ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ - Pdf 34

CÁC ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
MỤC LỤC

1 / 16


CÁC ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
Kiểm tra, xác định các điều kiện thụ lý vụ án dân sự không tách rời với hoạt động
kiểm tra đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Đây là hoạt động tư duy của Thẩm
phán và là hoạt động nghiệp vụ quan trọng trong việc thụ lý vụ án dân sự. Thẩm phán
được phân công thụ lý vụ án dân sự phải tiến hành kiểm tra các điều kiện thụ lý để quyết
định có thụ lý hay không thụ lý vụ án. Để thực hiện quá trình này được đúng đắn cần phải
căn cứ vào quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng dân sự.

1. Điều kiện về chủ thể khởi kiện
Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự phải có quyền khởi kiện và năng lực hành vi tố tụng
dân sự đầy đủ. Hai yếu tố này tạo thành điều kiện cần và đủ đối với điều kiện về chủ thể
khởi kiện vụ án. Về quyền khởi kiện của người khởi kiện Thẩm phán cần kiểm tra, xác
định các yếu tố:
- Người khởi kiện có quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự không? Về nguyên tắc,
quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự chỉ có được khi các chủ thể tham gia vào quan hệ
pháp luật nội dung (quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình…). Theo quy định của pháp luật tố
tụng dân sự, quyền khởi kiện vụ án dân sự có thể do chủ thể có quyền lợi bị tranh chấp tự
mình thực hiện hoặc thông qua người đại diện hợp pháp. Do đó, đối với trường hợp cá
nhân khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật thì người đại diện là người khởi
kiện nhưng Thẩm phán cần phải kiểm tra xác định quyền và lợi ích hợp pháp dân sự của cá
nhân. Quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp có thể là quyền tài sản hoặc
quyền nhân thân.
- Quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khởi kiện có bị xâm phạm hoặc có tranh
chấp chưa? Có quyền và lợi ích dân sự hợp pháp của chủ thể khởi kiện chỉ là điều kiện
cần trong quyền khởi kiện của chủ thể khởi kiện. Mặc dù người khởi kiện có quyền và lợi

3 / 16


2.

Sự việc chưa được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực
pháp luật hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của tòa án nhưng người khởi kiện có quyền
khởi kiện lại theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
Để đảm bảo việc thực hiện bản án, quyết định, điểm c khoản 1 Điều 168 BLTTDS

quy định nếu vụ án dân sự đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật thì các đương sự không được quyền khởi kiện nữa, trừ một số trường hợp sau
đây:
- Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn của người chồng xin ly hôn vợ đang có
thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi, thì Tòa án chỉ thụ lý lại vụ án xin ly
hôn của người chồng khi đã đáp ứng đủ điều kiện khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 85
của Luật Hôn nhân và Gia đình ;
- Trường hợp bản án, quyết định về ly hôn có giải quyết quan hệ về con, mức cấp
dưỡng. Sau khi bản án, quyết định này có hiệu lực pháp luật, nếu điều kiện nuôi con thay
đổi, thì người bố hoặc mẹ có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu thay đổi người nuôi
con. Hoặc nếu có yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng thì các bên có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết;
- Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn; đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà
Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện, thì khi đã đủ điều kiện do
pháp luật quy định, nguyên đơn có thể khởi kiện lại;
- Trong các vụ án bồi thường thiệt hại, đương sự có thể khởi kiện lại yêu cầu Tòa án
xem xét lại mức bồi thường.
Ngoài ra, trường hợp Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy ðịnh tại

phân biệt rõ thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự và tố

5 / 16


tụng hành chính. Thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự và
thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước.
Ví dụ khi giải quyết các tranh chấp về đất đai thì theo Luật Đất đai năm 2003, Tòa
án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là các tranh chấp về đất đai mà
đất đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003. Đối với đất tranh chấp đất
đai mà đất đó không có các loại giấy tờ nêu trên thì thẩm quyền giải quyết thuộc UBND.
Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 đã mở rộng hơn thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định Tòa án có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng
nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp
về tài sản gắn liền với đất. Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng
nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì
đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức hoặc là nộp đơn yêu cầu giải quyết
tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có
thẩm quyền. Như vậy, theo quy định mới này thì Tòa án cũng có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy
tờ quy định tại Điều 100, nếu đương sự lựa chọn khởi kiện ra Tòa.
Trong trường hợp người sử dụng đất không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các
giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 nhưng họ lại có các hành vi như
xây dựng trái phép công trình trên đất không được phép của UBND và đã bị UBND xử lý
hành chính như buộc tháo dỡ công trình… thì đương sự có quyền khiếu nại quyết định
hành chính, hành vi hành chính đó đối với chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi
kiện ra Tòa hành chính để giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính. Trường hợp đất đó
không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai

những bất cập cần phải bổ sung theo quy định tại Điều 32a BLTTDS năm 2011. Trong
quá trình xét xử nhiều vụ án dân sự Tòa án xét thấy có những quyết định cá biệt của cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó rõ ràng trái pháp luật, xâm
7 / 16


phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án dân sự và đương sự có yêu
cầu hủy, nhưng Tòa án không có căn cứ để giải quyết. Trước đây, theo quy định tại Điều
12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Tòa án có quyền hủy quyết định
này: “Khi xét xử vụ án dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định rõ ràng là trái pháp luật
của cơ quan tổ chức khác xâm phạm quyền lợi hợp pháp của đương sự trong vụ án mà
Tòa án có nhiệm vụ giải quyết”, nhưng BLTTDS năm 2004 không quy định vấn đề này,
nên Tòa án không có thẩm quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ
quan, tổ chức khác. Vì vậy, đương sự nếu có yêu cầu hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái
pháp luật của cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó thì họ
phải khởi kiện vụ án hành chính. Mặt khác, trong những trường hợp như vậy nhiều vụ án
dân sự phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án bởi cần phải đợi kết quả giải quyết vụ án
hành chính mới có thể tiếp tục giải quyết được vụ án dân sự nên gây phiền hà cho đương
sự và kéo dài việc giải quyết vụ án.
Một kỹ năng rất quan trọng khi thụ lý giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến việc
hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức
đó là việc nhận biết quyết định cá biệt là gì? Quyết định đó có rõ ràng trái pháp luật hay
không? Và đương sự có yêu cầu hủy quyết định cá biệt đó không? Chúng ta có thể hiểu
Quyết định cá biệt có thể bị Tòa án tuyên hủy vì rõ ràng trái pháp luật là các quyết định
thuộc đối tượng có thể bị khiếu kiện theo quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính
và theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011
của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố
tụng hành chính. Quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật khi quyết định đó được ban
hành không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục hoặc nội dung do pháp luật quy định xâm
phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự Tòa án đang có

đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Xác định thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh và cấp huyện cần căn cứ vào Điều 33, 34
BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội
đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất
“những quy định chung” của BLTTDS (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 03/2012/NQ9 / 16


HĐTP). Hiện nay, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS thẩm quyền của
Tòa án cấp huyện đã được mở rộng hơn so với BLTTDS 2004. Nhiều tranh chấp kinh
doanh -thương mại thuộc thẩm quyền của toà án cấp tỉnh trước đây, nay theo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS thuộc thẩm quyền của toà án cấp huyện giải quyết.
Theo quy định tại Điều 33 BLTTDS năm 2004 thì Toà án nhân dân cấp huyện chỉ có
thẩm quyền giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương
mại từ điểm a đến điểm i Khoản 1 Điều 29 BLTTDS giữa các tổ chức, cá nhân có đăng
ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Song, theo Luật sửa đổi, Toà án
nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp kinh doanh thương
mại thuộc Khoản 1 Điều 29 BLTTDS và theo Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP thì các
chủ thể có đăng ký kinh doanh hay không nhưng nếu đều có mục đích lợi nhuận thì xác
định là các tranh chấp về kinh doanh thương mại. Vì thế, các tranh chấp liên quan đến
mua bán cổ phiếu, trái phiếu; những tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng tín dụng có liên
quan đến ngân hàng; những tranh chấp từ hợp đồng bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trách
nhiệm dân sự... hiện nay thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân cấp huyện.
Đây chính là việc tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện giải quyết các tranh chấp dân sự
theo lộ trình tăng thẩm quyền mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra.
Kiểm tra điều kiện về thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp, Thẩm phán cần lưu
ý quy định riêng biệt tại khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình về thẩm quyền giải
quyết của Tòa án cấp huyện đối với các tranh chấp về ly hôn, quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân
Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu
vực biên giới với Việt Nam.

mà không giải quyết. Các tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 136
Luật Đất đai năm 2003 (nay là Điều 203 Luật Đất đai năm 2013) phải hoà giải tại UBND
xã, phường, thị trấn trước khi khởi kiện ra Toà án. Theo quy định tại điểm b điều 8 Nghị
quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 hướng dẫn như sau:

11 / 16


- Đối với tranh chấp ai có quyền sử dụng đất thì phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 135 của Luật
Đất đai.
- Đối với tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch
liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản
chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì không phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục hoà
giải theo quy định của BLTTDS. Như vậy, theo hướng dẫn này thì không phải tất cả các
tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất đều phải hòa giải cơ sở trước khi khởi kiện ra
Tòa án.

