ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
…………
PHAN THỊ THU HIỀN
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
DÂN SỰ TRONG LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
…………
PHAN THỊ THU HIỀN
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
DÂN SỰ TRONG LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG ANH TUẤN
HÀ NỘI - 2016
CBXXSTVADS
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
HĐTP
Hội đồng thẩm phán
LSĐBS
Luật sửa đổi bổ sung
TAND
Tòa án nhân dân
VADS
Vụ án dân sự
VKS
Viện kiểm sát
iv
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Chương 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
2015.... ..................................................................................................................82
3.1. Những kiến nghị về lập pháp ........................................................................82
3.2. Những kiến nghị về hành pháp .....................................................................90
3.3. Kiến nghị về quản lý hành chính ..................................................................92
Tóm tắt chƣơng 3 .................................................................................................98
KẾT LUẬN .........................................................................................................99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................101
vi
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và
tuyên bố trƣớc Quốc dân và nhân dân thế giới ngày 2 tháng 9 năm 1945, Ngƣời
đã nhắc lại những tƣ tƣởng bảo vệ quyền công dân trong bản Tuyên ngôn Độc
lập của Mỹ năm 1776. Và bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp
năm 1789 và nhấn mạnh: “Đó là những lời bất hủ” là “lẽ phải không ai chối cãi
đƣợc”. Dựa trên những tƣ tƣởng đó Ngƣời khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên
thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do”.
Tƣ tƣởng đó của Ngƣời tiếp tục đƣợc thể hiện trong các văn bản pháp luật
do Nhà nƣớc ta ban hành. Theo Điều 14, Hiến pháp năm 2013 của nƣớc Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và
xã hội được công nhận, tôn trọng,bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và luật”.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng những quyền công dân đã đƣợc pháp luật nƣớc
Việt Nam tôn trọng và bảo vệ. Bên cạnh những quyền cơ bản của công dân nhƣ
giá đúng thực trạng và đề xuất những giải pháp mang tính khả thi là rất cần thiết.
Nhằm giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các quy định của giai đoạn
CBXXSTVADS và đánh giá những quy định mới trong BLTTDS 2015 về vấn
đề này. Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự trong Luật Tố tụng dân sự Việt Nam” làm đề tài đề tài luận
văn thạc sĩ luật học của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu
CBXXSTVADS có vai trò quan trọng trong chất lƣợng, hiệu quả của công
tác xét xử. Từ sau khi Hiến pháp năm 1946 ra đời, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật và ngày càng đầy đủ hơn theo
sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam với Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động và cho đến hiện nay chế định này
đƣợc quy định có hệ thống hơn, đầy đủ hơn trong LSĐBS BLTTDS 2011 và sắp
tới đây là BLTTDS 2015. Phân tích và nghiên cứu vấn đề trên đây đã có nhiều
công trình khoa học, nhiều luận văn, tài liệu, tạp chí, bài báo và các hội thảo
khoa học đã đề cập đến. Ví dụ:
- Nguyễn Triều Dƣơng (2005), “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Tạp
chí Luật học, số 5/2005, Hà Nội: Bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên
cứu thủ tục đình chỉ VADS, một trong số các quyết định ở quá trình
CBXXSTVADS. Nhƣ vậy bài viết có phạm vi nghiên cứu khá hẹp, chƣa bao
quát hết những quy định về CBXXSTVADS;
- Ths. Lê Thị Bích Lan (2005): “Vấn đề khởi kiện và thụ lý VADS”, Tạp
chí Luật học, Đặc san về BLTTDS: Tƣơng tự nhƣ tác giả Nguyễn Triều Dƣơng,
tác giả Lê Thị Bích Lan cũng nghiên cứu một hoạt động trong số nhiều hoạt
động của CBXXSTVADS là khởi kiện và thụ lý vụ án. Thời điểm bài viết đƣợc
3.2. Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở của mục đích nghiên cứu, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ
nghiên cứu những vấn đề lý luận của CBXXSTVADS, phân tích, đánh giá các
quy định của pháp luật tố tụng dân sự việt Nam hiện hành về CBXXSTVADS.
4
Các quy định đó đã hợp lý hay chƣa? Thiếu gì, sai sót nhƣ thế nào? Cần quy
định nhƣ thế nào cho hợp lý hơn? Và khảo sát thực tiễn thực hiện chúng tại Tòa
để xem xem với những quy định nhƣ vậy thì việc áp dụng có gặp phải khó khăn
hay thuận lợi gì? Hay Tòa án đã áp dụng đúng chế định?.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng là những vấn đề lý luận về CBXXSTVADS, các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự về CBXXSTVADS và thực tiễn thực hiện của Tòa án.
