Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN NHƯ THẮNG
KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của

1.1.3. Khái niệm kháng nghị tái thẩm 13
1.2. Đặc điểm của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 14
1.3. Mục đích, ý nghĩa của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 20
1.3.1. Mục đích của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 20
3.1.2. Ý nghĩa của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 21
1.4. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật TTHS
Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm từ năm
1945 đến nay 22
1.4.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi
ban hành BLTTHS Việt Nam năm 1988 22
1.4.2. Quy định của BLTTHS Việt Nam năm 1988 và năm 2003 về
kháng nghị giám đốc thẩm 24
1.4.3. Quy định của BLTTHS Việt Nam năm 1988 và năm 2003 về
kháng nghị tái thẩm 28
1.5. Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong luật TTHS một số
nước trên thế giới 30
1.5.1. BLTTHS Liên bang Nga 30
1.5.2. Luật TTHS nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 34
1.5.3. BLTTHS Cộng hòa Liên bang Đức 36
Kết luận chương 1 41
Chương 2: KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
THEO QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS NĂM 2003 VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH 42
2.1. Quy định của BLTTHS về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 42
2.1.1. Kháng nghị giám đốc thẩm 42
2.1.2. Kháng nghị tái thẩm 68
2.2. Thực tiễn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 78
2.2.1. Kết quả đạt được trong kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 78
2.2.2. Một số tồn tại trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 83
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại trên 87

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
HLPL : Hiệu lực pháp luật
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TAQS: Tòa án quân sự
TTHS : Tố tụng hình sự
VKS: Viện kiểm sát
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
VKSQS: Viện kiểm sát quân sự
XHCN: Xã hội chủ nghĩa

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Số lượng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Chánh án
Tòa án và Viện trưởng VKS các cấp đã được giải quyết 80
Bảng 2.2. Tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm giữa Chánh án
Tòa án và Viện trưởng VKS các cấp 81
Bảng 2.3. Kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án Tòa án các cấp 82
Bảng 2.4. Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng VKS các cấp 83 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN và
công cuộc cải cách tư pháp hiện nay thì việc phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm,
phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt

biệt quan trọng nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được đúng quy định
của pháp luật, đảm bảo pháp chế XHCN.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, công tác kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm vẫn còn nhiều hạn chế như: chất lượng kháng nghị chưa cao,
điều này thể hiện ở một số bản kháng nghị không nêu được căn cứ kháng
nghị, dẫn đến phải rút kháng nghị hoặc không được Hội đồng giám đốc thẩm,
tái thẩm chấp nhận; nhiều trường hợp phát hiện căn cứ kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm chưa kịp thời nên không còn thời hạn kháng nghị; việc kiểm
tra bản án, quyết định đã có HLPL, cũng như việc giải quyết đơn đề nghị
giám đốc thẩm, tái thẩm chưa triệt để nên số lượng vụ án có kháng nghị giám
đốc thẩm, tái thẩm còn quá ít… Một trong những nguyên nhân của tình trạng
trên là do nhiều quy định của BLTTHS liên quan đến kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm chưa thật sự phù hợp, chưa cụ thể và rõ ràng, như các quy định
về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; đối tượng kháng nghị; thời
hạn kháng nghị; bổ sung kháng nghị, rút kháng nghị; hệ quả của kháng
nghị… nhưng lại chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, nên trong
quá trình áp dụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Mặt khác, trình độ,
năng lực của một số cán bộ làm công tác giám đốc thẩm, tái thẩm có phần hạn
chế, cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động kháng nghị nói trên.
Vì thế, việc nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận và các quy định của
pháp luật TTHS về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; chỉ ra những hạn

3
chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của những hạn chế
đó, từ đó đề ra những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của
pháp luật TTHS về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, là một yêu cầu cấp
thiết trong tình hình hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu các quy định của BLTTHS về
kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đã được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên

