ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
***
Hà Hoàng Hiệp Hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm trong
tố tụng dân sự Chuyên ngành : Luật
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ
đốc thẩm trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
năm 1989 21
1.2.3.1. Kháng nghị giám đốc thẩm 22
1.2.3.2. Thủ tục giám đốc thẩm 23
1.4. Sơ lƣợc về thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự của pháp
luật một số nƣớc 25
1.4.1. Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm 25
1.4.2. Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm 27
1.4.3. Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm 29
1.4.4. Thẩm quyền giám đốc thẩm 30
1.4.5. Thủ tục phiên toà giám đốc thẩm 32
1.4.6. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm 34
CHƢƠNG 2. THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TRONG PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 37
2.1. Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành 37
2.1.1. Tính chất của giám đốc thẩm và căn cứ kháng nghị giám đốc
thẩm 38
2.1.1.1. Tính chất của giám đốc thẩm 38
2.1.1.2. Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm 38
2.1.1.3. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm 43
2.1.2. Kháng nghị giám đốc thẩm 44
2.1.2.1. Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm 44
2.1.2.2. Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm 45
3
2.1.3. Thủ tục giám đốc thẩm 46
2.1.3.1. Thẩm quyền giám đốc thẩm 46
3.2.2. Về kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm 70
3.2.3. Cơ chế chấp nhận kháng cáo giám đốc thẩm 72
3.2.4. Về căn cứ kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm 72
3.2.5. Về thủ tục tại phiên toà giám đốc thẩm 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
4
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với việc phát triển kinh tế xã hội, công
cuộc cải cách tƣ pháp nói chung và việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp
luật nói riêng đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể. Thực hiện đƣờng lối đổi
mới toàn diện do Đảng lãnh đạo và khởi xƣớng, trong hai mƣơi năm qua, Nhà
nƣớc ta đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng, đánh dấu sự phát triển vƣợt
bậc quá trình pháp điển hoá, hệ thống hoá pháp luật dân sự, bƣớc đầu tạo
dựng cơ sở pháp lý cho việc đổi mới đất nƣớc toàn diện. Cùng với việc hoàn
thiện các đạo luật về nội dung, Nhà nƣớc ta cũng ban hành nhiều văn bản quy
định về thủ tục tố tụng để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong đời
sống xã hội nhƣ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989;
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996. Các văn bản pháp luật này đã
góp phần quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh, góp phần
ổn định các quan hệ xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc,
những văn bản này ngày càng bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế, bất cập.
Trƣớc tình hình đó, Nhà nƣớc ta đã ban hành Bộ luật tố tụng dân sự vào
năm 2004, tạo nền tảng pháp lý cho các hoạt động tƣ pháp dân sự, thể hiện
nguyên tắc tổ chức, hoạt động xét xử của Toà án nói riêng mà còn góp phần
quan trọng vào việc xây dựng các văn bản hƣớng dẫn thi hành các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự trong thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, trong khoa
học pháp lý hiện nay, mô hình lý luận về thủ tục giám đốc thẩm vẫn chƣa
đƣợc quan niệm một cách thống nhất. Đã có một số bài viết đề cập đến thủ
tục giám đốc thẩm dân sự ở những nội dung khác nhau nhƣng chƣa thực sự đi
sâu vào nghiên cứu vấn đề này.
Một khi thủ tục giám đốc thẩm dân sự vẫn chƣa đƣợc nhận thức một
cách đúng đắn thì hiệu quả điều chỉnh pháp luật cũng khó đạt đƣợc. Chính vì
vậy, xác định đúng đắn mô hình lý luận về thủ tục giám đốc thẩm sẽ phần nào
6
giúp việc thực thi, áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đƣợc hiệu
quả hơn.
2. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần hoàn thiện lý luận về thủ tục giám
đốc thẩm trong tố tụng dân sự và tìm ra những khiếm khuyết về mặt lập pháp
cũng nhƣ bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục giám đốc
thẩm trong tố tụng dân sự, trên sở đó sẽ có những định hƣớng nhằm hoàn
thiện hơn thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với mục đích nghiên cứu trên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm sáng
tỏ về mặt lý luận một số nội dung cơ bản về thủ tục giám đốc thẩm trong tố
tụng dân sự trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của pháp luật nƣớc
ngoài, đánh giá thực trạng và thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục giám
đốc thẩm trong tố tụng dân sự từ năm 2000 đến nay, từ đó đƣa ra một số giải
pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hơn chất lƣợng của thủ tục này.
