KỸ NĂNG đặc THÙ TRONG THỤ lý vụ án dân sự - Pdf 52

KỸ NĂNG ĐẶC THÙ TRONG THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
Posted on 17/12/2007 by Civillawinfor
Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết
vụ án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng
chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân
sự; hôn nhân gia đình; Kinh doanh, thương mại; Lao động)….Các kỹ năng bao
gồm từ việc nhận đơn; Kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện; Xác
định các điều kiện để thụ lý vụ án (Điều kiện về quyền khởi kiện của người khởi
kiện; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khác, trừ trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS; điều
kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng
án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác);
Thủ tục thụ lý và kỹ năng soạn thảo một số văn bản trong giai đoạn thụ lý…
Mục đặc thù trong thụ lý vụ án dân sự chỉ đề cập đến những kỹ năng cần phải chú ý
thêm đối với một số vụ án dân sự cụ thể.
1.2.1. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng
Trước hết, cần nghiên cứu đơn khởi kiện để xác định tính hợp pháp của đơn khởi
kiện đã đáp ứng đầy đủ về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 164
BLTTDS hay chưa. Đơn khởi kiện phải trình bày cụ thể nội dung tranh chấp, yêu
cầu cụ thể của nguyên đơn và thể hiện rõ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn bị xâm phạm hay tranh chấp như thế nào. Khi nghiên cứu đơn kiện cần đặc biệt
lưu ý đến yêu cầu khởi kiện: đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, yêu cầu
hủy hợp đồng, yêu cầu phạt hợp đồng, tranh chấp về các biện pháp bảo đảm thực
hiện hợp đồng như đặc cọc, thế chấp, bảo lãnh….
Nguyên tắc chung khi xác định quyền khởi kiện của đương sự cần phải kiểm tra tư
cách chủ thể kiện. Nếu là cá nhân, người khởi kiện phải có năng lực hành vi tố tụng
dân sự, nếu là pháp nhân, người khởi kiện phải là người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho
người khác khởi kiện, Thẩm phán cần kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng ủy
quyền về nội dung và hình thức theo quy định của BLDS về hợp đồng ủy quyền và

cho vay…;
- Các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.
Khi nghiên cứu về thẩm quyền theo lãnh thổ, trong trường hợp đối tượng của hợp
đồng là bất động sản, khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của đương sự phải xác định rõ
yêu cầu của đương sự là tranh chấp về bất động sản hay tranh chấp về các nghĩa vụ
khác phát sinh từ hợp đồng để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Nguyên
tắc chung, nếu tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản thuộc đối
tượng của hợp đồng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (điểm c, khoản
1 Điều 35 BLTTDS).
Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản ở nhiều địa phương khác
nhau thì nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi có một trong các bất động sản để
giải quyết (điểm i khoản 1 Điều 36 BLTTDS). Thẩm phán cũng cần kiểm tra sự lựa
chọn của nguyên đơn về Tòa án giải quyết tranh chấp, cụ thể là:
- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết”
(điểm b, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);
- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa
án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết (điểm g, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);
Khi nhận đơn khởi kiện, trong trường hợp nguyên đơn được lựa chọn nhiều Tòa án
có thẩm quyền giải quyết. Thẩm phán cần lưu ý hướng dẫn cho nguyên đơn cam
kết trong đơn kiện chỉ khởi kiện ở Tòa án nguyên đơn đã lựa chọn mà không khởi
kiện tại các Tòa án khác.
Xác định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng cần áp dụng quy
định của pháp luật tương ứng với thời điểm xác lập hợp đồng. Vấn đề mấu chốt để
xác định thời hiệu trước tiên phải xác định được tính chất của yêu cầu và thời điểm
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích
của Nhà nước bị xâm phạm. Ví dụ, đương sự tranh chấp về việc chậm thực hiện
nghĩa vụ, để xác định chính xác thời hiệu khởi kiện, Thẩm phán phải xác định
chính xác thời điểm thực hiện nghĩa vụ.
Nguyên tắc chung khi xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng, Thẩm

Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC cũng chính là ngày ‘vi phạm hợp
đồng” (Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự), “ngày quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm”
(điểm a, khoản 3, Điều 159 BLTTDS).
Trường hợp đương sự đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì thời
hiệu phụ thuộc vào các quy định tương ứng của BLDS. Thẩm phán cần lưu ý trong
việc áp dụng quy định tại Điều 136 BLDS năm 2005 “Thời hiệu yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu’ để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.
1.2.2. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
Bên cạnh kiểm tra đơn khởi kiện theo nguyên tắc chung, Thẩm phán cần kiểm tra
năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện, kiểm tra việc vi phạm quyền
và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Thẩm phán cũng phải xác định rõ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là gì trên cơ sở đó xác định các điều kiện thụ lý cụ thể
mang tính đặc thù riêng của từng quan hệ pháp luật tranh chấp về quyền sử dụng
đất. Trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về quyền sử dụng đất của đương sự
thông thường rơi vào một trong các dạng tranh chấp cơ bản sau:
- Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về đòi lại đất do người
khác đang sử dụng;
- Tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất.
Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất, Thẩm phán cần lưu ý kiểm tra việc khởi
kiện có đủ điều kiện khởi kiện không. Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai
năm 2003 các tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại cấp xã, phường trước khi
đương sự khởi kiện đến Tòa án. Khi các bên có tranh chấp đất đai mà không tự hòa
giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh
chấp. ủy ban nhân dân xã, phường, Thị trấn nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm
phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận,
các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai.
Như vậy, Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, việc tổ chức hòa giải của
UBND cấp xã, phường kết hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành

đai năm 2003;
- Nhóm 2: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất (các giao dịch này có thể
là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Chuyển đổi quyền sử dụng đất;
Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền
sử dụng đất; thừa kế quyền sử dụng đất…). Thẩm phán cần lưu ý trong mọi trường
hợp yêu cầu của đương sự thuộc loại tranh chấp này đều thuộc thẩm quyền của Tòa
án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm
2 này, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án không cần điều kiện đất có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hay có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1,
2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 hay không;
- Nhóm 3: Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 những tranh chấp về tài sản gắn liền với
quyền sử dụng đất đều do Tòa án nhân dân giải quyết. Khi thụ lý giải quyết dạng
tranh chấp thuộc nhóm 3, Thẩm phán cần xác định các tài sản tranh chấp có thể là
một trong các tài sản sau: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô,
nhà thờ, tường xây hàng rào gắn với nhà ở; Các công trình xây dựng trên đất được
giao hoặc được thuê để sản xuất kinh doanh (nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới
tiêu, chuồng trại chăn nuôi) hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây
lấy lá, cây ăn quả, các cây lâu năm khác gắn với việc sử dụng đất.
Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, người sử dụng đất đã có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Khi có đơn khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án căn cứ vào các quy
định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính Phủ về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Điều 7, Điều 9 Nghị định 70/CP
ngày 12/6/1997 của Chính Phủ về án phí, lệ phí Tòa án, Điều 130 BLTTDS có thể
tham khảo thêm ý kiến của cơ quan tài chính vật giá và các cơ quan chức năng khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status