1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
***
NGÔ HUYỀN NHUNG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM - NHỮNG LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
HÌNH SỰ VIỆT NAM - NHỮNG LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.GVC NGUYỄN NGỌC CHÍ HÀ NỘI - 2012
3
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM
7
1.1.
Khái niệm xét xử sơ thẩm trong Tố tụng hình sự
7
1.1.1.
Hoạt động xét xử của Tòa án
7
1.1.2.
Nguyên tắc hai cấp xét xử trong các hệ thống pháp luật
10
1.1.3
Nguyên tắc hai cấp xét xử theo pháp luật Việt Nam
12
1.2
Xét xử sơ thẩm
15
1.2.1
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn trọng tâm trong Tố tụng hình sự
17
1.2.2
Vai trò của xét xử sơ thẩm
19
1.5.1
Mục đích của xét xử sơ thẩm
40
1.5.2
Ý nghĩa của xét xử sơ thẩm
40
1.6
Xét xử sơ thẩm trong mô hình Tố tụng hình sự Việt Nam
41
1.6.1
Xét xử sơ thẩm trong mô hình Tố tụng hình sự tranh tụng
42
1.6.2
Xét xử sơ thẩm trong mô hình Tố tụng hình sự xét hỏi (thẩm vấn)
44
1.6.3
Mô hình tố tụng hình sự pha trộn (hỗn hợp)
45
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
49
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XÉT XỬ SƠ THẨM Ở VIỆT NAM
51
2.1.
Những qui định của Bộ Luật TTHS 2003 về xét xử sơ thẩm
51 5
2.1.1
Cơ sở của những kiến nghị, đề xuất
68
3.2
Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm trong tố
tụng hình sự Việt Nam
69
3.2.1
Xây dựng mô hình tố tụng hình sự
69
3.2.2
Xây dựng pháp luật
70
3.2.3
Nâng cao trình độ, năng lực cho Thẩm phán, Công tố viên, Điều tra viên
và Luật sư
74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
75
KẾT LUẬN
77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
6
7
Để phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng nhu cầu của công cuộc cải
cách kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp thúc đẩy quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quán triệt tư tưởng,
quan điểm, định hướng về cải cách tư pháp, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị quyết 49-NQ/TW
ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác
định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các
cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
Toà án nhân dân; coi cải cách trong công tác xét xử là khởi điểm mang tính
đột phát, là động lực, là tiền đề thúc đẩy công tác cải cách trong các hoạt động
tố tụng khác.
Để thực hiện được nhiệm vụ, mục tiêu đó, đòi hỏi các cơ quan tư pháp
phải thực hiện tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình. Đặc biệt chất lượng
xét các vụ án hình sự phải được đảm bảo ngay từ giai đoạn sơ thẩm. Đó là
giai đoạn mà vụ án được Tòa án đưa ra xét xử lần đầu theo quy định của pháp
luật. Tại phiên toà sơ thẩm đó, Hội đồng xét xử sau khi nghiên cứu khách
quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, ra bản án khẳng định bị cáo
có tội hoặc không có tội và áp dụng hình phạt đối với bị cáo hay không. Do
vậy, đảm bảo chất lượng xét xử ngay từ cấp sơ thẩm có ý nghĩa to lớn nhằm
khắc phục được tình trạng án oan, sai, góp phần quan trọng vào việc đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhưng thực
tiễn cho thấy chất lượng phiên toà sơ thẩm nói riêng và công tác tư pháp nói
chung vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm,
làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân. Vì vậy
việc nghiên cứu vấn đề về xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam
không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn góp
9
pháp luật về giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam theo
yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích cơ sở lý luận về xét xử sơ thẩm ở Việt Nam.
+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng xét xử sơ thẩm ở Việt Nam.
+ Đề xuất những quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật về giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn gồm các vấn đề về giai đoạn xét
xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam - lý luận và thực tiễn.
Phân tích thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật để tìm ra những
mặt tích cực và chưa tích cực, từ đó đưa ra những kiến nghị về hoàn thiện
pháp luật về giai đoạn xét xử sơ thẩm, cũng như đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của giai đoạn xét xử sơ thẩm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về các vấn đề pháp lý
có liên quan tới giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam -
những vấn đề lý luận và thực tiễn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng về Nhà nước và pháp luật. 10
- Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng các
về Giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Chương 2. Thực trạng xét xử sơ thẩm ở Việt Nam.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm trong
Tố tụng hình sự.
* Phần kết luận: tóm tắt kết quả nghiên cứu, khẳng định lại vai trò quan
trọng của việc nghiên cứu “Giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự
Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn”. 12
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm trong Tố tụng hình sự
1.1.1 Hoạt động xét xử của Tòa án
Ngay từ khi Nhà nước xuất hiện đã có xét xử và có Tòa án. Tòa án là
ngày càng được mở rộng. Lúc mới ra đời hoạt động xét xử chỉ được áp dụng
cho các “thần dân” có hành vi chống lại nhà nước, các vi phạm giữa các cá
nhân được giải quyết chủ yếu bằng con đường “tự xử”. Càng về sau, các
quyền tự do dân sự, chính trị của công dân dần dần được pháp luật thừa nhận,
sự vi phạm các quyền đó được nhìn nhận như là xâm phạm tới lợi ích, trật tự
chung và do đó chúng là đối tượng của hoạt động xét xử của Tòa án.
So với các Tòa án trong một nhà nước không có chủ trương xây dựng
một Nhà nước pháp quyền, thì trong một xã hội pháp quyền, Tòa án có một vị
trí vai trò vượt trội. Trong một Nhà nước pháp quyền, việc kết tội một công
dân có tội hay không có tội chỉ được thực hiện thông qua một hoạt động duy
nhất của Tòa án là xét xử vụ án, không cơ quan nào khác được làm thay Tòa
án chức năng này. Một nguyên tắc được thừa nhận chung của nền văn minh
pháp lý nhân loại là: Không có ai bị coi là có tội cũng như phải chịu hình
phạt, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tòa án
có quyền xét xử mọi hành vi phạm pháp luật và mọi tranh chấp phát sinh
trong xã hội từ những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế,
hành chính cho đến các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật. Đặc trưng
này không giống với hoạt động phán quyết, hòa giải của các cơ quan, tổ chức
xã hội khác. Nó không phải là sự phán quyết của cấp trên đối với cấp dưới
trong quản lý hành chính và càng không phải là hoạt động trung gian hòa giải
và dàn xếp là đặc trưng trong lĩnh vực quan hệ hợp đồng kinh tế. Hoạt động
xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh Nhà nước áp dụng pháp luật vào
việc giải quyết các tranh chấp, xét xử các vi phạm pháp luật cụ thể. Hoạt động 14
xét xử có thể dẫn đến chỗ công dân, pháp nhân, các tổ chức được hưởng các
quyền, lợi ích hoặc phải gánh chịu các nghĩa vụ nhất định cho nên hoạt động
xét xử của Tòa án có tính tổ chức rất chặt chẽ. Tòa án khi xét xử một vụ việc
cụ thể phải tuân theo những trình tự, thủ tục luật định một cách nghiêm ngặt,
hội chủ nghĩa, Tòa án có một vai trò và vị trí quan trọng, với chức năng được
giao là xét xử các vụ án, thông qua một Hội đồng xét xử gồm có thẩm phán,
hội thẩm nhân dân các vi phạm pháp luật được xử lý, các tranh chấp được giải
quyết đã bảo vệ được lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công
dân, có tác dụng tuyên truyền giáo dục và góp phần đấu tranh, phòng chống
tội phạm. Tại phiên tòa các kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa,
giám định tư pháp đều được kiểm tra, đánh giá, xem xét một cách khách
quan, công khai để từ đó phán xét cuối cùng mang tính quyền lực nhà nước
được đưa ra và bắt buộc mọi cá nhân, tổ chức phải thi hành.
Pháp luật nước ta quy định nguyên tắc xét xử hai cấp, sơ thẩm và phúc
thẩm để đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án là phải đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, tránh xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm
1.1.2 Nguyên tắc hai cấp xét xử trong các hệ thống pháp luật
Hoạt động xét xử của Tòa án phải tuân thủ chặt chẽ theo các nguyên tắc
xét xử, đó là phải có hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.
Bởi vì ngày nay cùng với sự phát triển của Nhà nước và pháp luật, pháp luật
và hoạt động của Nhà nước ngày càng can thiệp sâu vào mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội. Việc vi phạm pháp luật ngày càng mở rộng ra các lĩnh vực khác
nhau. Do đó việc tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử không chỉ đảm bảo
độc lập cho Tòa án mà còn đảm bảo cho việc xét xử có hiệu quả, xóa bỏ tình
trạng án tồn đọng, án oan sai do thiếu kinh nghiệm xét xử và thiếu khả năng
chuyên môn. Ngoài ra việc thực hiện hai cấp xét xử sẽ giúp cho Tòa án cấp
trên có thể xem xét lại phán quyết của Tòa án cấp dưới theo thủ tục kháng
cáo, kháng nghị nhằm đảm bảo sự công bằng, tránh oan sai cho các đương sự, 16
bị can, bị cáo là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc xem xét lại các phán quyết của
Tòa án cấp dưới đó cũng bắt buộc phải được tiến hành theo các thủ tục tố tụng
chặt chẽ, không thể tùy tiện được, nhằm đảm bảo tính độc lập giữa Tòa án cấp
gia của các nước thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau.
