Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự - Pdf 53

Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2

LỜI MỞ ĐẦU
Công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng của công tác xét xử. Hiện nay chuẩn bị xét xử sơ thẩm được quy định đầy đủ
và có hệ thống hơn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và được hướng dẫn trong
các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán. Trên thực tế, việc thực hiện tốt các quy định
của pháp luật hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm đã góp phần thiết thực vào việc
nâng cao hiệu quả của xét xử sơ thẩm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá
nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, bài viết
dưới đây sẽ tìm hiểu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và qua đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả của công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VN

1


Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2

MỤC LỤC
Trang

MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VN

2


Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2


phải bất kỳ VADS nào toà án cũng phải tiến hành hoà giải, các vụ án thuộc trường hợp
những VADS không được hoà giải (Điều 181 BLTTDS) và những VADS không tiến hành
hoà giải được (Điều 182 BLTTDS) thì toà án không tiến hành hoà giải.
- Có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác: trong quá trình chuẩn bị
xét xử toà án sẽ nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết. Việc chuẩn bị xét
xử có liên quan mật thiết đến phiên toà sơ thẩm và hoạt động tố tụng của toà án sau này.
Nếu việc chuẩn bị xét xử mà tốt thì phiên toà sơ thẩm diễn ra mới được thuận lợi, hạn chế
tình trạng hoãn phiên toà do các yếu tố chủ quan cũng như hạn chế tình trạng xét lại bản
MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VN

3


Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2

án quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp
luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, chuẩn bị xét xử một cách đầy
đủ cũng giúp cho toà án cấp phúc thẩm giải quyết các kháng cáo, kháng nghị nhanh
chóng, thuận lợi.

3. Ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng dân
sự. Đây là giai đoạn tố tụng dân sự quan trọng, trong đó, Toà án xác định đúng quan hệ
pháp luật tranh chấp, từ đó xác định được đầy đủ nguyên đơn, bị đơn, những người có
quyền và nghĩa vụ liên quan. Khi đã xác định được các đương sự trong vụ án, Toà án có
thể yêu cầu họ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác lại
yêu cầu của đương sự khác…Nếu cần phải bổ sung chứng cứ thì Toà án sẽ thu thập theo
quy định của pháp luật tố tụng dân sự để hoàn thiện hồ sơ vụ án.
 Việc thu thập, xác minh chứng cứ đầy đủ sẽ đảm bảo tính khách quan, chính
xác, bảo vệ đúng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm. Nếu xác định thiếu

xét xử sơ thẩm còn dựa trên cơ sở đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa ; đồng thời đảm
bảo sự bình đẳng giữa các bên đương sự.
II. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ

thẩm vụ án dân sự
1. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án vào số thụ lý vụ án đến ngày
Toà án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tùy theo tính chất của từng loại vụ án
mà thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định khác nhau. Quy định này là sự kế thừa các
quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
Theo quy định tại Điều 179 BLTTDS 2004, thì tuỳ từng loại vụ án mà thời hạn
chuẩn bị xét xử được quy định khác nhau, cụ thể như sau:
- Đối với các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (được quy định tại Điều 25 và
Điều 27 BLTTDS) là 4 tháng, kể từ ngày thụ lý. Vì những vụ án này thường có tính chất
phức tạp nên nhà làm luật quy định thời hạn chuẩn bị xét xử tương đối dài.
- Đối với những vụ án kinh doanh, thương mại và lao động (được quy định tại
Điều 29 và 31 BLTTDS) là 2 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. BLTTDS 2004 quy định
như vậy là vì những vụ án trên phát sinh từ các quan hệ rất nhạy cảm, đòi hỏi phải giải
quyết kịp thời.
- Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án
TA có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 2 tháng đối với
vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 BLTTDS và 1
tháng đối với vụ án kinh doanh, thương mại và lao động quy định tại Điều 29 và Điều
31 BLTTDS.
Theo Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP thì:
“Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên
quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau
cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc
tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức
tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt

hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 2 tháng.
2. Các công việc chuẩn bị xét xử
Từ khi thu lý vụ án dân sự, Toà án chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm
của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự. Nếu hòa giải không thành, Toà án phải
củng cố hoàn thiện hồ sơ vụ án để đưa vụ án ra xét xử ở tại phiên tòa. Các hoạt động
này của Toà án được gọi là chuẩn bị xét xử. Các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của
Toà án bao gồm: phân công Thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án;
lập hồ sơ vụ án; quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập những người tham gia tố
tụng đến tham gia phiên tòa hoặc quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ
án, quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
a. Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án
Vì Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng, cho nên, trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử, Thẩm phán có thẩm quyền đã thụ lý vụ án phải phân công một Thẩm phán phụ trách
giải quyết vụ án. Việc phân công này là cơ sở để Thẩm phán toàn tâm toàn ý với vụ án
đã được giao, để Thẩm phán thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại
Điều 41 BLTTDS, đảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật.
Theo quy định tại Điều 172 BLTTDS thì: “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ
ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án.Trong
quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành
được nhiệm vụ thì Chánh án Toà án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ;
trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử
lại từ đầu”.
MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VN

