1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TỐNG THỊ THANH THANH CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 50514
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ HÀ NỘI - 2003
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được sử thực hiện độc lập và dưới sự hướng
dẫn của Thầy giáo, TS. Nguyễn Ngọc Chí.
Bản luận văn này không sao chép luận văn hay bất cứ công trình nghiên cứu
Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm
5
1.2
Lịch sử phát triển của các quy định pháp luật tố tụng hình sự
về chuẩn bị xét xử trƣớc khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988
16
1.2.1
Giai đoạn trước năm 1960
16
1.2.2
Giai đoạn từ 1960 đến 1988
17
1.3
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp lụât tố
tụng hình sự một số nƣớc trên thế giới
18
Chương 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN
HÀNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 22
2.1
Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
22
2.2
Nghiên cứu hồ sơ
56
2.4
Những việc làm cần thiết để chuẩn bị mở phiên toà
57
5
2.4.1
Triệu tập người tham gia tố tụng đến phiên toà
57
2.4.2
Mời Hội thẩm nhân dân
59
2.4.3
Lên lịch xét xử
59
Chương 3
NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN,
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM
62
3.1
Nguyên nhân của những hạn chế hiệu quả áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm
62
KẾT LUẬN
79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
81 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử là giai đoạn trọng tâm cuả quá trình giải quyết vụ án hình sự, tại
đây sự thật của vụ án được làm sáng tỏ, những vấn đề bản chất của vụ án như
xác định một người cụ thể có phạm tội hay không, tội danh, hình phạt cần
được áp dụng đối với họ cũng được giải quyết. Để có một quyết định chuẩn
xác, công bằng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phải có sự nghiên cứu, chuẩn bị
trước khi mở phiên toà. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm là một khâu phức tạp không
chỉ vì tính đa dạng của các hoạt động tố tụng được thực hiện mà còn vì các
hoạt động chuẩn bị liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của những
người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có liên quan, đến mối quan hệ
giữa Toà án với các cơ quan tiến hành tố tụng khác.
Sự phát triển của các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm gắn liền với
sự phát triển của pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Ngay sau khi Cách mạng
tháng Tám thành công, các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm được ghi
nhận, áp dụng trong hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngày
càng được hoàn thiện. Năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên đã được
ban hành, các quy định về chuẩn bị xét xử được tập hợp có hệ thống trong
chương XVI của Bộ lụât này.
Việc được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự đã giúp cho Toà án
thực hiện hoạt động xét xử dễ dàng và có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình
chưa có một công trình nghiên cứu độc lập có hệ thống về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Chính vì các lý do trên đây mà chúng tôi đã chọn đề tài này làm đề tài
nghiên cứu của mình.
8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Đề tài tập trung chủ yếu vào mục đích tìm ra những khó khăn, vướng
mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chuẩn bị xét
xử sơ thẩm cũng như thực tế áp dụng các quy định này. Từ đó đưa ra những
kết luận và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc
áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm.
Từ mục đích đó nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được đặt ra là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận để làm rõ khái niệm chuẩn bị xét xử
sơ thẩm, vai trò và ý nghĩa của nó trong hoạt động xét xử của toà án. Nghiên
cứu lịch sử hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về chuẩn bị
xét xử và một số quy định của các nước trên thế giới về vấn đề này.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
chuẩn bị xét xử.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng để từ đó đưa ra những vướng mắc và lý
giải nguyên nhân để đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chuẩn bị xét
xử sơ thẩm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về chuẩn bị xét xử sơ thẩm và thực tiễn áp dụng những quy định hiện
hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm của pháp luật tố tụng hình sự. Ngoài ra đề tài
còn nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên
1. Xét xử là giai đoạn trung tâm, quyết định của quá trình tố tụng hình
sự. Điều 72 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định
không ai bị coi là có tội và chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà
án đã có hiệu lực pháp luật. Trong qúa trình xét xử, các chứng cứ được thu
thập, đánh giá trong giai đoạn điều tra, truy tố được xem xét tranh luận công
khai.
Hoạt động xét xử bao gồm việc chuẩn bị xét xử và các thủ tục xét xử
tại phiên toà. Trong đó chuẩn bị xét xử sơ thẩm là những hoạt động đầu tiên
khi hồ sơ được chuyển từ giai đoạn điều tra, truy tố sang Toà án. Chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự có tính chất đặc thù khác với sự chuẩn bị các công
việc khác, chuẩn bị xét xử phải tuân theo một trình tự tố tụng bắt buộc mà Bộ
luật tố tụng hình sự quy định.