CBXXSTVADS là một đề tài có nhiều nghiên cứu, do giới hạn của luận văn thạc
sỹ, đề tài nghiên cứu phạm vi về một số vấn đề lý luận CBXXSTVADS nhƣ khái
niệm, đặc điểm, ý nghĩa của CBXXSTVADS. Các quy định của BLTTDS về
CBXXSTVADS và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án giải quyết các năm
gần đây trên phạm vi toàn quốc.
Pháp luật Tố tụng Dân sự Việt Nam hiện hành đang hiện hữu các quy định
về: Hoà giải và chuẩn bị xét xử sơ thẩm; Chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Nhƣ vậy,
chế định Hoà giải và chuẩn bị xét xử đƣơng nhiên đƣợc hiểu là chế định chuẩn bị
xét xử sơ thẩm, bởi lẽ việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm đã đƣợc tách bạch, và hoà
giải là một trong những thủ tục thƣờng phải làm trong quá trình chuẩn bị xét xử
sơ thẩm. Với cách tiếp cận này, tác giả xác định đối tƣợng nghiên cứu của luận
văn là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Với đề tài nghiên cứu đã chọn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các hoạt
động CBXXSTVADS của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án
cho đến khi ban hành quyết định đƣa vụ án ra xét xử.
đề tài tác giả nhƣ sau:
6
Một là: Đề tài lần này sẽ đi sâu và bao quát hơn các quy định về
CBXXSTVADS. Bên cạnh đó góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về
CBXXSTVADS;
Hai là: Bằng các số liệu thu thập từ Tòa án, các vụ án thực tế chứng minh,
đề tài đã phân tích và làm rõ thực trạng áp dụng quy định CBXXSTVADS;
Ba là: Đề tài cập nhật kịp thời thông tin, so sánh các quy định của
CBXXSTVADS trong quy định Luật sửa đổi bổ sung một số điều LSĐBS
BLTTDS 2011 với BLTTDS 2015 (có hiệu lực 1//7/2016);
Bốn là: Luận văn nêu bật đƣợc các ƣu điểm và hạn chế trong quá trình áp
dụng chế định. Trên cơ sở đó, luận văn xin đề xuất những giải pháp chủ yếu
mang tính khả thi nhằm hoàn thiện hơn quy định của BLTTDS về
CBXXSTVADS và khắc phục đƣợc những hạn chế cũng nhƣ nâng cao hơn nữa
hoạt động của TAND giai đoạn 2016 – 2020.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, khóa luận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự.
Chương 2: Thực trạng quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
7
Từ điển Luật học giải thích rằng, “xét xử” là “hoạt động do Toà án tiến
hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Toà án, sau khi nghiên cứu một cách
khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết và
xử lí vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định cần thiết có liên quan”. Còn
“sơ thẩm”, Từ điển Luật học định nghĩa “sơ” là mới; “thẩm” là xét.
Sơ
thẩm:“lần đầu tiên đưa ra xét xử vụ án tại một toà án có thẩm quyền” [41, tr33].
Sơ thẩm VADS là việc giải quyết VADS lần đầu của Tòa án. Ở cấp sơ thẩm có
thể trải qua các giai đoạn khác nhau, đầu tiên là giai đoạn khởi kiện và thụ lý
VADS. Trong giai đoạn này, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm và các chủ thể theo quy định của pháp luật có quyền khởi
kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác, lợi ích Nhà nƣớc, lợi
ích công cộng, thực hiện việc khởi kiện VADS để bảo vệ các quyền, lợi ích bị
xâm phạm. Tòa án sẽ chỉ thụ lý nếu các chủ thể khởi kiện tuân thủ đúng và đủ
các điều kiện về nội dung, hình thức khởi kiện mà pháp luật đã quy định và nộp
tiền tạm ứng án phí. Tiếp theo khởi kiện là thụ lý VADS. Việc xem xét, thụ lý
yêu cầu khởi kiện chính là sự bảo đảm của Nhà nƣớc đối với việc thực hiện các
quyền dân sự của các chủ thể đã đƣợc pháp luật ghi nhận. Trong giai đoạn
CBXXSTVADS Tòa án phải làm sáng tỏ yêu cầu của các đƣơng sự và những
tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án thông qua các chứng cứ, do
các đƣơng sự cung cấp hoặc thông qua các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
án để có thể đảm bảo cho việc giải quyết vụ án có căn cứ và chính xác. Sau đó,
Tòa án còn có trách nhiệm hòa giải để giúp đỡ các đƣơng sự thỏa thuận với nhau
giải quyết tranh chấp, trừ các trƣờng hợp không hòa giải đƣợc hoặc không đƣợc
hòa giải. Bên cạnh đó, Tòa án còn có thể ra các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ
giải quyết vụ án; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định
CBXXSTVADS gồm những công việc cụ thể do những ngƣời tiến hành tố tụng
và tham gia tố tụng tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với địa
vị tố tụng của họ để phục vụ trực tiếp cho thủ tục xét xử sơ thẩm.