nghị theo thủ tục tái thẩm trong BLTTHS năm 2003”, Tạp chí Luật học, số 10
năm 2006 [26]; Lê Kim Quế, “Một số vấn đề về giám đốc thẩm hình sự”, Tạp
chí TAND, số 14 năm 2006 [40]; Nguyễn Văn Trượng, “Thực trạng thi hành
quy định của BLTTHS về phạm vi giám đốc thẩm và những vấn đề cần hoàn
thiện”, Tạp chí TAND, số 7 năm 2011 [72]; Đinh Văn Quế, “Vấn đề kháng
nghị giám đốc thẩm về “dân sự” trong vụ án hình sự”, Tạp chí TAND, số 9
năm 2005 [36]; Đinh Văn Quế, “Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo
BLTTHS năm 2003”, Tạp chí TAND, số 22 năm 2004 [35]
Qua nội dung các công trình nghiên cứu, các bài viết cũng như các giáo
trình giảng dạy nêu trên cho thấy: các tác giả đã nghiên cứu những vấn đề cơ
bản về giám đốc thẩm, tái thẩm và có những kiến nghị, đề xuất có giá trị về mặt
lý luận và thực tiễn. Nhưng một số công trình có phạm vi nghiên cứu quá rộng,
ngược lại một số công trình chỉ nghiên cứu một số khía cạnh nhất định liên
quan đến kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong TTHS. Chẳng hạn, luận án
Tiến sĩ của tác giả Phan Thị Thanh Mai, luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn
Văn Trượng đã nghiên cứu chuyên sâu về lý luận giám đốc thẩm, nhưng không
nghiên cứu về kháng nghị tái thẩm, đề cập rất ít đến thực tiễn kháng nghị giám
đốc thẩm và chủ yếu xem xét đánh giá pháp luật để kiến nghị một số giải pháp
nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về giám đốc thẩm. Ngược lại, đề tài cấp
Bộ “Nâng cao hiệu quả công tác giám đốc việc xét xử các vụ án hình sự” của

5
TANDTC do Ths. Đinh Văn Quế chủ biên và các công trình nghiên cứu khác
của tác giả này đều mang tính ứng dụng cao, nhưng lại đề cập rất ít về mặt lý
luận, mà chủ yếu là giải thích pháp luật, liên hệ những quy định của pháp luật
với thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án, Viện kiểm sát trong công tác giám
đốc thẩm, tái thẩm từ đó đưa ra một số đề xuất, giải pháp để hoàn thiện các quy
định của pháp luật về giám đốc thẩm, tái thẩm. Một số công trình khoa học
khác chỉ nghiên cứu trên phạm vi hẹp, đã làm sáng tỏ phần nào về mặt lý luận
cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến kháng nghị giám đốc thẩm,

Để đạt được mục đích trên, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên
cứu của đề tài là các quy định của BLTTHS Việt Nam năm 2003 về kháng
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và thực tiễn công tác kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của
Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích, so
sánh, tổng hợp; phương pháp thống kê hình sự; nghiên cứu thực tiễn công tác
kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để làm luận chứng cho các vấn đề khoa
học cần nghiên cứu trong luận văn. Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn,
tác giả có nghiên cứu, tham khảo các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật
liên quan đến phạm vi đề tài; tiếp thu có chọn lọc kết quả của các công trình
đã công bố, tổng kết, đánh giá của các cơ quan chuyên môn và ý kiến của các
chuyên gia có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong luận văn.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện về lý
luận kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong khoa học luật TTHS Việt Nam

7
như: làm rõ khái niệm kháng nghị tố tụng, đặc biệt là khái niệm kháng nghị
giám đốc thẩm và kháng nghị tái thẩm; phân tích khái quát lịch sử hình thành
và phát triển các quy định pháp luật TTHS về kháng nghị giám đốc thẩm, tái
thẩm từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay; làm sáng tỏ các quy
định của BLTTHS năm 2003 về căn cứ kháng nghị, thẩm quyền, thời hạn, hệ
quả pháp lý của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; phân tích thực tiễn
công tác kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm để đánh giá. Qua đó chỉ ra
những mâu thuẫn, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành; những
hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như chỉ ra

định của pháp luật. Vì thế, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người bị
kết án và những người tham gia tố tụng khác, BLTTHS có những quy định về
trình tự, thủ tục xem xét lại các bản án, quyết định đã có HLPL.
Luật TTHS các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đều quy định thủ
tục xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL. Nhưng khác với
luật TTHS đa số các nước trên thế giới chỉ quy định một thủ tục xem xét lại
bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL, đó là thủ tục tái thẩm (như Đức
[80], Hàn Quốc, Na Uy [Dẫn theo 30, tr.15] ) hoặc thủ tục giám đốc thẩm
(như Trung Quốc [82], Đan Mạch [Dẫn theo 30, tr.15] ); luật TTHS Việt
Nam lại quy định hai thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có HLPL là thủ tục
giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm. Thủ tục giám đốc thẩm là thủ tục tố tụng
đặc biệt, để xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL nhưng bị kháng nghị
vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. Thủ
tục tái thẩm cũng xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL, nhưng bị kháng