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm
còn chưa được quan tâm nghiên cứu thoả đáng. Các sách, giáo trình và bài
viết về chuẩn bị xét xử sơ thẩm mới chỉ phân tích các quy định của pháp luật
mà không đưa ra khái niệm. Ngay cả trong luật tố tụng hình sự hiện hành
cũng không có một quy định nào thể hiện chuẩn bị xét xử sơ thẩm là gì, mà
chỉ quy định một số nội dung của hoạt động này.
Từ điển luật học (Nxb. Từ điển Bách Khoa - 1999) coi chuẩn bị xét xử
là “tiến hành những công việc cần thiết cho mở phiên toà xét xử theo quy
định tại Điều 151 - Bộ lụât tố tụng hình sự”[27,tr.95]. Khái niệm này cũng
giống với quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn “Thủ tục sơ thẩm
11
trong tố tụng hình sự Việt Nam”[20]. Tuy nhiên khái niệm chuẩn bị xét xử
nêu trên mới chỉ đưa ra nội dung rất chung của hoạt động chuẩn bị xét xử mà
không chỉ rõ chủ thể, vị trí của hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự.
Duy nhất cuốn Giáo trình luật tố tụng hình sự của Đại học Huế xuất
bản năm 2002 đưa ra khái niệm chuẩn bị xét xử, đó là “chuẩn bị xét xử vụ án
tại Điều 272 của Bộ luật tố tụng hình sự Pháp là một ví dụ. Vì vậy, có thể nói
Thẩm phán là chủ thể chính tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Ngoài ra, để giúp việc cho các Thẩm phán còn có bộ phận lục sự, thư ký
Toà án. Vai trò của các chủ thể này có thể được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng
hình sự hoặc không thì thực tế họ vẫn là những người có vai trò nhất định
trong các hoạt động chuẩn bị xét xử đặc biệt liên quan đến các hoạt động
chuẩn bị mở phiên toà. Trong một số Bộ luật tố tụng hình sự của nước ngoài,
lục sự, thư ký toà án là những người có nhiệm vụ tống đạt các giấy tờ triệu tập
người làm chứng, bị cáo, tống đạt giấy triệu tập bồi thẩm đoàn Như vậy có
thể thấy rằng, trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán đóng vai trò là người
quyết định các hoạt động tố tụng, còn lục sự, thư ký là những người trợ giúp,
thực hiện một số hoạt động tố tụng cần thiết cho việc mở phiên toà.
Tuy nhiên trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm không chỉ có các hoạt động tố
tụng của Toà án mà còn có những họat động của Cơ quan tiến hành tố tụng
khác như Viện kiểm sát (Viện công tố) hoặc của người tham gia tố tụng như
Luật sư. Các chủ thể này tuỳ theo vị trí, vai trò do Bộ luật tố tụng hình sự quy
định mà thực hiện những hoạt động tố tụng khác nhau. Ở một số nước, vai trò
của Viện kiểm sát hay Viện Công tố trong việc chuẩn bị xét xử không được
ghi nhận vì họ quan niệm việc chuẩn bị là việc làm “bếp núc” của Toà án
13
trước khi vụ án được xét xử công khai. Viện Công tố chỉ thể hiện vai trò của
mình tại phiên toà. Tuy nhiên, hiện nay đa số các nước đều quy định các
quyền của Viện Công tố và Luật sư trong việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm như
trong Bộ luật tố tụng hình sự của Hàn Quốc, Singapor.
Ở Việt Nam, chuẩn bị xét xử sơ thẩm được quy định tại chương XVI của
Bộ luật tố tụng hình sự được bổ sung, sửa đổi năm 2000 (gọi tắt là Bộ luật
2000) hay trong chương XVII của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (gọi tắt
là Bộ luật 2003), gồm 8 điều trong đó có quy định quyền của Thẩm phán chủ
toạ phiên toà, Chánh án và Phó Chánh án, Viện kiểm sát (Điều 151, 152, 156
mà quốc gia lựa chọn, nội dung chuẩn bị xét xử sơ thẩm được quy định khác
nhau đặc biệt về quyền nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán khi chuẩn bị xét xử.
