ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN HƯƠNG GIANG
TÌNH THẾ CẤP THIẾT
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số : 60.38.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH ĐÀO TRÍ ÚC
Hà nội – 2011
1
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH THẾ CẤP THIẾT
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và cơ sở của tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Bản chất, khái niệm chung và những đặc trưng chung của các
yếu tố loại trừ tính chất tội phạm của hành vi
1.1.2 Khái niệm về tình thế cấp thiết
1.1.3 Ý nghĩa của yếu tố tình thế cấp thiết
1.1.4 Cơ sở pháp lý và xã hội của việc quy định tình thế cấp thiết
trong pháp luật hình sự Việt Nam
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của quy phạm pháp luật về tình thế cấp
thiết trong Luật hình sự Việt Nam
1.2.1 Yếu tố tình thế cấp thiết trong pháp luật hình sự Việt Nam thời ký
17
23
23
26
29 31
31
32 2
2.1.2 Sự đe dọa cần tránh trong tình thế cấp thiết là hiện hữu và thực
tế
2.1.3 Việc gây thiệt hại là biện pháp duy nhất để khắc phục sự nguy
hiểm
2.1.4 Thiệt hại trong tình thế cấp thiết gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại
cần ngăn ngừa.
2.2 Trách nhiệm hình sự của trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp
thiết
2.2.1 Khái niệm, ý nghĩa của việc xác định giới hạn của tình thế cấp
thiết
2.2.2 Các điều kiện xác định trách nhiệm hình sự do vượt quá giới hạn
của tình thế cấp thiết
2.3 Phân biệt tình thế cấp thiết với một số yếu tố loại trừ trách nhiệm hình
sự khác
2.3.1 Phân biệt tình thế cấp thiết với phòng vệ chính đáng
2.3.2 Phân biệt tình thế cấp thiết với Sự kiện bất ngờ
59
59
66
69
70
72
74
77
79
3 1
Mở ĐầU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Ti phm l hnh vi nguy him cho xó hi c quy nh trong B lut hỡnh
s. Trong thc t cú nhng hnh vi nguy him cho xó hi nhng c thc hin trong
nhng hon cnh c bit m phỏp lut cho phộp, khoa hc lut hỡnh s gi l nhng
trng hp loi tr tớnh cht ti phm ca hnh vi. Cỏc trng hp loi tr tớnh cht
ti phm ca hnh vi l mt trong nhng ch nh c bit ca phỏp lut hỡnh s th
gii núi chung v phỏp lut hỡnh s Vit Nam núi riờng. Ch nh ny úng vai trũ
quan trng trong lý lun v thc tin phỏp lut hỡnh s, to iu kin tng cng phỏp
ch v th hin tớnh nhõn o trong chớnh sỏch hỡnh s nc ta. