bày lời bào chữa của bị cáo hoặc người bào chữa; không yêu cầu KSV đáp
lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người

luật hiện hành cũng như đưa ra những giải pháp cho vấn đề này vẫn rất cần thiết.
Luận án Tiến sỹ luật học của TS. Nguyễn Đức Mai về “Vấn đề tranh
tụng trong TTHS” (năm 2004); Luận án đã nghiên cứu sâu về mặt lý luận và
thực tiễn khái niệm tranh tụng; phạm vi và nội dung của nó; các quy định pháp
luật Việt Nam về tranh tụng cũng như các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng tranh tụng của các chủ thể tại các phiên toà, trên cơ sở đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng có ý nghĩa quan trọng cả về phương
diện lý luận và thực tiễn. Song BLTTHS 2003 được ban hành với khá nhiều quy
định mới về tranh tụng vẫn cần có sự nghiên cứu, bàn luận để đưa ra những giải
pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự, góp
phần giảm bớt án oan, sai.
Đề tài “Tranh tụng tại phiên tòa - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
(năm 2003) của Học viện Tư pháp do PGS. TS Nguyễn Văn Huyên làm chủ
nhiệm; Đề tài “Những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa
của KSV” (năm 2003) do TS. Lê Hữu Thể làm chủ nhiệm đã đề cập đến nhiều
3
nội dung của tranh tụng. Tuy nhiên, vì là đề tài của ngành nên công trình chỉ đi
sâu và tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về tranh tụng cũng như
phạm vi, kỹ năng tranh tụng của KSV mà không đề cập đến các bên tham gia
tranh tụng khác cũng như vai trò trọng tài của HĐXX.
Ngoài ra, còn có một số bài báo và tạp chí có đề cập đến nội dung nghiên
cứu trên nhưng ở những góc độ nhỏ, lẻ khác nhau như: “Một số vấn đề tranh
tụng trong TTHS” (Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2003) và “Tìm hiểu các kiểu
(hình thức) TTHS” (Tạp chí Khoa học pháp lý số 8/2002) của tác giả Lê Tiến
Châu; “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa”-Tác giả Trần Văn Độ (Tạp chí
Khoa học pháp lý số 4/2004); “Đổi mới thủ tục xét xử nhằm nâng cao chất lượng
tranh tụng tại phiên toà hình sự”-Tác giả Từ Văn Nhũ (Tạp chí TAND số
10/2002); “Vai trò của HĐXX trong việc tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình
sự” - Tác giả Đinh Văn Quế (Tạp chí TAND số 1/2004); “Bảo đảm quyền của bị
can, bị cáo trong phiên tòa mở rộng tranh tụng” (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số

Hoạt động tranh tụng trong lĩnh vực tố tụng được BLTTHS 2003 quy định
ở các giai đoạn tố tụng bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố bị can hoặc quyết
định áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ.
Tuy nhiên, trong khả năng và điều kiện nghiên cứu của một luận văn cao
học, thống nhất với quan điểm coi khâu trọng tâm của cải cách tư pháp là nâng
cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề tranh
tụng tại phiên tòa HSST.
5
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật trong việc nghiên cứu. Bên cạnh đó, luận
văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như sau:
Phương pháp phân tích nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
tranh tụng tại phiên tòa hình sự.
Phương pháp so sánh, để đối chiếu, so sánh với quy định của BLTTHS
một số nước trên thế giới nhằm tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm khi đưa ra đề
xuất, kiến nghị.
Phương pháp tổng hợp để tổng hợp các vấn đề đã được nghiên cứu nhằm
đưa ra những nhận định và kết luận chung.
Phương pháp thống kê để thống kê số liệu trong thực tiễn xét xử liên quan
đến việc tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở cho việc đưa ra nhận xét, kết luận và
kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài có thể đạt được những kết quả mới như:
- Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và một số quy định của BLTTHS 2003 về
tranh tụng tại phiên tòa hình sự.
- Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của BLTTHS 2003, nghiên cứu việc
thực thi tranh tụng tại phiên tòa, luận văn chỉ ra những điểm bất cập của pháp
luật, những vướng mắc trong quá trình áp dụng.
- Luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật

tụng khác… Khi xét xử TA phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước
Pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và HTND độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật; việc xét xử của TA phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh
7
tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của
KSV, của người bào chữa, bị cáo…”. Do đó, vấn đề tranh tụng càng được đưa ra
bàn luận sôi nổi và nghiên cứu chuyên sâu hơn.
Cho đến nay, tranh tụng trong TTHS không còn là vấn đề mới. Song đây
vẫn là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi với nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau.
Trong đó, đa phần để làm sáng tỏ khái niệm này, các nhà nghiên cứu thường đề
cập đến các vấn đề về mô hình tố tụng tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng, quá
trình tranh tụng tức là giải thích tranh tụng dưới các góc độ khác nhau.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khái quát có thể thấy rằng các nội dung
này không tách rời mà đan xen, liên hệ chặt chẽ với nhau. Với mô hình tranh
tụng, các chức năng buộc tội và bào chữa tham gia vào quá trình tranh tụng với
sự tuân thủ và áp dụng nguyên tắc tranh tụng để góp phần làm sáng tỏ sự thật
khách quan của vụ án.
Quá trình tranh tụng trong TTHS bắt đầu khi xuất hiện sự buộc tội của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền đối với một cá nhân cụ thể hoặc một số người xác
định (thể hiện bằng việc ra quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện
pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ). Kể từ thời điểm này ở phía người bị buộc tội (bị
can, người bị tạm giữ) xuất hiện sự bào chữa để chống lại sự buộc tội đó, bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hay nói một cách khác, tranh tụng chỉ
có thể bắt đầu khi xuất hiện hai đối trọng là bên buộc tội và bên bào chữa với hai
chức năng tương ứng là chức năng buộc tội và chức năng bào chữa.
Quá trình tranh tụng được xem là kết thúc khi bản án hay quyết định của
TA về vụ án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm của các chủ thể có các quyền đó.
Sự tồn tại của tranh tụng trong TTHS là một thực tế khách quan. Bởi vì
hoạt động TTHS là hoạt động gắn kết chặt chẽ của ba chức năng: buộc tội, bào

9
được thực hiện dưới một trong ba hình thức nêu trên hoặc ba hình thức đồng thời
được thực hiện.
Về thời điểm bắt đầu và kết thúc thì chức năng buộc tội xuất hiện từ khi có
cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can (buộc tội chính thức). Có
một số trường hợp đặc biệt thì chức năng buộc tội xuất hiện sớm hơn khi cơ
quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người bị tình nghi (buộc tội không
chính thức) thuộc trường hợp bắt khẩn cấp, bắt quả tang hoặc bắt người đang bị
truy nã (Điều 81, 82, 86 BLTTHS năm 2003). Khi kết thúc thủ tục tranh luận tại
phiên tòa sơ thẩm thì chức năng buộc tội cũng kết thúc. Trong một số trường hợp
ngoại lệ, chức năng buộc tội kết thúc sớm hơn khi những căn cứ của việc buộc
tội không còn và dẫn đến hệ quả là cơ quan điều tra đình chỉ điều tra hoặc VKS
hay TA đình chỉ vụ án.
Về vai trò, chức năng buộc tội là một trong những chức năng cơ bản của
TTHS, là nhân tố làm phát sinh quá trình tranh tụng, đối trọng với chức năng bào
chữa và là tiền đề cần thiết cho chức năng xét xử. Không có buộc tội thì sẽ
không có hoạt động tố tụng và hoạt động tố tụng đó sẽ không có định hướng.
“Chức năng bào chữa là một dạng hoạt động tranh tụng được pháp luật
đảm bảo cho người bị buộc tội khả năng bằng cách tự mình hoặc nhờ người
khác đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm không chỉ bác bỏ sự buộc tội, làm
giảm trách nhiệm cho mình mà còn đưa ra những gì có lợi cho người bị buộc tội
trong quá trình tố tụng” [41, tr15]. Khái niệm về chức năng bào chữa này đã
khái quát hóa được chủ thể, phạm vi, cách thức thực hiện cũng như nội dung của
chức năng bào chữa.
Về nội dung, chức năng bào chữa là tất cả các hoạt động của người bị
buộc tội và người bào chữa từ khi bị buộc tội đến khi có bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật của TA không bị kháng cáo, kháng nghị. Thông qua các hành
vi cụ thể, họ sử dụng các quyền theo qui định của pháp luật để làm sáng tỏ
những tình tiết về sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như
10