Nếu theo kiểu tố tụng tranh tụng thì việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm của
Toà án chỉ đơn giản là việc xem xét, chuẩn bị các điều kiện để mở phiên toà
như triệu tập nhân chứng, xác định thời gian Bởi vì, trong tố tụng tranh tụng
sự thật sẽ được mở ra qua sự tranh luận tự do và cởi mở giữa các bên trong
phiên toà, giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Mỗi bên đều có cơ hội hỏi về tính
trung thực của nhân chứng, tìm sự thiên vị và chỉ ra được cái mà nhân chứng
biết thực chứ không phải là cái họ nghĩ rằng họ biết [29,tr.123-124]. Thẩm
phán đóng vai trò là một người trọng tài và không có trách nhiệm tìm ra sự
thật của vụ án. Phán quyết của Thẩm phán chỉ dựa trên chứng cứ đưa ra tại
phiên toà và không nghiên cứu các chứng cứ đó trước khi phiên toà diễn ra.
Các chứng cứ viết như biên bản của cảnh sát tư pháp đều không được công
nhận là chứng cứ [25,tr.3]. Tuy nhiên khi xem xét tố tụng tranh tụng các học
giả đều cho rằng trong tố tụng tranh tụng không có khái niệm “sự thật vụ án”
nguyên nghĩa mà chỉ là khái niệm sự thật trên các chứng cứ do các bên thu
thập. Phiên toà trong tố tụng tranh tụng thường diễn ra rất phức tạp, kéo dài vì
15
nhiều phiên toà cần phải thẩm vấn hàng trăm nhân chứng mà không có vấn đề
gì được khẳng định chắc chắn. Một trong những đặc trưng của tố tụng tranh
tụng là quy định Thẩm phán không được nghiên cứu hồ sơ vụ án trước. Quy
định này xuất phát từ quan điểm cho rằng Thẩm phán không phải là người có
trách nhiệm tìm ra sự thật mà chỉ là trọng tài, người phân sự xem bên nào có
sức thuyết phục hơn để tuyên bên đó thắng kiện. Muốn vậy, Thẩm phán phải
thật sự vô tư, không bị tác động của bất kỳ yếu tố nào của vụ án trước khi
nghe các bên trình bày và tranh luận tại phiên toà.
Ngược lại trong tố tụng thẩm vấn vai trò của Thẩm phán được đề cao.
Thẩm phán là người có trách nhiệm đi tìm sự thật của vụ án. Phiên toà không
phải là sự cạnh tranh của hai bên đối địch nhau mà là sự tiếp tục điều tra. Các
điều luật này thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi
biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn
diện và đầy đủ. Vì vậy, trong quá trình chuẩn bị xét xử, Thẩm phán cần phải
nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ. Khi luận giải về vấn đề này, có ý kiến
cho rằng Toà án vẫn thực hiện trách nhiệm xác định sự thật khách quan của
vụ án mà không cần phải nghiên cứu hồ sơ trước khi mở phiên toà. Toà án sẽ
xác định sự thật khách quan tại phiên toà, thông qua các hoạt động xét hỏi và
điều khiển phần tranh luận. Yêu cầu về trách nhiệm của Toà án theo quy định
tại Điều 11 được đảm bảo mà Thẩm phán không bị tác động của các yếu tố
của vụ án trước khi xét xử. Tuy nhiên, việc xác định sự thật khách quan của
vụ án tại phiên toà là hoạt động của rất nhiều chủ thể như Viện kiểm sát, Luật
sư, những người tham gia tố tụng khác và Toà án. Nhưng trong phiên toà vai
trò của Toà án rất quan trọng, không chỉ là người xác định sự thật của vụ án
mà còn là chủ thể đánh giá, quyết định cuối cùng về vụ án. Nếu Toà án (Thẩm
phán) chỉ nắm bắt được vụ án tại phiên toà liệu quyết định của Toà án có công
17
minh hay không. Vai trò xác định sự thật khách quan của vụ án của Toà án là
không đáng kể, bị động và thực chất Toà án chỉ là trọng tài, quyết định lý lẽ
thuộc về phía nào trong phiên toà.
Ngoài ra, việc Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ khi chuẩn bị xét xử còn do
bản chất của Nhà nước ta quy định. Theo Điều 3 Hiến pháp của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân,
vì dân. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân không phân chia chỉ có sự
phân công, phân nhiệm. Hệ thống tổ chức Nhà nước không có cơ cấu kiềm
chế quyền lực như ở một số nước tư bản cho nên Toà án không phải là một
nhánh quyền lực để cân bằng và kiềm chế các nhánh còn lại. Toà án là cơ
quan xét xử nhân danh Nhà nước, nhân danh nhân dân Việt Nam để bảo vệ
quyền và lợi ích của công dân, của xã hội.