6


Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2

b. Thông báo việc thụ lý vụ án

• Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;
Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau và nếu
được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác
và nhanh hơn.

MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VN

7


Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2

Quy định tại Điều 176 BLTTDS nói trên được hướng dẫn tại Khoản 11 Mục II NQ
02/2006 như sau:
- Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu yêu cầu đó độc
lập, không cùng về yêu cầu mà nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp bị
đơn có yêu cầu cùng về yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Toà án không chấp nhận
yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn), thì đây
là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn.
- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn là trường hợp
bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn và nguyên đơn cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn;
do đó, bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo
yêu cầu của nguyên đơn.
- Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu của nguyên đơn là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên
đơn và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu của nguyên đơn vì không có căn cứ.
- Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn là
trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng



Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2

tài liệu có trong hồ sơ vụ án phải được sắp xếp theo thứ tự nhất định để thuận tiện cho
việc nghiên cứu, sử dụng và phải có danh mục ghi lại các tài liệu trong hồ sơ vụ án.
Trong tố tụng dân sự, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh
cho yêu cầu của mình. Tuy vậy, trong những trường hợp đương sự không thể tự mình
thu thập được chứng cứ để cung cấp cho TA và có yêu cầu thì TA có thể áp dụng các
biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật quy định để bảo đảm cho việc giải quyết vụ
án dân sự được đúng đắn. Việc thu thập chứng cứ của TA được thực hiện theo quy định
tại các điều, từ Điều 85 đến 94 BLTTDS.
d. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Khi việc hòa giải vụ án không đạt được kết quả và không có căn cứ để tạm đình chỉ
hoặc đình chỉ giải quyết vụ án thì Toà án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thẩm
phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết định này. Quyết định này
phải có các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 195 BLTTDS và phải gửi cho các
đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định. Trong trường hợp Viện
kiểm sát tham gia phiên tòa đối với những vụ án do TA thu thập chứng cứ mà đương sự
có khiếu nại thì TA phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ
cho TA.
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, TA làm giấy triệu tập những người
tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa. Trường hợp nhận được yêu cầu thay đổi những
người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trước khi mở phiên tòa thì tùy từng
trường hợp Chánh án TA hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ xem xét ra quyết định.
III. Một số nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành nhằm

nâng cao hiệu quả của công tác chuẩn bị xét xử
1. Những ưu điểm của pháp luật hiện hành quy định về công tác chuẩn bị xét xử

pháp luật có tranh chấp…Việc pháp luật quy định một cách cụ thể cách thức ghi vào sổ
thụ lý như vậy đã giúp các thẩm phán và các cán bộ TA dễ dàng áp dụng và thống nhất.
Thứ ba, pháp luật hiện hành đã có quy định khá rõ ràng, phù hợp với xu thế chung
của thế giới về vấn đề thông báo việc thụ lý vụ án dân sự quy định tại Điều 174, BLTTDS
cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và VKS cùng cấp.
Việc thông báo này đã giúp cho các đương sự nắm bắt được quá trình giải quyết vụ án và
có các biện pháp để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của mình. VKS là cơ quan kiểm sát
việc tuân theo pháp luật, do đó, nếu được thông báo đầy đủ quá trình giải quyết vụ án dân
sự ngay từ giai đoạn đầu tiên thụ lý vụ án dân sự thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho VKS
thực hiện tốt chức năng của mình, đảm bảo quá trình giải quyết VADS diễn ra theo đúng
quy định của pháp luật.
Thứ tư, hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự. Mục đích của việc
pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án phải hòa giải vụ án dân sự trước khi Tòa án
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đã thể hiện quan điểm rõ ràng của Nhà nước về việc đa
dạng hình thức giải quyết tranh chấp dân sự. Bằng các quy định được đưa ra trong Luật
và hướng dẫn thi hành kỹ lưỡng trong Nghị quyết, pháp luật tố tụng dân sự đã giúp các
bên đương sự nhận thức rõ được tầm quan trọng của hòa giải trong vụ tranh chấp của
họ, giúp tiết kiệm thời gian, tiền của các bên và Nhà nước, giúp đương sự hàn gắn các
rạn nứt giữa họ mà không mất đi hòa khí sau tranh chấp. Điều này cũng tạp thuận lợi
cho việc góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân và tạo thuận lợi cho việc giải quyết
vụ án dân sự và thi hành án dân sự.

MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VN

10


Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2

2

cùng lúc với việc nộp văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện. Việc hạn
chế này là chưa hợp lý bởi sự hạn chế này là không phù hợp với nguyên tắc các đương sự
được bình đẳng khi tham gia tố tụng do nguyên đơn được quyền thay đổi, bổ sung yêu
cầu trong khi bị đơn lại không được quyền đưa ra yêu cầu phản tố để được Tòa án xem
xét trong cùng một vụ án như nguyên đơn. Hơn nữa, nếu buộc bị đơn phải khởi kiện để
Tòa án xem xét yêu cầu của họ thay vì chấp nhận quyền phản tố của bị đơn do không đưa
ra yêu cầu phản tố trong thời gian quy định trên, thì sẽ tốn nhiều công sức, thời gian do
MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VN

11


Bài tập nhóm tháng 2 – Nhóm 03 – Lớp N03.TL2

phải giải quyết hai vụ án trong khi hoàn toàn có thể giải quyết các yêu cầu của bị đơn
trong cùng một vụ án. Do vậy, để tránh những vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ
án, cần sửa đổi Điều 176, 177 BL TTDS theo hướng quy định cụ thể thời điểm đưa ra yêu
cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, có
thể cho phép bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố. người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đưa
ra yêu cầu độc lập trong suốt quá trình giải quyết vụ án, trước khi Tòa án ra phán quyết
nếu yêu cầu đó không có nguy cơ làm chậm việc giải quyết vụ án.
Thứ tư, trong quá trình hòa giải, có quy định về trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt
thì không tiến hành hòa giải được (căn cứ theo Điều 182 BL TTDS). Nhưng lại chưa có
quy định cụ thể về “cố tình vắng mặt” là như thế nào. Mặt khác, quy định hiện hành cũng
mới chỉ dừng ở việc quy định về trường hợp đương sự là bị đơn vắng mặt mà chưa có quy
định cụ thể về trường hợp đương sự là nguyên đơn vắng mặt trong buổi hòa giải đến lần
thứ hai. Điều này sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc quyết định tiến hành bước tiếp
theo trong việc giải quyết vụ án sơ thẩm. Vì vậy, đối với trường hợp vắng mặt của nguyên
đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nhất là với những vụ án có nhiều
đương sự, cần được quy định theo hướng giúp vụ việc có thể nhanh chóng được giải

định đó phải được gửi tới các đương sự liên quan.
Một số kiến nghị khác
Cần tiếp tục nâng câo trình độ chuyên môn của các bộ ngành tòa án và viện
kiểm sát. Đặc biệt là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thẩm phán vì thẩm phán là
người đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Cần phải đẩy mạnh việc đào tạo, đào tại lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho thẩm
phán, cán bộ tư pháp về mặt chính trị, pháp luật nghiệp vụ xét xử và các kiến thức bổ
trợ khác như : kinh tế, xã hội, ngoại ngữ, tin học…
Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ cán bộ trong
ngành tòa án, viện kiểm sát nhằm hạn chế tình trạng tiêu cực, nâng cao chất lượng giải
quyết vụ án.
Tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc cho các tòa án
giúp cho tòa án có những điều kiện tốt hơn trong công tác chuẩn bị xét xử.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến pháp luật nhằm nâng cao
ý thức pháp luật trong nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động chuẩn bị xét xửu của tòa
án được tiến hành thuận lợi hơn.

KẾT LUẬN
Cùng với nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
thì các tranh chấp dân sự phát sinh càng nhiều với tính chất đa dạng và phức tạp. Để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, cũng như tạo điều kiện ổn định phát triển
kinh tế, xã hội; các tranh chấp đó cần được giải quyết kịp thời, đúng đắn. Do đó, việc
sửa đổi, bổ sung BLTTDS và tiến hành các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động tư pháp nói chung và hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm nói riêng là điều cần thiết
để đảm bảo lợi ích của mỗi cá nhân,bảo vệ lợi ích quốc gia trong quá trình hội nhập, kế
thừa các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành và bảo đảm tính thống nhất, đồng
bộ, minh bạch, khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật.

MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status