mới thể hiện một cách toàn diện và đầy đủ nhất, là tổng hợp kết quả của các hoạt
động tranh tụng đã diễn ra trước đó.
Phiên tòa hình sự có sự tham gia của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên
gỡ tội cùng các chủ thể khác dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa và sự giám
sát của HĐXX. Tại phiên tòa sơ thẩm nội dung và phạm vi tranh tụng không bị
bất kỳ giới hạn nào. Trong khi đó, ở phiên tòa phúc thẩm thành phần tham gia
cũng hạn chế hơn ở chỗ: chỉ yêu cầu người kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng
nghị là bắt buộc phải có mặt; còn các chủ thể khác như bị cáo không kháng cáo
hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị, người bị hại, người làm chứng thì tùy
thuộc vào sự xem xét của TA có cần thiết hay không mới triệu tập. Ngoài ra, nội
dung và phạm vi tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm cũng bị thu hẹp phụ thuộc
vào nội dung của kháng cáo, kháng nghị và ý chí chủ quan của HĐXX.
Phiên tòa HSST và phúc thẩm hội tụ đầy đủ ba chức năng cơ bản của
TTHS, đó là chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử. Các chức năng này có mối
liên hệ mật thiết, hữu cơ với nhau. Mỗi chức năng tồn tại và vận động trong
chừng mực tồn tại và vận động của chức năng kia. Hai chức năng buộc tội và
bào chữa đồng thời được thực hiện công khai, cạnh tranh quyết liệt hướng tới
việc thuyết phục HĐXX chấp nhận lập luận, chứng cứ chứng minh và các đề
xuất của mình, góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án.
Tại phiên tòa hình sự, chức năng buộc tội trực tiếp do KSV, người bị hại
và nguyên đơn dân sự (nếu có) thực hiện. KSV buộc tội thông qua bản Cáo
trạng, qua việc xét hỏi và đưa ra các lý lẽ để tranh luận với bên bào chữa nhằm
bảo vệ ý kiến của mình về vụ án. Người bị hại và nguyên đơn dân sự được quyền
trình bày sự việc, đưa ra các chứng cứ và các lý lẽ bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình.
Chức năng bào chữa tại phiên tòa do bị cáo, người bào chữa; bị đơn dân
sự, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ thực hiện. Người
12
bào chữa tại phiên tòa bao gồm: Luật sư, người đại diện hợp pháp của bị cáo và
bào chữa viên nhân dân.