Nội dung của chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo quy định của Luật tố tụng
mà trong đó Cơ quan điều tra là chủ thể chính. Nếu coi chuẩn bị xét xử là một
giai đoạn của tố tụng hình sự thì thấy rằng tuy chuẩn bị xét xử thoả mãn được
một vài yếu tố như chủ thể chính hay yếu tố có đặc điểm riêng nhưng không
thể coi đây là một giai đoạn tố tụng độc lập được. Bởi vì vấn đề đặc trưng
quan trọng phân biệt giai đoạn tố tụng tụng này và giai đoạn tố tụng khác là
quyết định tố tụng mấu chốt và mục đích độc lập của giai đoạn thì chuẩn bị
xét xử sơ thẩm không có. Mục đích của chuẩn bị xét xử không phải là mục
đích độc lập mà là một mục đích phái sinh, nhằm phục vụ cho mục đích lớn
hơn của cả giai đoạn này đó là xét xử tại phiên toà, phục vụ cho việc Hội
đồng xét xử ra bản án.
Tuy không phải là một giai đoạn độc lập nhưng chuẩn bị xét xử có một
vị trí quan trọng trong giai đoạn xét xử của Toà án bởi lẽ nếu không có chuẩn
bị xét xử thì việc xét xử công khai tại phiên toà sẽ khó khăn và việc tiến hành
19
phiên toà sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm có thể
coi là một tiểu giai đoạn trong giai đoạn lớn là xét xử của Toà án trong đó thời
điểm bắt đầu được tính khi vụ án được Toà án thụ lý và kết thúc khi phiên toà
được mở công khai.
Khi nghiên cứu vị trí của chuẩn bị xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự
chúng tôi có tham khảo thêm các quy định về vấn đề này trong các quy định
của pháp luật về tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng hành chính, tố tụng
lao động thấy rằng chuẩn bị xét xử sơ thẩm trong các lĩnh vực trên được coi là
một giai đoạn độc lập và là giai đoạn tố tụng tiền xét xử. Có sự khác biệt đó vì
khi giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Toà án được
phép tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ. Ngược lại, trong tố
tụng hình sự, hoạt động thu thập chứng cứ chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát thực hiện. Ngoài ra, do tính chất của vụ án khác nhau nên trong tố tụng
dân sự, kinh tế, hành chính, lao động, chuẩn bị xét xử sơ thẩm là một giai
đoạn tố tụng độc lập.
đích của chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chúng tôi cho rằng khái niệm chuẩn bị xét
xử sơ thẩm như sau:
“Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một khâu (tiểu giai đoạn) của
giai đoạn xét xử trong đó hoạt động tố tụng của các chủ thể mà chủ yếu là
Thẩm phán nhằm kiểm tra, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ mà cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát đã thu thập để ra các quyết định giải quyết vụ án; đảm
bảo tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bảo đảm lợi ích
của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng;
bảo đảm tiết kiệm thời gian và tiền bạc của Nhà nước, xã hội, công dân.”
2. Thông qua việc phân tích các yếu tố của khái niệm chuẩn bị xét xử sơ
thẩm có thể thấy chuẩn bị xét xử sơ thẩm có vai trò quan trọng, là một yếu tố
21
không thể thiếu trong các điều kiện để có được một phiên toà sơ thẩm thành
công.
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm tốt sẽ giúp cho Thẩm phán điều khiển phiên toà
có hiệu quả và đầy đủ. Vụ án sẽ được xem xét thấu đáo, toàn diện; bị cáo
được xét xử đúng hành vi, đúng tội và đúng pháp luật.
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm kỹ lưỡng giúp cho thời gian tiến hành phiên toà
sơ thẩm được rút ngắn, xét xử nhanh chóng nhưng không hời hợt, sơ lược,
đảm bảo tiết kiệm thời gian cho Toà án, Viện kiểm sát, Luật sư và bị cáo.
Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nước đang quan tâm đến vấn
đề cải cách tư pháp trong đó nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động tranh tụng
của Luật sư tại phiên toà thì việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm càng có ý nghĩa và
có vai trò quan trọng hơn. Thẩm phán, Kiểm sát viên cần chuẩn bị xét xử chu
đáo vì tại phiên toà Luật sư, người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo, cùng xem xét,
đánh giá sự thật khách quan của vụ án. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm tốt sẽ giúp
Thẩm phán thể hiện được năng lực, uy tín chuyên môn của mình.
1.2 Lịch sử phát triển của các quy định pháp luật tố tụng hình sự về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm trƣớc khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988
mới chỉ ở những điều rất đơn giản.