5. Điều kiện do pháp luật nội dung quy định hoặc các bên có thỏa
thuận
Theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 168 BLTTDS, Tòa án trả lại đơn khi “chưa
đủ điều kiện khởi kiện”. Tại khoản 3 điều 8 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn
“Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp các đương sự có thoả thuận hoặc pháp luật
có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về h́nh thức, nội dung đơn kiện),
nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”. Do đó, kiểm tra
điều kiện khởi kiện ngoài việc nghiên cứu các quy định của pháp luật nội dung còn phải
kiểm tra xem các bên tranh chấp có thỏa thuận về điều kiện khởi kiện không? Ví dụ: các
bên tranh chấp thỏa thuận trong hợp đồng nếu phát sinh tranh chấp thì các bên phải có
trách nhiệm cùng nhau thương lượng và chỉ khởi kiện tại Tòa án nếu thương lượng không

thụ lý giải quyết vụ án. Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi người khởi kiện xuất trình biên lai tạm
nộp án phí dân sự sơ thẩm. Nếu người khởi kiện không nộp hoặc nộp không đủ tiền tạm
ứng án phí sơ thẩm thì Tòa án không thụ lý vụ án. Qua kiểm tra đơn khởi kiện và các tài
liệu, chứng cứ kèm theo, xác định được người khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện
nêu trên, Thẩm phán tiến hành thông báo nộp tạm ứng án phí sơ thẩm cho người khởi
kiện biết (trừ trường hợp họ được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp
luật tố tụng dân sự hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí) theo mẫu số 04 ban hành

13 / 16


kèm theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP để họ làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí
trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 171 BLTTDS thì Toà án dự tính số tiền tạm ứng án
phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Như
vậy là cùng với thông báo nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải có phiếu báo ghi
số tiền tạm ứng án phí để người khởi kiện làm căn cứ nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự.
Để xác định người khởi kiện có phải nộp tiền tạm ứng án phí cũng như mức tiền tạm ứng
án phí mà người khởi kiện phải nộpThẩm phán cần phải căn cứ vào nội dung tranh chấp,
yêu cầu của người khởi kiện cũng như các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể
là Điều 127, 130, 131 BLTTDS và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Nếu yêu cầu của
người khởi kiện bằng hiện vật thì Thẩm phán cần yêu cầu họ tự xác định giá trị tài sản
tranh chấp, nếu phù hợp với giá thị trường và quy định của pháp luật thì Thẩm phán chấp
nhận, nếu không phù hợp Thẩm phán phải xác định lại.
Người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí trong một thời hạn được nêu trong
thông báo nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được
giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm
ứng án phí. Đối với trường hợp có trở ngại khách quan hoặc bất khả kháng thì thời gian
do có trở ngại khách quan hoặc bất khả kháng không tính vào thời hạn nộp tiền tạm ứng
án phí (khoản 2 Điều 171; điểm d, khoản 1 Điều 168 BLTTDS). Trở ngại khách quan “là

Theo quy định tại Điều 168 được sửa đổi, bổ sung thì trong các trường hợp mà Toà
án trả lại đơn khởi kiện không có trường hợp hết thời hiệu khởi kiện. Nghị quyết số
05/2012/NQ-HĐTP cũng đã hướng dẫn: Trường hợp trước đây, Tòa án đã trả lại đơn khởi
kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết mà đương sự có yêu cầu khởi kiện lại, thì Toà án
thụ lý vụ việc và đương sự phải nộp tiền tạm ứng án phí nếu không thuộc diện được miễn
theo quy định pháp luật.
Trường hợp đã có bản án, quyết định của Toà án bác yêu cầu hoặc đình chỉ vì lý
do thời hiệu khởi kiện đã hết, thì Toà án căn cứ điểm b khoản 1 Điều 168 của
BLTTDS để trả lại đơn khởi kiện và giải thích cho họ biết họ có quyền làm đơn đề

15 / 16


nghị xem xét vụ việc theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định
nêu trên.
Như vậy, thời hiệu khởi kiện không phải là điều kiện để xác định việc thụ lý vụ án
dân sự. Đây là điểm thay đổi mang tính chất đột phá so với BLTTDS 2004.

16 / 16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status