Tuy nhiên, ở nhiều nước, các toà án được tổ chức theo cấp xét xử,
nhưng điều đó không có nghĩa là việc xét xử sơ thẩm toàn bộ các vụ án đều
giao cho một loại toà án, mà xét xử phúc thẩm được giao cho một loại toà án
khác… Tổ chức toà án theo cấp xét xử ở đây được hiểu theo nghĩa tố tụng,
chứ không phải theo nghĩa tổ chức hành chính. Ví dụ, tại Cộng hoà Pháp có
các loại toà sơ thẩm hình sự khác nhau là Toà vi cảnh, Toà tiểu hình và Toà
đại hình; còn thẩm quyền xét xử phúc thẩm cũng do hai loại toà án theo cấp
hành chính khác nhau thực hiện.
1.1.3. Nguyên tắc hai cấp xét xử theo pháp luật Việt Nam
- Thời kỳ 1945 - 1960
Ngay từ ngày đầu tồn tại Nhà nước dân chủ nhân dân, Nhà nước ta đã
thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Về mặt tổ chức, Điều thứ 63 Hiến pháp
năm 1946 quy định cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
gồm có Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ
cấp. Theo Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 thì các Toà án ở nước ta gồm có
Toà án nhân dân huyện, Toà án nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân phúc thẩm
khu hoặc thành phố và Toà án nhân dân tối cao; trong đó các Toà án nhân dân
huyện và Toà án nhân dân tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án. Đến
năm 1959, các Toà án phúc thẩm thành phố, liên khu được nhập lại thành các
Toà án nhân dân phúc thẩm Hà Nội, Hải Phòng và Vinh với nhiệm vụ chủ yếu
là xử lại những án bị kháng cáo của các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh.
Các Toà án nhân dân phúc thẩm là một ấp Toà án ở giữa Toà án nhân dân
tỉnh, thành phố và Toà án nhân dân tối cao (Thông tư số 92-Tc ngày
11/11/1959 của Liên bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao). 18
Đến năm 1952, Nghị định số 32-NĐ ngày 6/4/1952 quy định thẩm
quyền của các Toà án nhân dân, trong đó Toà án nhân dân huyện có thẩm
+ Các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân địa phương bị
kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn luật định thì do Toà án trên một
cấp xét xử lại theo trình tự phúc thẩm;
+ Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời
chung thẩm;
+ Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là bản án, quyết định sơ
thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định; bản án, quyết
định phúc thẩm và bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân tối cao;
+ Các bản án tử hình chỉ được thi hành khi có hiệu lực pháp luật và
được Hội đồng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dân tối cao duyệt.
Đồng thời, Luật cũng quy định hệ thống Toà án nước ta gồm có Toà án
nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương (theo đơn vị hành chính
lãnh thổ) và các Toà án quân sự.
Như vậy, theo Luật Tổ chức Toà án nhân dân 1960 thì hệ thống toà án
nước ta được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Các toà án có thẩm
quyền xét xử sơ thẩm là Toà án cấp huyện và Toà án cấp tỉnh; các toà án có
thẩm quyền xét xử phúc thẩm là Toà án cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao.
Các Toà án nhân dân phúc thẩm bị bãi bỏ. Chức năng này do các Toà án nhân
dân cấp tỉnh hoặc Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao (toà chuyên trách)
thực hiện.
Về mặt tố tụng, ngoài việc giải quyết nội dung kháng cáo, kháng nghị,
Toà án cấp phúc thẩm có quyền huỷ bản án, quyết định sơ thẩm để Toà án sơ
thẩm xét xử lại theo hướng nặng hơn dù không có kháng cáo, kháng nghị về
vấn đề đó. Còn Toà án xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có
quyền sửa bản án theo hướng có lợi cho người bị kết án…
20
- Thời kỳ từ 1989 đến nay
thực hiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì xét xử được coi là giai
đoạn trung tâm và đóng vai trò quan trọng. Đó là một giai đoạn kết thúc của
cả một quá trình giải quyết một vụ án hình sự, được coi là đỉnh cao của quyền
tư pháp, bởi vì ở giai đoạn này việc xem xét toàn bộ các chứng cứ chứng
minh hành vi phạm tội, toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất.