4. Nội dung nghiên cứu của đề tài
tụng dân sự và một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện thủ tục này.
8
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TRONG PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự
Ở Việt nam cũng nhƣ hầu hết các nƣớc trên thế giới, Toà án đều thực
hiện chế độ hai cấp xét xử nhằm đảm bảo việc xét xử của Toà án đƣợc khách
quan, chính xác, đúng pháp luật, đảm bảo bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật đƣợc thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, hạn chế việc kéo dài thi hành
án. Nguyên tắc này đƣợc quy định tại Luật tổ chức Toà án nhân dân 2002 nhƣ
sau:
“1. Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm
của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố
tụng. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời
hạn do pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết
định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm.
Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
2. Đối với bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà phát
hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình
tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do pháp luật tố tụng quy định”.
Nhƣ vậy, sau khi đã xét xử sơ thẩm mà bản án, quyết định không bị
kháng cáo, kháng nghị hoặc sau khi xét xử phúc thẩm, bản án, quyết định sẽ
đƣơng nhiên có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định của Toà án nhân dân
đã có hiệu lực pháp luật sẽ phải đƣợc đƣợc cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng, mọi ngƣời và
có sai lầm trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án thì ngƣời có
thẩm quyền là Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trƣởng,
Phó Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân
tỉnh, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh sẽ kháng nghị bản án, quyết
định đó. Sau khi có quyết định kháng nghị của ngƣời có thẩm quyền, Toà án
giám đốc thẩm sẽ xem xét lại vụ án và đƣợc quyền ra một trong những quyết
10
định nhƣ: Bác kháng nghị, sửa bản án, quyết định bị kháng nghị hoặc huỷ bản
án, quyết định bị kháng nghị và giao cho Toà án nhân dân cấp dƣới xét xử lại
theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Nhƣ vậy, có thể thấy trong giai đoạn
này thì giám đốc thẩm bao gồm cả việc Toà án cấp giám đốc thẩm xét xử lại
vụ án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, thể hiện qua việc trực tiếp sửa
bản án, quyết định bị kháng nghị.
Theo các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án cấp giám đốc
thẩm không có quyền sửa bản án, quyết định bị kháng nghị nhƣ quy định tại
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trƣớc đây, mà Toà án cấp giám
đốc thẩm chỉ có quyền bác kháng nghị, giữ nguyên bản án, quyết định hoặc
huỷ bản án, quyết định đó để giao cho Toà án cấp dƣới xét xử lại. Trong giai
đoạn hiện nay, giám đốc thẩm chỉ là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu
lực, việc xét lại này hoàn toàn khác với việc xét xử lại vụ án. Bản chất của thủ
tục giám đốc thẩm lúc này đã thay đổi, nó không còn là một cấp xét xử thứ ba
nhƣ trƣớc đây nữa. Điều này thực sự phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử
đƣợc ghi nhận trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, tức là một vụ
án nói chung chỉ đƣợc xét xử tối đa là hai cấp với ý nghĩa bảo đảm việc xét xử
của Toà án đƣợc khách quan, toàn diện, chính xác, đúng pháp luật và các bản
án, quyết định đã có hiệu lực phải đƣợc thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất,
hạn chế việc trì hoãn, kéo dài, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công
không có cơ sở pháp lý để sửa sai, điều này đồng nghĩa với việc quyền và lợi
ích hợp pháp của các đƣơng sự không đƣợc pháp luật bảo vệ và pháp chế xã
hội chủ nghĩa cũng bị vi phạm, mặt khác nguyên tắc thống nhất trong xét xử
của ngành Toà án nhân dân cũng không có cơ sở để đảm bảo thực hiện [2, tr.
48].
Ngoài ra có thể khẳng định thủ tục giám đốc thẩm chính là cơ chế khắc
phục sai lầm nghiêm trọng trong các bản án đã có hiệu lực pháp luật, giúp cho
Toà án cấp trên thấy đƣợc những sai lầm của Toà án cấp dƣới trong việc giải
quyết những vụ án cụ thể, từ đó sửa chữa những sai lầm của Toà án cấp dƣới,
là phƣơng tiện hƣớng dẫn hoạt động xét xử của Toà án cấp trên đối với Toà
án cấp dƣới, bảo đảm việc áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp
12
luật trong hoạt động xét xử, thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc quyền quyết
định và tự định đoạt của đƣơng sự Vì vậy, cấp giám đốc thẩm không phải là
cấp xét xử thứ ba sau sơ thẩm và phúc thẩm.