Từ những phân tích trên, có thể đƣa ra định nghĩa về CBXXSTVADS
nhƣ sau: “CBXXSTVADS là toàn bộ hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm
tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, từ khi thụ lý vụ án đến quyết
định đưa vụ án ra xét xử, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét
xử sơ thẩm.”
Thực tiễn xét xử các VADS cho thấy để xét xử đƣợc VADS, cần chuẩn bị
các điều kiện cần thiết cho việc xét xử VADS. Theo quy định của pháp luật và
thực tiễn xét xử của Tòa án thì các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của Tòa án
bao gồm: Phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập
hồ sơ VADS và quyết định đƣa vụ án ra xét xử.
Mỗi giai đoạn, hoạt động đều có những ý nghĩa riêng, vậy hoạt động
CBXXSTVADS có những đặc điểm, ý nghĩa nhƣ thế nào so với các hoạt động
khác?
1.1.2. Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Thứ nhất, được bắt đầu từ khi toà án thụ lý VADS và kết thúc khi toà án
mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân s ự. CBXXST VADS sẽ đƣợc tính từ thời
điểm Toà án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi phiên tòa sơ thẩm diễn ra.
Thứ hai, là hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể do toà án
tiế n hành nhằ m chuẩn bi ̣ những điề u kiê ̣n cầ n thiế t c
ho viê ̣c xét xử sơ thẩm
VADS. Trƣớc khi phiên tòa diễn ra, đòi hỏi phải có giai đoạn chuẩn bị điều kiện
kỹ lƣỡng. Những điều kiện cần thiết ở đây gồm: phân công thẩm phán, hòa giải,
quyết định đƣa vụ án ra xét xử……
, kháng nghị nhanh
chóng, thuâ ̣n lơ ̣i.
1.1.3. Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Có thể nói, CBXXSTVADS là hoạt động rất quan trọng. Tuy không đƣa
ra những phán quyết nhƣ việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm nhƣng nó
tạo cơ sở, tiền đề, đảm bảo cho việc xét xử và ra các phán quyết của Toà án đƣợc
khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. CBXXSTVADS có những ý nghĩa sau:
- CBXXSTVADS giúp Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp,
từ đó giải quyết đƣợc đầy đủ và đúng các yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn và
những ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan.
12
Trên cơ sở yêu cầu của đƣơng sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh
chấp cần giải quyết VADS. Khi đã xác định đƣợc các quan hệ pháp luật tranh
chấp trong vụ án, Toà án có thể xác định đúng các chứng cứ, tài liệu làm rõ các
các quan hệ đó và yêu cầu đƣơng sự cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của
mình hoặc bác lại yêu cầu của đƣơng sự khác…Nếu cần phải thu thập bổ sung
chứng cứ thì Toà án sẽ thu thập theo yêu cầu của đƣơng sự, theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự để hoàn thiện hồ sơ vụ án.
Trên cơ sở xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, Tòa án sẽ triệu tập
đƣợc đầy đủ những ngƣời tham gia tố tụng đến tham gia tố tụng. Nếu xác định
thiếu đƣơng sự trong vụ án sẽ ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ,
đồng thời việc giải quyết vụ án sẽ thiếu toàn diện, thiếu chính xác.
-
CBXXSTVADS giúp Tòa án tiến hành các công việc cần thiết để
những phán quyết nhƣ giai đoạn xét xử phúc, giám đốc thẩm hay tái thẩm nhƣng
nó làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các phán
quyết của toà án đƣợc khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.
1.1.4. Cơ sở khoa học của việc quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự
Giai đoạn CBXXSTVADS đƣợc tiến hành dựa trên ý nghĩa quan trọng
của giai đoạn CBXXSTVADS. Đồng thời, các công việc cần thực hiện khi tiến
hành giai đoạn CBXXSTVADS nhƣ phân công thẩm phán giải quyết vụ án; lập
hồ sơ vụ án dân sự và quyết định đƣa vụ án ra xét xử,....còn đƣợc thực hiện dựa
trên những nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đƣơng sự. Ví dụ: nhƣ
khi lập hồ sơ vụ án, cần đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh
trong tố tụng dân sự; Tòa án chỉ có thể giải quyết một cách chính xác và công
14
bằng khi có đầy đủ các chứng cứ và các tình tiết của VADS đã đƣợc làm sáng tỏ.
Ngoài ra, việc tiến hành giai đoạn CBXXSTVADS dựa trên cơ sở bảo đảm pháp
chế xã hội chủ nghĩa; đồng thời đảm bảo sự bình đảng giữa các bên đƣơng sự.