9
nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội
dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án
hoặc quyết định đó [48, Điều 272 và 290].
Hiện nay, trong nghiên cứu khoa học pháp lý và trong thực tiễn áp dụng
pháp luật còn có các quan điểm khác nhau về khái niệm giám đốc thẩm như:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, giám đốc thẩm là một giai đoạn TTHS,
trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án mà bản án đã có HLPL về vụ
án đó bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án,
nhằm khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới, bảo đảm cho việc áp dụng
thống nhất pháp luật [70, tr.23].
Quan điểm thứ hai cho rằng, giám đốc thẩm là hình thức đặc thù để kiểm
tra tính hợp hiến và hợp pháp của các quyết định, bản án của Tòa án [76, tr.734].
Quan điểm thứ ba cho rằng, giám đốc thẩm trong TTHS là thủ tục do
Tòa án có thẩm quyền xét lại những bản án hoặc quyết định hình sự đã có

chức xã hội và mọi công dân; kiểm tra, phát hiện các vi phạm pháp luật trong
hoạt động xét xử để sửa chữa, khắc phục kịp thời; kháng nghị bản án, quyết
định đã có HLPL theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; xét xử giám đốc thẩm,
tái thẩm và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử. Do
đó, giám đốc thẩm chỉ là một hoạt động của công tác giám đốc việc xét xử và
có phạm vi hẹp hơn giám đốc việc xét xử.
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của
BLTTHS về giám đốc thẩm, tái thẩm, chúng tôi cho rằng: Giám đốc thẩm, tái
thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có
HLPL, nhưng bị người có thẩm quyền kháng nghị vì phát hiện có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án hoặc có tình tiết mới có thể làm
thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã có HLPL mà Tòa án
không biết được khi ra bản án, quyết định đó, nhằm đảm bảo cho việc giải
quyết vụ án được đúng quy định của pháp luật.

11
Như vậy, để giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì
trước hết phải có kháng nghị của người có thẩm quyền, được ban hành theo
một trình tự, thủ tục chặt chẽ, trên cơ sở căn cứ do BLTTHS quy định. Văn
bản kháng nghị phải có những lập luận, đánh giá về các tình tiết của vụ án
và phải chỉ ra được sai lầm trong áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm,
Tòa án cấp phúc thẩm; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án hoặc có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ
bản nội dung của bản án, quyết định đã có HLPL. Đây là văn bản tố tụng
mang tính chất pháp lý và là cơ sở để xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm.
1.1.1. Khái niệm kháng nghị tố tụng
Theo quan niệm chung nhất được ghi nhận trong Từ điển tiếng Việt của Nhà
xuất bản Từ điển Bách Khoa thì “Kháng nghị là tỏ lòng phản đối” [73, tr.569].
Trong TTHS thì khái niệm kháng nghị gắn liền với việc ra bản án và

Để giám đốc thẩm một vụ án hình sự có nhiều hoạt động tố tụng như
phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL,
kháng nghị giám đốc thẩm, tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị
kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm Trong đó, kháng nghị giám đốc thẩm là
hoạt động quan trọng nhất, vì không có kháng nghị giám đốc thẩm thì cũng
không có thủ tục giám đốc thẩm.
Theo quy định của BLTTHS Việt Nam thì kháng nghị giám đốc thẩm
thuộc thẩm quyền của cả Chánh án Tòa án và Viện trưởng VKS, nhằm khắc
phục những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong các bản án hoặc quyết định
đã có HLPL, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống
nhất, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và công dân.
Phạm vi của kháng nghị giám đốc thẩm có thể là kháng nghị toàn bộ hoặc

13
một phần bản án hoặc quyết định có HLPL và việc kháng nghị giám đốc thẩm
phải còn thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 278 BLTTHS.
Khi nghiên cứu về kháng nghị giám đốc thẩm, Ths. Đinh Văn Quế cho
rằng “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là quyết định của người có
thẩm quyền đối với một phần hoặc toàn bộ bản án hay quyết định đã có
HLPL để Tòa án có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm” [41, tr.318]. Quan
điểm này đã nêu được một cách khái quát về kháng nghị giám đốc thẩm,
nhưng chưa phản ánh đầy đủ, chính xác các dấu hiệu đặc trưng của kháng
nghị giám đốc thẩm, như về hình thức kháng nghị; căn cứ kháng nghị và mục
đích của kháng nghị giám đốc thẩm.
Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng: Kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm về hình sự là một quyền năng mang tính đặc thù của Tòa án và
VKS, do người có thẩm quyền thực hiện bằng một văn bản pháp lý, trong đó
nêu rõ lý do của việc kháng nghị và đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm xét lại
bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL, nhưng có vi phạm nghiêm trọng
về thủ tục tố tụng hoặc vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật,

bản án hoặc quyết định này, nhằm làm cho việc giải quyết vụ án được đúng
quy định của pháp luật.
1.2. Đặc điểm của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
(1). Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bao giờ cũng được thể hiện
bằng văn bản
Khác với quy định tại khoản 2 Điều 233 BLTTHS về việc kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm phải được thể hiện bằng văn bản, BLTTHS lại không
quy định về hình thức của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo tinh
thần của quy định tại Điều 277 BLTTHS “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm phải nêu rõ lý do và được gửi cho Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định