chỗ nhằm “tái hiện, củng cố và khẳng định những tình tiết, sự kiện của vụ án
một cách đầy đủ nhất và toàn diện nhất. Trên cơ sở đó hình thành những thông
tin chính xác giúp cho việc tranh luận, nghị án và tuyên án” [40].
Phần tranh luận thể hiện đậm nét nhất nội dung tranh tụng tại phiên tòa
hình sự cũng như toàn bộ quá trình tranh tụng trong TTHS. Các chủ thể buộc tội
và bào chữa dựa vào kết quả thẩm vấn để đưa ra quan điểm của mình về sự tồn
tại hay không tồn tại mối liên hệ logic giữa các sự kiện, tình tiết đã kết luận ở
giai đoạn điều tra và được làm sáng tỏ, công khai tại phần xét hỏi của phiên tòa.
Từ đó, các chủ thể viện dẫn căn cứ pháp luật, lập luận để đưa ra kết luận khẳng
định hoặc bác bỏ nội dung buộc tội của chủ thể buộc tội hoặc nội dung bào chữa
của chủ thể bào chữa. HĐXX là trọng tài, lắng nghe các bên tranh luận, đối đáp.
Nếu qua tranh luận mà HĐXX thấy có chứng cứ chưa được kiểm tra đầy đủ tại
giai đoạn xét hỏi hoặc có chứng cứ mới xuất hiện trong quá trình tranh luận thì
HĐXX quyết định quay lại thủ tục xét hỏi nhằm làm sáng tỏ các nội dung cần
thiết. Qua tranh luận giữa hai bên buộc tội và bào chữa, HĐXX sẽ có những
nhận định xác thực về vụ án, làm cơ sở cho việc nghị án và đưa ra những phán
quyết phù hợp, giải quyết vụ án một cách đúng đắn.
Như vậy, có thể hiểu:
Tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động của các chủ thể có chức năng đối
trọng nhau là buộc tội và bào chữa thực hiện, dựa trên nguyên tắc bình đẳng
trong việc đưa ra, làm sáng tỏ, bảo vệ chứng cứ, lập luận của mình và phản bác
chứng cứ, lập luận của đối phương, nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận đề xuất
của mình, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án; được bắt đầu
cùng với thủ tục bắt đầu phiên tòa và kết thúc khi kết thúc phần tranh luận.
14
1.2. Quy định hiện hành của pháp luật TTHS Việt Nam về tranh tụng
tại phiên tòa
BLTTHS năm 2003 (sau đây gọi tắt là BLTTHS) có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2004 đã đánh dấu một bước mới, quan trọng trong lịch sử lập pháp
TTHS của Việt Nam.

chức năng bào chữa - đối trọng với chức năng buộc tội trong TTHS. Hai chức
năng này không chỉ tồn tại song song mà nó còn đối lập và chế ước nhau tạo ra
một cơ chế tranh tụng có hiệu quả nhất trong hoạt động tố tụng nhằm giải quyết
đúng đắn vụ án hình sự. Để bảo đảm quyền bào chữa tại phiên tòa được thực
hiện một cách tối đa, TA chỉ được xét xử vắng mặt bị cáo trong một số trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 187 BLTTHS
- Nguyên tắc “Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia” (Điều 15);
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16): Sự
độc lập của thẩm phán là điều kiện cơ bản để bảo đảm quyền được xét xử công
bằng của người dân. Nguyên tắc này là căn cứ để Thẩm phán, Hội thẩm thực
hiện quyền tự do xét xử theo lương tâm và pháp luật, từ chối mọi sự can thiệp
bên ngoài vào công việc xét xử. Đồng thời, nó cũng thể hiện địa vị pháp lý độc
lập của cơ quan tài phán giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa trong TTHS.
- Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bình đẳng trước TA” (Điều 19): Sự thật của
vụ án chỉ có thể được xác định khách quan, toàn diện và đầy đủ khi thẩm phán,
hội thẩm coi trọng mọi loại nguồn chứng cứ, mọi lập luận về các tình tiết của vụ
án cũng như mọi lập luận về dẫn chiếu quy định của pháp luật. Do đó, nguyên
tắc này chính là cơ sở pháp lý để các bên buộc tội và gỡ tội tranh tụng bình đẳng,
dân chủ tại phiên tòa. Đồng thời, buộc TA phải tôn trọng, tạo điều kiện để các
bên thực hiện quyền bình đẳng.
16
1.2.2. Về các chủ thể thực hiện tranh tụng
Để thực hiện tranh tụng tại phiên tòa, các chủ thể thuộc bên buộc tội và
bên bào chữa tiếp tục được BLTTHS năm 2003 quy định những quyền và nghĩa
vụ pháp lý nhất định.
Điều 50 BLTTHS quy định bị cáo có các quyền: được nhận quyết định
đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn
chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của TA; các quyết định tố
tụng khác theo quy định của Bộ luật này; quyền được tham gia phiên toà; được
giải thích về quyền và nghĩa vụ So với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm

Đối với các chủ thể của chức năng buộc tội tại phiên tòa như VKS (KSV),
người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ, BLTTHS
cũng quy định những quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể.
Theo quy định của BLTTHS thì VKS có các quyền và nghĩa vụ sau: có
trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10); áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để
xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; làm rõ
những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội; những tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; bảo đảm cho bị can, bị
cáo thực hiện quyền bào chữa (Điều 11); giải thích và bảo đảm cho những người
tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ (Điều 62); thu thập, xem xét và
đánh giá chứng cứ (các Điều 65 và 66);
Ngoài ra, BLTTTHS năm 2003 đã dành riêng một Điều luật để quy định
về nhiệm vụ, quyền hạn của KSV được phân công thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng. Điều 37 của Bộ luật đã
quy định cụ thể về các hoạt động của KSV tại phiên tòa: “đọc cáo trạng, quyết
định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ và thực
hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với
18
những người tham gia tố tụng tại phiên tòa”. Song hành với quyền công tố, KSV
tham gia phiên tòa còn có quyền “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động xét xử của TA, của những người tham gia tố tụng và kiểm sát các bản án,
quyết định của TA”.
Người bị hại, nguyên đơn dân sự tham gia tố tụng để thực hiện chức năng
buộc tội ở một mức độ nhất định. Để các chủ thể này có thể thực hiện chức năng
của mình trong TTHS, pháp luật giành cho họ những quyền và nghĩa vụ tố tụng
nhất định được quy định tại các Điều: 51, 52 và một số điều khác của BLTTHS.
Các điều luật nhấn mạnh đến quyền “trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp”; quyền “khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng” của các chủ thể này. Bộ
luật cũng quy định rõ nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi,

tranh luận chỉ có sức thuyết phục khi nó được đặt nền móng bởi các chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án được xét hỏi, thẩm định tại phiên tòa. Sẽ là sáo rỗng khi quan
điểm đưa ra tranh luận không dựa vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa. Sẽ thiếu tính
thuyết phục nếu chứng cứ đưa ra chỉ là “án tại hồ sơ” mà không được thẩm định
công khai tại phiên tòa. Do đó, phần tranh luận có thành công hay không phụ
thuộc rất lớn vào việc xét hỏi công khai tại phiên tòa.
Thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm được kế tiếp ngay sau thủ tục xét
hỏi, được BLTTHS quy định tại 5 điều từ Điều 217 đến Điều 221. Đây có thể
xem là giai đoạn trung tâm của quá trình tranh tụng. Bởi vì, lần đầu tiên hai bên
buộc tội và gỡ tội, trước sự chứng kiến của HĐXX, công khai thực hiện chức
năng của mình bằng việc đưa ra các lý lẽ và lập luận.
20
Mở đầu cuộc tranh luận, KSV trình bày lời luận tội. Điều 217 BLTTHS
quy định:“Luận tội của KSV phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được
kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền
lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà”. Như vậy,
căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, KSV sẽ đánh giá chứng cứ để quyết
định theo ba hướng: hoặc là bảo vệ toàn bộ cáo trạng đã truy tố; hoặc là bảo vệ
một phần cáo trạng đã truy tố; hoặc không bảo vệ được cáo trạng đã truy tố. Để
luận tội của KSV bảo đảm đúng đắn, chính xác và có sức thuyết phục, VKS phải
tổng hợp phân tích, đánh giá chứng cứ một cách logic các tài liệu chứng cứ có
trong hồ sơ đã được thẩm tra tại tòa. Trên cơ sở BLTTHS và BLHS, luận tội của
KSV phải xác định được đâu được xem là chứng cứ, đâu không được xem là
chứng cứ và xác định bốn yếu tố của cấu thành tội phạm. Ngoài ra, kết quả xét
hỏi chính là lập luận để làm rõ vai trò của bị cáo trong vụ án, tính chất, mức độ
và hậu quả của vụ án cũng như tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo. Để việc
đề xuất mức án cho tội danh của bị cáo được chính xác, luận tội của KSV còn
phải làm rõ cả tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo.
Tiếp theo lời buộc tội của vị đại diện VKS là những lập luận bên bào chữa
để gỡ tội. Trước tiên, người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa và tập