1.2.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1988
Năm 1960, Luật tổ chức toà án và Luật tổ chức Viện kiểm sát được ban
hành. Theo quy định tại Điều 1 Luật tổ chức toà án nhân dân 1960, Toà án
nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Toà
án nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn các Toà án cấp dưới áp dụng
pháp luật, đường lối, chính sách và thủ tục tố tụng trong việc xét xử. Đến năm
1964, căn cứ vào các quy định của pháp luật, những kinh nghiệm của gần 20
23
năm tiến hành tố tụng và việc tham khảo học tập pháp luật tố tụng của Liên
xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Toà án nhân dân tối cao đã hệ
thống lại các quy định của pháp luật tố tụng lúc bấy giờ thành Bản đề án về
trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trong đó có quy định tương đối cụ thể
về thủ tục và nội dung chuẩn bị xét xử sơ thẩm để hướng dẫn các Toà án địa
phương thống nhất áp dụng.
Tiếp theo ngày 27-9-1974 Toà án nhân dân tối cao ban hành Bản hướng
dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm (kèm theo thông tư 16 - TATC) trong đó có
phần ba quy định về trình tự tố tụng chuẩn bị cho việc xét xử tại phiên toà.
Trong phần ba này, Bản hướng dẫn đã quy định rất cụ thể về hoạt động tố
tụng của Toà án trong khâu nghiên cứu hồ sơ, họp trù bị với Viện kiểm sát,
những việc phải làm để đưa vụ án ra xét xử như: quyết định đưa vụ án ra xét
xử; triệu tập bị cáo và những người tham gia phiên toà; chuẩn bị kế hoạch
thẩm vấn; xử công khai hay xử kín [24,tr.121-132].
Ngày 28/6/1988 Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên được Quốc hội thông
qua. Quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm được ghi nhận trong Chương XVI,
Phần thứ Ba của Bộ luật tố tụng hình sự. Bộ luật này được sửa đổi, bổ sung
nhiều lần đặc biệt năm 2003 một Bộ luật tố tụng hình sự mới đã được Quốc
hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ tháng 1/7/2004. Việc nghiên cứu các
quy định này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở Chương 2.
những quyết định sau đây: Đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ điều tra bổ sung;
tạm đình chỉ vụ án; chuyển vụ án cho toà án có thẩm quyền; đình chỉ vụ án.
Đồng thời trước khi mở phiên toà, thẩm phán phải làm sáng tỏ vấn đề vụ
án có thuộc thẩm quyền xét xử của toà không; có căn cứ để đình chỉ hoặc tạm
25
đình chỉ vụ án không; chứng cứ đã thu thập đầy đủ chưa; bản cáo trạng có
được lập theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự không Nhìn chung
các quy định của luật tố tụng hình sự Liên bang Nga khá giống với các quy
định về chuẩn bị xét xử của Luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên trong
luật của Nga có một vài điểm khác, ví dụ: Điều 233 quy định về biện pháp
đảm bảo vụ kiện dân sự và tịch thu tài sản nhằm đảm bảo việc áp dụng các
biện pháp đảm bảo bồi thường thiệt hại vật chất do tội phạm gây ra; Điều 236
quy định về việc đảm bảo việc tìm hiểu hồ sơ vụ án cho bị can, bị cáo, người
bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
Pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà Pháp
Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hoà Pháp được ban hành năm 1957
và có hiệu lực thi hành vào năm 1958. Bộ luật có 803 điều, chia thành năm
quyển, trong đó quyển hai quy định về tổ chức, thẩm quyền của các cơ quan
xét xử hình sự và các thủ tục xét xử hình sự; xét xử tội đại hình tại Toà đại
hình, xét xử khinh tội tại Toà tiểu hình và xét xử vi cảnh tại Toà vi cảnh. Luật
tố tụng của Pháp không quy định thủ tục chuẩn cho các phiên tiểu hình hay vi
cảnh. Chương IV của Bộ luật quy định thủ tục chuẩn bị cho các phiên toà đại
hình bao gồm thủ tục bắt buộc và thủ tục không bắt buộc [3].
Thủ tục bắt buộc là các thủ tục giao cáo trạng, hỏi cung, kiểm tra căn
cước bị cáo; thông báo quyền chọn luật sư; luật sư được tiếp xúc hồ sơ vụ án
và có thể xin cấp hoặc xin sao hồ sơ vụ án; bị cáo, nguyên đơn dân sự được
cấp miễn phí bản sao các biên bản chứng nhận hành vi phạm tội, các bản ghi
lời khai của người làm chứng và các báo cáo giám định; Viện công tố phải
tống đạt cho bị cáo danh sách những người làm chứng, giám định viên (nếu