Theo quy định về pháp luật tố tụng của Việt Nam nói chung thì có hai
thủ tục thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đó là
thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm.
Tái thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhƣng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới phát hiện có thể làm thay đổi
cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đƣơng sự không biết
đƣợc khi Toà án ra bản án, quyết định. Việc xét lại bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm cũng giúp Toà án khác phục đƣợc
những thiếu sót trong những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
không phụ thuộc vào thời gian bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và
đƣợc thi hành từ bao giờ.
Giám đốc thẩm và tái thẩm đều là những thủ tục đặc biệt của tố tụng
hòa đã ban hành Hiến pháp 1946, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nƣớc, trong đó có ngành Tòa án. Chƣơng VI của Hiến
pháp 1946 đã quy định tổ chức, hoạt động của các cơ quan tƣ pháp từ Điều 63
đến Điều 69. Tuy nhiên bản Hiến pháp này chỉ mới quy định về nguyên tắc tổ
chức và xét xử của các Tòa án bởi trong giai đoạn này, khi hệ thống pháp luật
của nƣớc ta còn chịu nhiều ảnh hƣởng của pháp luật chế độ cũ nên không thể
ngay lập tức thay đổi đƣợc ý thức pháp luật của nhân dân. Vì vậy ngày
10/10/1945, Nhà nƣớc ta đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL cho giữ tạm thời các
luật lệ hiện hành của chế độ cũ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy
nhất cho toàn quốc (trừ khi các luật lệ này chống lại Nhà nƣớc Việt Nam dân
chủ cộng hòa). Mặc dù tạm thời giữ lại những luật lệ cũ, tuy nhiên Sắc lệnh
này không đề cập đến việc cho phép áp dụng pháp luật tố tụng, điều này thể
hiện rõ nét tƣ tƣởng xây dựng pháp luật tố tụng một cách độc lập của Nhà
nƣớc ta.
Các văn bản pháp quy về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tƣ pháp,
Toà án đƣợc ban hành sau đó nhƣ: Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945 về
14
thành lập Toà án quân sự, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về tổ chức Toà
án và ngạch thẩm phán, Sắc lệnh số 51/SL ngày 14/7/1946 quy định thẩm
quyền của các Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án, Sắc
lệnh 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung Sắc lệnh số 51/SL, Sắc lệnh 130/SL
ngày 19/7/1946 về thể thức thi hành án, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về
cải cách bộ máy tƣ pháp và luật tố tụng, Sắc lệnh số 159/SL ngày 7/11/1950
quy định vấn đề ly hôn Đây là một số văn bản đầu tiên của Nhà nƣớc ta,
làm nền tảng cho việc xây dựng pháp luật về tố tụng nói chung và pháp luật
về tố tụng dân sự nói riêng sau này.
Trong các văn bản trên, có nhiều quy phạm xác định cách thức tổ chức
cơ quan tƣ pháp từ Trung ƣơng đến địa phƣơng dần dần đƣợc củng cố, từng
bƣớc hoàn thiện, trình độ quản lý Nhà nƣớc, ý thức pháp luật đƣợc nâng cao,
Toà án các cấp bắt đầu từng bƣớc thực hiện hoạt động xét xử. Từ thực tiễn xét
xử bắt đầu phát sinh những bản án, quyết định sai lầm của Toà án, nhân dân
khiếu nại nhiều mà Nhà nƣớc chƣa có quy định nào để xử lý. Trƣớc tình hình
đó, Chính phủ đã giao cho Bộ tƣ pháp nghiên cứu và ra Thông tƣ số 312 ngày
12/2/1958 yêu cầu các cấp Toà án phải xem xét giải quyết các khiếu nại, đồng
thời có kế hoạch khắc phục sai lầm đối với những bản án đã xét xử, Thông tƣ
quy định: “Đối với việc đã xử rồi nếu thấy sai hoặc đúng không rõ ràng thì
tuỳ từng trường hợp có kế hoạch giải quyết thích đáng (báo cáo cấp trên đề
nghị kháng cáo hay xin xử lại hoặc đặt vấn đề điều tra, xác minh lại)”.
Đến năm 1959, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành một số văn bản
nhằm tăng cƣờng hoạt động của Toà án nhân dân nhƣ: Nghị định số 381-TTg
ngày 20/10/1959 của Thủ tƣớng Chính phủ quy định nhiệm vụ quyền hạn của
Toà án nhân dân tối cao, theo đó: “Toà án nhân dân tối cao có quyền xử lại
những vụ án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có sai lầm”.
Đến cuối năm 1959, Hiến pháp 1959 đã có quy định về thẩm quyền của
Tòa án nhân dân tối cao, Điều 103 quy định nhƣ sau:"Tòa án nhân dân tối
cao là cơ quan xét xử cao nhất của của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án nhân dân địa
phương, Tòa án quân sự và Tòa án đặc biệt".
16
Nhìn chung, giai đoạn trƣớc năm 1960 các văn bản quy định về thủ tục
tố tụng còn rất ít. Từ năm 1959, sau khi ban hành Hiến pháp và Luật hôn nhân
và gia đình, Nhà nƣớc đã ban hành các Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và Pháp lệnh quy định về tổ chức của
hai cơ quan này.
Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ:
“Xét và báo cáo lên Toà án nhân dân tối cao những vụ án do Toà án
mình hoặc Toà án cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực
pháp luật, nhưng phát hiện có sai lầm”.
Tƣơng tự, Chánh án Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc
trung ƣơng hoặc đơn vị hành chính tƣơng đƣơng và Chánh án Toà án nhân
dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tƣơng đƣơng
có nhiệm vụ: “Xét và báo cáo lên Toà án nhân dân cấp trên hoặc đơn vị hành
chính tương đương những vụ án do Toà án mình đã xử mà bản án hoặc quyết
định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng phát hiện thấy có sai lầm”.
Căn cứ vào việc xét và báo cáo của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao, các Chánh án Toà án nhân dân theo quy định này, các Toà án sẽ có
thẩm quyền xử lại vụ án nhƣ sau:
Toà dân sự của Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền: “Xử lại những
vụ án do Toà mình hoặc Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao đã xử
mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Uỷ ban thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao giao cho xử lại”.
Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ƣơng hoặc đơn vị
hành chính tƣơng đƣơng có thẩm quyền: “Xử lại những vụ án do Toà án mình
hoặc Toà án cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
luật, nhưng Toà án nhân dân tối cao giao cho xử lại”.
Từ năm 1961 đến năm 1976, Nhà nƣớc ta còn ban hành một số văn bản
về thẩm quyền của Toà án và về tố tụng dân sự, nhƣ: Thông tƣ số 2421/TC
ngày 2/12/1961 của Toà án nhân tối cao về việc thực hiện chế định Hội thẩm
nhân dân, Thông tƣ số 02/TC ngày 20/02/1966 của Toà án nhân dân tối cao
hƣớng dẫn về thực hiện thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện trong
tình hình mới, Thông tƣ số 39/NCLP ngày 21/01/1972 của Toà án nhân dân
19
Đối tƣợng xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là: “Những bản án và
quyết định đã có hiệu lực pháp luật được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm,
nếu thấy có vi phạm pháp luật ”.
Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền: “Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương”.
Chánh án Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền: “Kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Toà án nhân dân các cấp”. Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao có
thẩm quyền: “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án và quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà án nhân dân địa phương”.
Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:”Là tổ chức xét xử cao
nhất theo thủ tục giám đốc thẩm với nhiệm vụ giám đốc thẩm những quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao”.
Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định khi thực hiện
công tác xét xử, các viện kiểm sát nhân dân có quyền: “Kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà
án nhân dân cấp dưới, khi thấy có vi phạm pháp luật Viện kiểm sát nhân
dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án và quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án nhân dân các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy
có vi phạm pháp luật ”.
Nhƣ vậy, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân đã xác định rõ thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật nhƣng có vi phạm pháp luật là thủ tục giám đốc thẩm, đồng thời quy
định cụ thể về thẩm quyền kháng nghị, xét xử
Về thủ tục giám đốc thẩm hình sự, dân sự, ngày 01/02/1982 Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tƣ pháp đã ban hành
không đƣợc điều chỉnh trong một văn bản có phạm vi điều chỉnh riêng. Chính
vì những lý do trên mà thủ tục giám đốc thẩm dân sự giai đoạn này chỉ đƣợc
quy định là một loại hoạt động thuộc thẩm quyền của Toà án. Tuy nhiên,
21
trong thực tiễn các Toà án có thẩm quyền vẫn tiến hành xét xử các bản án
theo thủ tục giám đốc thẩm.