Việc tìm hiểu, giải thích, làm sáng tỏ giai đoạn xét xử sơ thẩm không chỉ
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự mà còn
có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Trong thực tiễn lập pháp đã đưa ra khái niệm khá chính xác về xét xử
sơ thẩm. Từ điển luật học định nghĩa:
- Xét xử: Là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các tòa
án. Các tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm
chức năng xét xử. Mọi bản án do các tòa án tuyên đều phải qua xét xử. Không
một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các tòa án và kết quả xét
xử phải được công bố bằng bản án.
- Sơ thẩm: Lần đầu tiên đưa một vụ án ra xét xử tại một tòa án có thẩm
quyền.
Theo đó có thể thấy rằng: Xét xử sơ thẩm là giai đoạn mở đầu cho toàn
bộ hoạt động xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm).
Ngoài ra, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn quy định tại cấp sơ thẩm, vụ
án được xét xử theo nguyên tắc trực tiếp, bằng lời nói và liên tục. Tòa án chỉ
xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy
tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Kết thúc giai đoạn xét xử sơ thẩm là
việc Hội đồng xét xử ra các bản án, quyết định định tội danh cho bị cáo có tội 22
hay không có tội và các hình phạt bổ sung khác nếu có. Bản án trong giai
phải tiến hành thông qua các thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận,
nghị án, tuyên án và do Hội đồng xét xử gồm Thẩm phán và hai Hội thẩm tiến
hành (trong trường hợp cần thiết hoặc pháp luật quy định thì có thể gồm hai
Thẩm phán và ba Hội thẩm) và phải tuân thủ các nguyên tắc: Khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là một đặc
thù của giai đoạn sơ thẩm, nó có tính quyết định đến các bản án sơ thẩm, bởi
chỉ duy nhất ở giai đoạn này mới có quy định bắt buộc về thành phần Hội
đồng xét xử là phải có hội thẩm tham gia, chỉ cần không đủ thành phần Hội
đồng xét xử thì phiên tòa không thể được diễn ra. Như vậy, quy định này đã
đảm bảo cho nguyên tắc quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử được
thực hiện, đã chứng tỏ bằng hoạt động xét xử, Tòa án vừa giáo dục công dân
trung thành với Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội
phạm, vừa bảo vệ được lợi ích chính đáng của nhân dân.
Ngoài ra, hoạt động xét xử còn phải tuân thủ các nguyên tắc như: xét
xử công khai, trực tiếp, bằng lời nói và liên tục; Tòa án xét xử tập thể và
quyết định theo đa số; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; Thông
qua các thủ tục tố tụng do pháp luật quy định, căn cứ vào các quy định của
pháp luật nội dung, Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước ra bản án để phán
xét một hành vi nào đó là tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm, khác với các giai đoạn khác, vì là xét xử lần
đầu nên hầu hết những người tham gia tố tụng đều được triệu tập để tham gia
phiên tòa và tất cả các nguyên tắc của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự
đều được áp dụng. Ở giai đoạn này, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ
quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được đem ra xem
xét một cách công khai tại phiên tòa. Nếu ở những giai đoạn điều tra những
người tham gia tố tụng được triệu tập chỉ để lấy lời khai, thu thập chứng cứ 24
25
các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức thuyết phục,
nhưng đồng thời lại phải tuân theo những quy định của pháp luật. Do đó,
thông qua phiên toà có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán,
của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham gia tố
tụng tố tụng khác. Cũng thông qua phiên toà mà Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm
sát viên, Luật sư nâng cao được trình độ nghiệp vụ năng lực công tác và kỹ
năng nghề nghiệp; những người dự phiên toà hiểu biết thêm về pháp luật,
củng cố thêm lòng tin vào Toà án. Vì vậy, việc tổ chức phiên toà sơ thẩm tốt
có tác dụng to lớn không chỉ đối với một vụ án cụ thể mà còn có tác dụng đối
với việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân. Vai trò và ý nghĩa của
giai đoạn này được thể hiện trên các bình diện chủ yếu như sau:
- Xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn
bộ quá trình tố tụng hình sự nói chung nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết
do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết
định mà cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ
án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực của các sơ
xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự
trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả
lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án;
- Bằng việc xét xử sơ thẩm thông qua quá trình điều tra trực tiếp tại
phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, Tòa
án với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn
diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để
giải quyết về bản chất nó - phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không)
của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo nhằm đạt mục đích trong toàn bộ
các giai đoạn tố tụng hình sự là tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực
pháp luật một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức
thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội.