Thụ lý vụ án dân sự theo trình tự sơ thẩm trong tố tụng dân sự việt nam - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THỊ THU HƢƠNG

THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ THEO TRÌNH TỰ SƠ
THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017

i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THỊ THU HƢƠNG

THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ THEO TRÌNH TỰ SƠ
THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG ANH TUẤN


iv


MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT............................................................................ iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1........................................................................................................... 7
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ ............ 7
1.1.Quyền khởi kiện - Cơ sở của việc thụ lý vụ án dân sự ................................... 7
1.1.1.Quyền khởi kiện ............................................................................................ 9
1.1.2. Điều kiện khởi kiện ................................................................................... 13
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của thụ lý vụ án Dân sự ................... 17
1.2.1. Khái niệm thụ lý vụ án Dân sự .................................................................. 17
1.2.2. Đặc điểm thụ lý vụ án dân sự .................................................................... 21
1.2.3. Vai trò, ý nghĩa của thụ lý vụ án dân sự ................................................... 23
1.3. Hậu quả pháp lý của việc thụ lý vụ án Dân sự ............................................. 23
1.4. Pháp luật một số nƣớc về thụ lý vụ án dân sự.............................................. 24
1.4.1. Pháp luật tố tụng dân sự của Canada ....................................................... 24
1.4.2.Pháp luật tố tụng dân sự của Đan Mạch và Thụy Điển............................. 24
1.4.3. Pháp luật tố tụng dân sự của Hàn Quốc ................................................... 24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .................................................................................... 26
CHƢƠNG 2......................................................................................................... 27
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ .... 27
2.1. Các quy định về trình tự thụ lý vụ án dân sự ............................................... 27
2.1.1. Nhận đơn, các tài liệu kèm theo ................................................................ 27
2.1.2. Xem xét, đánh giá đơn và tài liệu kèm theo .............................................. 32
2.1.3. Kiểm tra các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện .......................... 38
2.1.4. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; bổ sung tài liệu, chứng cứ ........... 40
2.2. Các quy định về điều kiện thụ lý vụ án dân sự ............................................ 41
2.2.1. Điều kiện về chủ thể khởi kiện .................................................................. 41

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 80

vi


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa đã đạt đƣợc nhiều thành tựu rực rỡ, tuy nhiên bên cạnh
đó cũng nảy sinh nhiều quan hệ xã hội phức tạp, nhất là trong lĩnh vực dân sự,
hôn nhân gia đình, kinh doanh thƣơng mại, lao động đòi hỏi phải có cơ chế xử
lý bằng con đƣờng Tòa án. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã thay thế
các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động 1996 là bƣớc ngoặt đối với ngành luật tố tụng dân sự Việt Nam. Bộ luật
đã quy định đầy đủ các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, quy định quyền
khởi kiện vụ án dân sự, quy định phạm vi khởi kiện các điều kiện để thụ lý vụ
án dân sự. Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 của Quốc hội sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012
đã sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án phù
hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu mới. Cùng với sự ra đời Hiến pháp 2013,
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 là thể chế chiến lƣợc tƣ pháp, đổi mới,
cải cách thủ tục tố tụng dân sự theo hƣớng công khai, minh bạch, bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. BLTTDS cụ thể hóa các quy
định của Hiến pháp năm 2013 về Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nƣớc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tƣ pháp; có nhiệm vụ bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, bảo vệ pháp chế xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân. Thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thƣơng mại, lao

những tồn tại, bất cập của các quy định của pháp luật, đƣa ra những giải pháp
hữu ích đóng góp vào quá trình xây dựng hoàn thiện quy định của pháp luật.
Đồng thời, nêu lên thực tiễn thực hiện quy định về quá trình thụ lý vụ án dân sự
tại một số Tòa án nhân dân, qua đó đƣa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Việc nghiên cứu đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định
của pháp luật về thủ tục thụ lý vụ án dân sự. Từ đó mục tiêu cụ thể của đề tài là
2


giải quyết về mặt lý luận các khái niệm thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng
nhƣ các vấn đề có liên quan. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật hiện hành, để việc xét xử giải quyết các vụ án đƣợc khách quan, toàn diện và
đúng quy định của pháp luật thì Tòa án phải có kỹ năng, phƣơng pháp và kinh
nghiệm thực tiễn trong việc thụ lý, xây dựng hồ sơ và xét xử vụ án dân sự. Trên
cơ sở đó đƣa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự về quá trình thụ lý vụ án.
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thụ lý vụ án dân sự. Tuy nhiên, so
với những công trình đã nghiên cứu trƣớc đây, đề tài có hƣớng nghiên cứu khác
và có những nội dung mới, cụ thể:
Thứ nhất, Tiếp cận thụ lý vụ án dân sự theo nguyên tắc Tòa án không
đƣợc từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chƣa có điều luật để áp dụng,
nguyên tắc này đã đƣợc đƣa riêng tại Mục 3 của BLTTDS năm 2015. Trong bối
cảnh thực tế hiện nay việc quy định nhƣ vậy là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ chủ
trƣơng của Đảng về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đã đƣợc ghi nhận trong Nghị
quyết số 49-NQ/TW với mục tiêu xây dựng nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh,
dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bƣớc hiện đại phục vụ nhân dân,
phụng sự tổ quốc. Việc quy định Tòa án không đƣợc từ chối giải quyết vụ án

cũ. Về thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục thụ lý vụ án dân sự,
đề tài nghiên cứu và đánh giá trong phạm vi tại Tòa án nhân dân một số đơn vị,
trong thời gian 03 năm gần đây.
5. Tổng quan các công trình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đã có các công trình nghiên cứu về thủ tục thụ
lý vụ án dân sự, điển hình nhƣ: (1) Liễu Thị Hạnh, Thụ lý vụ án dân sự một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội,
2009; (2) Nguyễn Thu Hiền, Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý án Dân sự
trong pháp luật tố tụng Việt Nam, Luận án thạc sỹ luật học, Khoa Luật Đại học
quốc gia Hà Nội, 2012.
Công trình nghiên cứu trên đã làm rõ đƣợc những vấn đề lý luận cơ bản
và quy định của Bộ luật dân sự năm 2004, đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2011.
Mặt khác, công trình này đều phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định
về thủ tục thụ lý vụ án dân sự trong phạm vi cả nƣớc, thì sẽ không nghiên cứu
4


sâu đƣợc những vƣớng mắc trong thực tiễn áp dụng. Do đó, đề tài sẽ tập trung
vào việc nghiên cứu tiếp những nội dung mà công trình trƣớc đây chƣa đề cập
đến. Bên cạnh đó Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2016, do đó luận văn sẽ nghiên cứu trên cơ sở BLTTDS 2015 theo hƣớng
so sánh những điểm mới của bộ luật.
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của tác giả về thụ lý vụ án dân sự,
hi vọng rằng với việc tiếp thu, kế thừa các công trình nghiên cứu trƣớc và trên
cơ sở tham khảo những tài liệu có liên quan đƣợc viết trong thời gian gần đây,
đề tài sẽ có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp
luật tố tụng dân sự, đáp ứng yêu cầu của hoạt động cải cách tƣ pháp, góp phần
xây dựng bảo vệ quyền con ngƣời, quyền tiếp cận công lý của ngƣời dân khi đến
làm việc tại Tòa án.
6. Nội dung, địa điểm và phƣơng pháp nghiên cứu

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1.Quyền khởi kiện - Cơ sở của việc thụ lý vụ án dân sự
Lịch sử nền văn minh nhân loại là một quá trình đấu tranh khẳng định các
quyền cơ bản của con ngƣời. Các quyền ấy luôn đƣợc coi là vấn đề thiêng liêng,
cơ bản, và cũng luôn là khát vọng của toàn thể nhân loại. Quyền con ngƣời đƣợc
sinh ra và đồng thời cũng đƣợc bảo đảm nhƣ một lẽ tự nhiên. Nó là vấn đề quan
trọng trong luật pháp của mỗi quốc gia, và pháp luật có vai trò rất lớn trong việc
bảo đảm, bảo vệ quyền đó. Quyền con ngƣời là những giá trị xã hội cao quý
đƣợc thừa nhận và bảo vệ chung của cả nhân loại tiến bộ. Quan niệm về quyền
con ngƣời đã đƣợc các nhà tƣ tƣởng bàn đến từ thời cổ đại và không ngừng đƣợc
phát triển, bổ sung cùng với quá trình phát triển của lịch sử nhân loạn. Khi bàn
đến quyền con ngƣời Jaeque Mourgeon trong cuốn “Các quyền con ngƣời“ đã
cho rằng: Quyền con ngƣời trƣớc hết đƣợc hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà
con ngƣời có. Đó là khả năng hành động có ý thức, trách nhiệm nhất là tự bảo
vệ. Nhƣng bản thân đặc quyền (quyền tự nhiên) chƣa phải là quyền con ngƣời.
Mà để đạt đến cái gọi là “quyền“ thì phải có yếu tố thứ hai là pháp luật. Chỉ khi
đƣợc pháp luật ghi nhận thì các đặc quyền của cá nhân mới trở thành đối tƣợng
điều chỉnh của pháp luật mới trở thành quyền con ngƣời [37, tr131]. Trên cơ sở
quan niệm đúng đắn và khoa học về con ngƣời, chủ nghĩa mác đã xác định con
ngƣời là con ngƣời xã hội bản chất con ngƣời trong tính hiện thực của nó là sự
tổng hòa các quan hệ xã hội, cho nên quyền con ngƣời thể hiện sâu sắc giá trị
các quan hệ xã hội và hiển nhiên mang bản chất đó [38, tr.11]. Trên cơ sở các
quan niệm về quyền con ngƣời năm 1776, lần đầu tiên quyền con ngƣời đƣợc
ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: “Tất cả mọi ngƣời sinh ra đều có
quyền đƣợc bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
đƣợc, trong đó có quyền sống, quyền tự do mƣu cầu hạnh phúc“.
Năm 1791, trong tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, quyền con
ngƣời từng bƣớc đƣợc các quốc gia thừa nhận và quy định trong pháp luật của
nƣớc mình. Ở nƣớc ta, vấn đề quyền con ngƣời đã đƣợc nghiên cứu và phản ánh
7

đúng pháp luật đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

8


Việc giám sát đối với hoạt động tƣ pháp cần phải phát huy đƣợc đông đảo các
cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội và công dân tham gia.
Chăm lo cho con ngƣời, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển toàn
diện của con ngƣời, tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời là những quan điểm
chỉ đạo cơ bản và nhất quán, là nguyên tắc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đƣờng
lối, chính sách chỉ đạo của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đƣợc thể
chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nƣớc ta. Nhận thức rõ vai trò
quan trọng hàng đầu của việc bảo vệ quyền con ngƣời trong công cuộc cải cách
tƣ pháp, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến
lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020“ khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xã
hội đối với cơ quan tƣ pháp ngày càng cao, các cơ quan tƣ pháp phải thật sự là
chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con ngƣời, đồng thời
phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu
tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm và vi phạm [2].
Trong giao dịch dân sự, quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh chủ yếu
từ các hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phƣơng, các quyền lợi và nghĩa vụ ngoài
hợp đồng và các căn cứ khác. Các quyền và nghĩa vụ dân sự này thƣờng đƣợc
pháp luật quy định và bảo hộ, tuy nhiên việc quy định và bảo hộ bằng pháp luật
nội dung là chƣa đủ, bởi lẽ các quyền lợi của chủ thể hoàn toàn có thể bị phủ
nhận hoặc xâm phạm bởi chủ thể khác. Theo đó, pháp luật còn phải quy định
trao cho họ các công cụ pháp lý để thực hiện khi muốn bảo vệ các quyền bị xâm
hại. Đây là một trong những vấn đề căn bản của pháp luật tố tụng dân sự mà ở
đó đặc điểm về trọng thủ tục luôn đƣợc đề cao để tránh sự lạm quyền của Tòa
án, hạn chế hành vi tùy tiện của đƣơng sự, hơn nữa đảm bảo quyền lợi của
đƣơng sự khi họ thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Bởi vậy, để thụ lý vụ án dân sự,

dân sự năm 2015 quy định tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân đƣợc
tôn trọng và đƣợc pháp luật bảo vệ. Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm
phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền: Công nhận quyền dân sự; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi,
cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thƣờng thiệt hại.
Quyền khởi kiện là một quyền dân sự. Khi quyền và lợi ích dân sự của cơ
quan, tổ chức, cá nhân bị xâm phạm hay tranh chấp thì họ có quyền thực hiện
những biện pháp chính là khởi kiện vụ án. Pháp luật tố tụng dân sự quy định các
10


điều kiện, phƣơng thức khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân và trƣờng hợp
này quyền khởi kiện vụ án dân sự đƣợc xem xét nhƣ một quyền tố tụng. Dƣới
góc độ tố tụng quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cơ quan, tổ
chức, cá nhân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của ngƣời khác khi có tranh chấp về
quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động.
Cụ thể các quy định của Hiến pháp năm 2013, Điều 4 và Điều 5 BLTTDS
năm 2015 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự
tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
ngƣời, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp
của mình hoặc của ngƣời khác. Việc thực hiện quyền khởi kiện của đƣơng sự
phải tuân theo quy định của pháp luật về năng lực của chủ thể, thẩm quyền của
Tòa án, thời hiệu khởi kiện, án phí… Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm
phạm chủ thể có quyền tự định đoạt khởi kiện hoặc không khởi kiện đến Tòa án
yêu cầu bảo vệ. Việc khởi kiện đƣợc thực hiện bằng hình thức nộp đơn khởi
kiện tại Tòa án có thẩm quyền. Về nguyên tắc chỉ có cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có lợi ích bị xâm phạm mới có
quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình. Bên cạnh đó, để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong một số trƣờng hợp đặc biệt

và yêu cầu độc lập chính là việc ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kiện
nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ lợi ích của mình.
Nhƣ vậy, theo pháp luật Việt Nam: “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá
nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố
tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình hay của người khác” [9,tr244].
Khởi kiện là phƣơng thức đầu tiên để bảo vệ kịp thời khi quyền, lợi ích
của chủ thể bị xâm phạm bằng việc đòi bồi thƣờng thiệt hại về tài sản, thực hiện
đúng hợp đồng, bảo vệ sức khỏe, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
đối với việc thực hiện quyền dân sự. Ngoài ra, để ngăn chặn kịp thời hậu quả
của hành vi vi phạm, ngƣời khởi kiện còn có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng
ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng lúc với việc nộp đơn khởi kiện. Khởi
kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác
tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh
12


quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Nếu không có hoạt động khởi kiện thì không
có quá trình tố tụng tiếp theo. Tòa án chỉ thụ lý khi có đơn khởi kiện của các chủ
thể. Đƣơng sự có quyền tự do hành động cùng với quyền tự định đoạt của các
chủ thể khởi kiện làm cơ sở tố tụng. Theo đó, khởi kiện là phƣơng thức để các
chủ thể có thể hành động ngay tức khắc để tự bảo vệ các quyền dân sự của mình
tránh nguy cơ xâm phạm xảy ra, nhƣ khởi kiện để đòi lại tài sản, khởi kiện để
yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền dân
sự hoặc kiện để yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại. Với hành vi khởi kiện kịp thời, các
cơ quan tố tụng sẽ có hành động can thiệp kịp thời các quyền và lợi ích hợp
pháp sẽ đƣợc bảo vệ, thiệt hại đƣợc khắc phục sớm, chấm dứt hành vi trái pháp
luật. Bằng hoạt động xét xử, Tòa án góp phần bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội
chủ nghĩa đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, tạo môi trƣờng pháp lý an toàn,
trong đó quyền công dân đƣợc bảo vệ và củng cố lòng tin của nhân dân đối với

bởi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ và bởi tính chất, yêu cầu
của việc tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Thông thƣờng cá nhân chỉ
đƣợc coi là có năng lực hành vi tố tụng dân sự khi đã từ đủ mƣời tám tuổi trở
lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự. Đối với những ngƣời chƣa đủ mƣời
tám tuổi, bị mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng
dân sự, việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đƣơng sự này trƣớc Tòa án
phải do ngƣời đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Pháp luật cũng đòi hỏi cá
nhân khi khởi kiện vụ án dân sự phải là ngƣời có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm
phạm hoặc tranh chấp. Đây là quy định phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt
trong tố tụng dân sự, nó không cho phép ngƣời không phải là chủ thể của quan
hệ pháp luật lợi dụng quyền khởi kiện để rồi lại xâm phạm đến quyền, lợi ích
hợp pháp của ngƣời khác. Cá nhân khi có năng lực chủ thể thì có thể tự mình
khởi kiện hoặc làm giấy ủy quyền cho một ngƣời khác có năng lực hành vi thay
mình khởi kiện, trừ việc ly hôn.
Các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình trong trƣờng hợp bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Ngoài ra, cơ
quan, tổ chức còn khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
ngƣời khác theo quy định của pháp luật. Ngoài những trƣờng hợp cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác đƣợc khởi kiện những vụ án về hôn nhân và gia đình theo
quy định, pháp luật còn quy định các cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi,
14


nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa
án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nƣớc thuộc lĩnh vực mình phụ
trách. Để có nhận thức thống nhất về các loại cơ quan, tổ chức đƣợc khởi kiện
vụ án dân sự cần có sự phân biệt nhƣ sau:
Các cơ quan là các cơ quan nhà nƣớc là ủy ban nhân dân các cấp, các bộ,
ngành ở trung ƣơng, các sở, ngành ở địa phƣơng, các cơ quan chuyên môn khác
ở từng lĩnh vực nhƣ cơ quan thuế, thị trƣờng, dân số, môi trƣờng, các cơ quan

