Khái niệm và ý nghĩa của thụ lý vụ án dân sự - Pdf 33

HÀ DUY TÂN - DS33A 058

Đề số 8: Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ
ký, trả lại đơn khởi kiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý, trả
lại đơn khởi kiện

MỤC LỤC

1


HÀ DUY TÂN - DS33A 058

1.

PHẦN MỞ ĐẦU
Luật Tố tụng dân sự Việt Nam là một ngành luật trong hệ thống pháp luật

của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm các hệ thống quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự để đảm bảo việc
giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự nhanh chóng, đúng đắn bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước.
Để có thể đảm bảo được điều này thì việc thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, bước đầu
tiên trong quá trình tố tụng là hết sức quan trọng. Bộ luật Tố tụng dân sự đã có
những quy định chi tiết về việc thụ lý, trả lại đơn khởi kiện một cách hết sức chi
tiết; đã khắc phục được một số hạn chế của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự; tuy vậy vẫn còn một số điểm chưa hợp lý của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện
hành trong mảng vấn đề này.

2.


Bên cạnh đó việc thụ lý vụ án dân sự có ý nghĩa góp phần bảo vệ kịp thời
những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các lĩnh vực dân sự, kinh
tế, lao động, hôn nhân và gia đình hợp pháp; đồng thời giảm bớt được những
tranh chấp mâu thuẫn kéo dài trong nội bộ nhân dân, tạo niềm tin của nhân dân
vào các cơ quan pháp luật nói chung và cơ quan Tòa án nói riêng. Việc Tòa án
thụ lý sẽ là một căn cứ để xác định các thời hạn tố tụng như quy định tại Điều
157 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2.1.2. Điều kiện của việc thụ lý vụ án dân sự
Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể
khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác.
Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định về các điều kiện khởi kiện vụ án dân
sự như sau:
● Chủ thể khởi kiện
- Cá nhân khi khởi kiện vụ án dân sự phải có năng lực hành vi tố tụng dân
sự đồng thời phải có quyền lợi bị xâm phạm. Với những cá nhân không có năng
lực hành vi tố tụng mà có quyền lợi cần phải được bảo vệ thì người đại diện thay
mặt để thực hiện việc khởi kiện. Cá nhân đã có năng lực chủ thể đầy đủ thì có thể
tụ mình khởi kiện hoặc làm giấy ủy quyền cho một người khác có năng lực hành
vi thay mặt mình khởi kiện (trừ việc li hôn)
- Các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình trong trường hợp bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Ngoài ra, các cơ
quan, tổ chức còn khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người khác theo quy định của pháp luật.
● Vụ án khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
- Vụ án khởi kiện thuộc phạm vi thẩm quyền dân sự của Tòa án theo loại
việc, việc xác định phải căn cứ vào tích chất của loại quan hệ pháp luật nội dung
3



hình thức và nội dung đơn khởi kiện cũng đã được quy định chi tiết tại Điều 164
Bộ luật Tố tụng dân sự. Người khởi kiện còn cần phải gửi theo đơn khởi kiện
những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và

4


HÀ DUY TÂN - DS33A 058

hợp pháp (Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi
kiện)
2.1.3. Thủ tục thụ lý vụ án dân sự
● Thủ tục nhận đơn khởi kiện
Điều 167 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thủ tục nhận đơn khởi kiện:
"Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án
hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một
trong các quyết định sau đây:
1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của mình;
2. Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi
kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;
3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án."
Như vậy, Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại tòa
án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, tòa án phải xem xét và cố một
trong các quyết định sau: Tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình; Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền nếu vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; Trả lại đơn khởi kiện nếu việc đó


Điều 413 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về trả lại đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp đã có Toà án
nước ngoài giải quyết:
“1. Toà án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải
quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có bản án, quyết
định của Toà án nước ngoài giải quyết vụ việc dân sự đó và Việt Nam đã ký kết
hoặc gia nhập điều ước quốc tế quy định việc công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định dân sự.
2. Toà án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải
quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có Toà án nước ngoài đã thụ lý vụ
việc dân sự đó và bản án, quyết định của Toà án nước ngoài về vụ việc dân sự đó
được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”
2.2.2. Khiếu nại và giải quyết kiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện
Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:
"Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện
1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và
tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại
với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.
2. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc
trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau
đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc
thụ lý vụ án."
Như vậy, việc xem xét và giải quyết các khiếu nại về việc trả lại đơn khởi
kiện sẽ do Chánh án Tòa án đã trả lại đơn giải quyết. Nếu xét thấy việc trả lại đơn
là đúng theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự thì, Chánh án Tòa án
sẽ ra quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp vụ án có đầy
đủ các điều kiện khởi kiện thì Tòa án sẽ nhận lại đơn và tiến hành thụ lý vụ án.

nộp tiền tạm ứng án phí hoặc trả lại đơn khởi kiện nếu không đủ điều kiện thụ lý
vụ án. Bởi vậy, cần có những quy định chi tiết cụ thể, phân rõ trách nhiệm cho
từng chủ thể trong giai đoạn tố tụng này.
● Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định Chánh án Tòa án là người
giải quyết việc khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện. Nếu trong trường hợp hồ sơ
vụ kiện có căn cứ pháp luật và việc khởi kiện đó là thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án, nhưng do một lý do nào đó (áp dụng sai pháp luật, định kiến, do có
mối quan hệ với phía bị đơn…) mà Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện vẫn căn
cứ điểm a, khoản 2 Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự để “Giữ nguyên việc trả lại
đơn khởi kiện”. Khi đó thì người khởi kiện có quyền khiếu nại tiếp hay không?
Ai sẽ là người giải quyết khiếu nại đó? Trình tự giải quyết như thế nào?
9


HÀ DUY TÂN - DS33A 058

Bộ luật Tố tụng dân sự cũng như các văn bản hướng dẫn trước đây chưa có
quy định về vấn đề này. Nhưng thực tiễn vẫn xảy ra, bởi vậy Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 đã có sửa đổi điều 170.
Theo đó, trong thời hạn bảy ngày làm việc từ ngày nhận được quyết định trả lời
đơn khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án, thì người khởi
kiện có quyền kiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án
cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận
được kiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án cấp trên
trực tiếp sẽ phải quyết định: giữ nguyên việc trả lại đơn; hoặc yêu cầu Tòa cấp sơ
thẩm nhận lại đơn và tiến hành thụ lý vụ án.

3.

PHẦN KẾT LUẬN

6. thongtinphapluatdansu.wordpress.com

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status