15
bị kháng nghị, Tòa án sẽ xét xử giám đốc thẩm, người bị kết án ” [48] và
khoản 4 Điều 293 BLTTHS “Bản kháng nghị của những người quy định tại
Điều này phải được gửi cho người bị kết án và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị” [48], thì kháng nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm bao giờ cũng thể hiện bằng văn bản. Văn bản kháng nghị phải nêu
được các căn cứ để kháng nghị, trong đó có sự phân tích về các tình tiết của
vụ án liên quan đến nội dung kháng nghị để làm rõ những vi phạm pháp luật
nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có HLPL hoặc tình tiết mới được phát
hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đó. Từ đó,
người có thẩm quyền quyết định kháng nghị một phần hay toàn bộ bản án hoặc
quyết định đã có HLPL. Đây là văn bản mang tính chất pháp lý, làm cơ sở phát
sinh thủ tục tố tụng đặc biệt, là thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm.
(2). Chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ được thực hiện bởi
những chủ thể có thẩm quyền mà BLTTHS quy định. Thông qua đó, các chủ
thể thực hiện quyền kháng nghị của mình một cách hợp pháp. Theo quy định
tại Điều 275 BLTTHS thì việc kháng nghị giám đốc thẩm do cả Chánh án
Tòa án và Viện trưởng VKS thực hiện; cụ thể là Chánh án TANDTC, Chánh

thì có HLPL kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị [48].
BLTTHS cũng chưa quy định cụ thể về quyết định nào đã có HLPL là
đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, nên trong nghiên cứu
khoa học và thực tiễn áp dụng còn có nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, tất cả các quyết định của Tòa án có
HLPL đều là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm, không kể quyết định
đó là do Hội đồng xét xử, Chánh án, Phó Chánh án hay của Thẩm phán ban
hành [Dẫn theo 37, tr.14].
Quan điểm thứ hai cho rằng, chỉ có quyết định đình chỉ vụ án đã có
HLPL mới là đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm [30, tr.143].

17
Quan điểm thứ ba cho rằng, không phải tất cả quyết định của Tòa án đã
có HLPL đều là đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm mà chỉ một số quyết
định có tính chất như một bản án và những quyết định này theo quy định của
pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mới là đối tượng
của kháng nghị giám đốc thẩm [38, tr.96].
Quan điểm thứ tư cho rằng, các quyết định về hình sự đã có HLPL
được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm: quyết định về áp dụng
pháp luật; quyết định về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt;
quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp như kê biên tạm giữ tài sản, tịch thu
vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm và bồi thường thiệt hại; các
quyết định giám đốc thẩm [12, tr.194].
Nhìn chung các quan điểm trên có nhận thức rất khác nhau về phạm vi
đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm. Theo quan điểm thứ nhất thì đối tượng
của kháng nghị giám đốc thẩm có phạm vi quá rộng; ngược lại quan điểm thứ
hai lại quá hẹp, không phù hợp với thực tiễn kháng nghị giám đốc thẩm; còn
các quyết định theo quan điểm thứ tư đều đã thể hiện trong bản án (trừ quyết
định giám đốc thẩm). Theo chúng tôi, quan điểm thứ ba là phù hợp hơn cả,
nhưng vẫn còn chung chung, chưa nêu được cụ thể quyết định nào đã có

Trong phần xét thấy là những lập luận, đánh giá về các tình tiết của vụ
án phục vụ cho phần quyết định của văn bản kháng nghị, như đánh giá về thủ
tục tố tụng; nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội; hậu quả của vụ án; tính
chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết về tăng nặng, giảm nhẹ, vai trò,
nhân thân của bị cáo trong vụ án; các vấn đề về bồi thường thiệt hại Từ đó, có
nhận định, đánh giá về tội danh, hình phạt, bồi thường thiệt hại mà Tòa án
các cấp đã áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật hay không.
Trên cơ sở những đánh giá, nhận định trong phần xét thấy, người có
thẩm quyền quyết định kháng nghị một phần hay toàn bộ bản án, quyết định

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại trên Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm, Hoàn thiện các quy định của BLTTHS Việt Nam về kháng Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, Nâng cao nhận thức pháp luật trong nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status