điển luật học của Mỹ, thẩm quyền đƣợc hiểu là khả năng cơ bản và tối thiểu để
cơ quan công quyền xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật [45, tr298].
Điểm chung về thẩm quyền của Tòa án đều đƣợc các nƣớc thừa nhận là quyền
xem xét giải quyết các vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyền hạn
trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó. Trên thế giới, các nhà lý
thuyết về tố tụng của các nƣớc theo hệ thống châu âu lục địa và các nƣớc theo hệ
thống Anh-Mỹ đều đề cập vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dân sự
dƣới hai góc độ là thẩm quyền theo loại việc và thẩm quyền theo phạm vi lãnh
thổ. Ở Việt Nam xuất phát từ những đặc thù về tổ chức hệ thống Tòa án cho nên
quan niệm về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dân sự cũng có những điểm
khác biệt. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án đƣợc tiếp cận dƣới ba góc độ là
thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền của Tòa án các cấp, và thẩm quyền của
Tòa án theo lãnh thổ. Trên cơ sở đó, Trong giáo trình Luật tố tụng dân sự của
trƣờng Đại học luật Hà Nội năm 2015 thẩm quyền dân sự của Tòa án đƣợc định
nghĩa nhƣ sau: “Thẩm quyền dân sự của Tòa án là quyền xem xét giải quyết các
vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó
theo thủ tục tố tụng dân sự của Tòa án”[9, tr61].
Việc xác định thẩm quyền giữa các Tòa án một cách hợp lý, khoa học
tránh đƣợc sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơ
quan nhà nƣớc, giữa các Tòa án với nhau, góp phần tạo điều kiện cần thiết cho
Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ án dân sự, nâng cao hiệu quả
giải quyết các vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự
trƣớc Tòa án.
Bên cạnh những yêu cầu về điều kiện khởi kiện ngoài yêu cầu về chủ thể
khởi kiện, thẩm quyền của Tòa án thì vụ việc đƣợc khởi kiện chƣa đƣợc giải
quyết bằng một bản án hay quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan
16


nhà nƣớc có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, trừ những trƣờng hợp theo



Nhƣ vậy, cơ quan, tổ chức, cá nhân do BLTTDS quy định có quyền khởi
kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của ngƣời khác thông qua
con đƣờng Tòa án. Trong trƣờng hợp quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của
ngƣời khác bị xâm phạm hoặc trong trƣờng hợp ảnh hƣởng đến lợi ích Nhà
nƣớc, lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ. Các quy định
về thẩm quyền xét xử của Tòa án (thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo
cấp Tòa án hay thẩm quyền theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn)
đảm bảo các bên đƣơng sự có thể tiếp cận đến Tòa án giải quyết vụ việc một
cách hợp lý và bình đẳng.
Các vụ việc đƣợc Tòa án giải quyết, phát sinh từ các quan hệ pháp luật
dân sự, hôn nhân-gia đình, kinh doanh, thƣơng mại và lao động đƣợc gọi là vụ
việc dân sự. Trong đó, đối với những vụ việc có tranh chấp về quyền và nghĩa
vụ giữa các bên thì đƣợc gọi là vụ án dân sự; đối với những vụ việc không có
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, đƣơng sự chỉ yêu cầu Tòa án
công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hau
yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền dân sự thì đƣợc gọi là việc dân sự.
Thụ lý vụ án là một hoạt động của giai đoạn đầu tiên của thủ tục giải
quyết vụ án dân sự. Hoạt động này đƣợc Tòa án tiến hành ngay sau khi có đơn
khởi kiện của những chủ thể mà pháp luật quy định. Bản chất của hoạt động thụ
lý là việc Tòa án xác định các điều kiện khởi kiện và tiến hành vào sổ thụ lý vụ
án theo quy định của pháp luật.
Theo từ điển tiếng Việt: “Thụ lý là tiếp nhận giải quyết vụ kiện” [4,tr.
961] Còn theo từ điển luật học “Thụ lý vụ án là bắt đầu tiếp nhận một việc để
xem xét và giải quyết. Theo pháp luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án là việc tòa dân
sự nhận đơn yêu cầu của đương sự đề nghị xem xét, giải quyết một vụ việc để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức” [5,

Đây là một hành động cụ thể của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp.
Thụ lý vụ án làm phát sinh quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án có trách nhiệm căn cứ vào các quy
phạm nội dung giải quyết tranh chấp đúng pháp luật, và để vụ án dân sự đƣợc
giải quyết đúng thời hạn và chính xác thì tòa án phải làm tốt công tác thụ lý. Thụ
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status