1.2. Những điểm khác biệt tích cực về chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo
pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới
1.2.1. Pháp luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp
- Về tiền xét xử:
Theo pháp luật tố tụng dân sự của Pháp thì việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm
có vai trò rất quan trọng nên có quy định khi kết thúc giai đoạn này, Thẩm phán
tổ chức phiên họp sơ bộ hay phiên họp “tiền xét xử” để các đƣơng sự thảo luận
yêu cầu của họ và những vấn đề xung quanh vụ án. Các đƣơng sự có quyền yêu
cầu trao đổi chứng cứ và các vấn đề khác. Phiên họp này giúp cho Thẩm phán
xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án, giúp các bên chuẩn bị tốt hơn cho quá trình
tranh luận tại tòa.
Pháp quy định: Tòa án sẽ thông báo và gửi giấy triệu tập đến các đƣơng sự, trong
giấy triệu tập phải ghi rõ các đƣơng sự phải đích thân có mặt tại phiên hòa giải.
Nếu hòa giải thành thì Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành và biên bản
đó có hiệu lực thi hành ngay. Nếu hòa giải không thành thì Thẩm phán giao cho
nguyên đơn một phiếu hòa giải không thành, trừ trƣờng hợp các bên các đƣơng
sự thỏa thuận là việc kiện đƣợc xét xử ngay.
+ Thủ tục hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm:
Thẩm phán sẽ cố gắng hòa giải các đƣơng sự trƣớc khi mở phiên tòa sơ
thẩm. Việc hòa giải có thể đƣợc tiến hành trong phòng làm việc của Thẩm phán.
16
Nếu hòa giải không thành, việc kiện có thể đƣợc xử ngay hoặc để một phiên tòa
sau (Điều 840 BLTTDS Pháp).
Ở cấp phúc thẩm, việc hòa giải vẫn đƣợc tiến hành theo trình tự nhƣ ở cấp
sơ thẩm nhƣng đặt dƣới sự giám sát của một Thẩm phán của tòa đƣợc phân công
xét xử phúc thẩm.
1.2.2. Pháp luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga
- Về hình thức khởi kiện:
Ngoài cá nhân, cơ quan, tổ chức thì Viện kiểm sát (VKS) có quyền khởi
kiện VVDS để bảo vệ lợi ích Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga. [ 39, tr499]
Ở Việt Nam thì VKS không có quyền khởi kiện, mà VKS có chức năng
giám sát việc tuân theo pháp luật. Quyền khởi kiện chỉ dành cho cá nhân, cơ
quan, tổ chức.
- Về tiền xét xử:
Cũng giống nhƣ pháp luật tố tụng dân sự của Pháp, pháp luật tố tụng dân
sự Nga coi trọng việc chuẩn bị xét xử sơ thẩ. Thẩm phán tổ chức phiên họp sơ bộ
hay phiên họp “tiền xét xử” để các đƣơng sự thảo luận yêu cầu của họ và những
vấn đề xung quanh vụ án. Các đƣơng sự có quyền yêu cầu trao đổi chứng cứ và
tốn” hơn rất nhiều so với pháp luật tố tụng dân sự Hợp chúng quốc Hoa Kỳ:
“Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc thông báo, ngƣời đƣợc thông báo
phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của ngƣời khởi
kiện…”
- Về căn cứ xét xử, căn cứ quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc:
18
Trong quá trình nhận đơn nếu đơn khởi kiện không hợp lệ, vụ việc không
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; việc giải quyết vụ việc đó chƣa đƣợc
quy định trong luật; thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ việc.
Theo Điều 168 LSĐBS BLTTDS 2011 Việt Nam, thì các vấn đề: đơn khởi
kiện không hợp lệ, vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là căn
cứ để trả lại đơn khởi kiện chứ không giống quy định của Pháp luật Tố tụng dân
sự Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
1.2.5. Pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản
Về thủ tục hòa giải trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Nhật bản có truyền thống lâu đời về giải quyết tranh chấp bằng phƣơng
pháp thỏa thuận. Tranh tụng mới chỉ đƣợc biết đến khi đƣợc du nhập từ các
nƣớc phƣơng Tây vào những năm đầu thế kỷ XIX.
- Chủ thể tiến hành hòa giải:
Hòa giải trong pháp luật của Nhật đƣợc thực hiện thông qua một Hội
đồng hòa giải. Hội đồng này thƣờng bao gồm một Thẩm phán và hai hòa giải
viên trở lên. Các hòa giải viên này thƣờng là những ngƣời có chuyên môn trong
lĩnh vực mà các bên tranh chấp. Điều này sẽ giúp cho hiệu quả hòa giải đƣợc
cao hơn bởi hòa giải tranh chấp trong những lĩnh vực mang tính chất đặc thù
nhƣ tranh chấp thƣơng mại hoặc tranh chấp xây dựng thì Thẩm phán thƣờng
không có kiến thức chuyên sâu. Do vậy, việc tham gia của những ngƣời có