Mặt khác, thực tiễn vẫn hình thành một trình tự, thủ tục giám đốc thẩm thông
qua thực tiễn xét xử nhằm mục đích khắc phục những sai lầm trong các bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đƣơng sự.
Nhƣ vậy, những văn bản đã đƣợc ban hành trong giai đoạn này và thực
tiễn xét xử chính là nền tảng để xây dựng nên những chế định căn bản của tố
tụng dân sự nói chung trong đó có chế định thủ tục giám đốc thẩm dân sự sau
này, đó cũng là cơ sở để Nhà nƣớc ta ban hành đó là Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự năm 1989.
Nói chung, đặc điểm của pháp luật nước ta giai đoạn này là chưa có
những văn bản luật về tố tụng dân sự, chính vì vậy, các quy định về chế định
giám đốc thẩm cũng còn rất sơ sài, nằm rải rác trong nhiều văn bản khác
nhau [10, tr. 109], chủ yếu là quy định về hoạt động của Toà án, Viện kiểm
sát các vấn đề về trình tự, thủ tục giám đốc thẩm chƣa đƣợc quy định đầy
đủ, toàn diện.
1.2.3. Giai đoạn sau năm 1989 - Những quy định về thủ tục giám đốc thẩm
trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989
Sau năm 1989, Nhà nƣớc ta đã ban hành lần lƣợt 04 Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án, trong đó có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự. Pháp lệnh này đƣợc Hội đồng Nhà nƣớc thông qua ngày 29 tháng 11 năm
1989, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1990, gồm 15 chƣơng, 88
điều. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của nƣớc ta quy định về
1.2.3.1. Kháng nghị giám đốc thẩm
a. Căn cứ kháng nghị giám đốc thấm
Thay vì chỉ ghi nhận hết sức chung chung về căn cứ kháng nghị giám đốc
thẩm của pháp luật thời kỳ trƣớc, Điều 71 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự quy định cụ thể về các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là:
- Việc điều tra không thu thập đƣợc đầy đủ.
- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với tình tiết khách
quan của vụ án.
23
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
b. Ngƣời có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm
Theo Điều 72 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thẩm quyền
kháng nghị giám đốc thẩm đƣợc quy định cho các chức danh: Chánh án Toà án
nhân dân tối cao, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng
nghị bản án, quyết định của các Toà án các cấp. Tuy nhiên, Hội đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao là tổ chức xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc
thẩm theo trật tự phân cấp thẩm quyền đƣợc quy định tại Điều 74 Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án dân sự nên quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng
thẩm phán luôn là quyết định cuối cùng chấm dứt toàn bộ quá trình giải quyết
vụ án, không áp dụng cơ chế xem xét lại. Đối với bản án, quyết định của Toà
án cấp tỉnh, huyện, thẩm quyền kháng nghị còn thuộc về Phó chánh án Toà án
nhân dân tối cao, Phó Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Chánh án
Toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chỉ
đƣợc kháng nghị bản án, quyết định của Toà án nhân dân cấp huyện.
c. Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm
Việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải đƣợc tiến hành trong
viên của Hội đồng xét xử trình bày nội dung vụ án, nội dung kháng nghị. Nếu
Toà án đã triệu tập ngƣời tham gia tố tụng thì họ đƣợc trình bày ý kiến. Kiểm
sát viên phát biểu về kháng nghị. Cuối cùng, Hội đồng xét xử thảo luận và ra
quyết định,
d. Phạm vi giám đốc thẩm:
Khi tiến hành xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng
giám đốc thẩm có thể xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội
dung của kháng nghị (khoản 1 Điều 76).
e. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm:
Đƣợc quy định tại Điều 77 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự, khi xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử có quyền:
- Giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
25
- Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dƣới đã
bị huỷ hoặc bị sửa.
- Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu thấy việc điều tra
đã đầy đủ, nhƣng vụ án đƣợc giải quyết không đúng pháp luật.
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm
hoặc xét xử phúc thẩm lại vì việc điều tra vụ án không đầy đủ hoặc thành
phần của Hội đồng xét xử sơ phẩm, phúc thẩm không đúng quy định của pháp
luật hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về tố tụng
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải
quyết vụ án nếu có căn cứ đƣợc quy định tại Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự.
Nhƣ vậy, tuy không có điều luật trực tiếp định nghĩa về hoạt động giám
đốc thẩm nhƣng chế định thủ tục giám đốc thẩm trong Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự năm 1989 đã thể hiện là một cấp xét xử thứ ba. Điểm