mới này đã xác định rất rõ trách nhiệm đối đáp lại, tranh luận lại với bên bào
chữa của KSV tại phiên tòa. Theo tinh thần của Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng thì “kết quả tranh tụng”
22
chính là cơ sở để HĐXX ra phán quyết. Do vậy, việc quy định trách nhiệm đối
đáp của KSV chính là nhằm nâng cao tính tranh tụng tại phiên tòa.
Điều luật cũng quy định rõ: “Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị KSV
phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những
người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được KSV tranh luận”.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, trong trường hợp dù được đề nghị, KSV vẫn không
tham gia tranh luận thì hậu quả pháp lý là gì? chế tài áp dụng như thế nào? Có
thể và cần phải xem việc không tham gia tranh luận, không đáp lại được lập luận
của bên tham gia tranh tụng chính là sự thừa nhận, đồng tình với lập luận của họ.
Điều 192 BLTTHS năm 1988 quy định “Người tham gia tranh luận có
quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với
mỗi ý kiến mà mình không đồng ý”. Tranh luận nhằm hướng tới việc xác định sự
thật khách quan của vụ án. Chân lý, sự thật khách quan của vụ án không thể làm
sáng tỏ chỉ bằng một câu nói, một ý kiến mà có thể phải qua rất nhiều bước,
nhiều tầng bậc mới có thể làm sáng tỏ. Quy định này của Điều luật đã hạn chế sự
cọ sát các quan điểm, lập luận - vốn là phương pháp được sử dụng công khai và
hữu hiệu nhất tại phiên tòa hình sự - giữa các bên tranh tụng.
BLTTHS năm 2003 đã có sự sửa đổi phù hợp: “Người tham gia tranh
luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ toạ phiên toà không được hạn
chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận
trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ
án”.
Với những sửa đổi trong quy định về đối đáp tại phiên tòa, BLTTHS năm
2003 đã chứng minh xu hướng tăng cường tranh tụng tại phiên tòa theo đường
lối của Đảng, nhà nước.
23

tổ chức, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật.
Qua hơn 6 năm thi hành BLTTHS 2003, thực tiễn đã phản ánh những mặt
đạt được cùng các mặt hạn chế của pháp luật TTHS nước ta trong tranh tụng tại
phiên tòa, cụ thể là:
2.1. Những kết quả đạt được từ thực hiện tranh tụng tại phiên tòa
2.1.1. Nâng cao vị trí, vai trò của LS
Với việc ban hành BLTTHS năm 2003 và Luật LS năm 2006, vị thế của
LS đã được nâng lên một tầm cao mới. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã phần
lớn chú ý tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho LS tham gia bào chữa, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo. Hoạt động tham gia tố tụng của
LS đã có những bước phát triển cả về lượng và chất.
Theo thống kê, đến tháng 10 năm 2008, trong cả nước đã thành lập 61
đoàn LS trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với gần 4.600 LS
và 2.000 người tập sự hành nghề LS hoạt động trong gần 1.500 tổ chức hành
nghề luật sư [13].
Báo cáo của Đoàn LS thành phố Hà Nội cho biết từ 10/2002 đến 3/2004
các LS của Đoàn đã tham gia tố tụng 2.898 vụ việc, trong đó có 1.527 vụ án hình
sự (60 văn phòng). Riêng trong lĩnh vực hình sự có 208 vụ chỉ định (27 văn
25

Trích đoạn Nguyên nhân chủ quan Hoàn thiện chế định về bảo đảm quyền bào chữa Hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia phiên tòa hình sự Hoàn thiện về thủ tục xét xử tại phiên tòa Thay đổi quy chế làm việc và kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, KSV, LS
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status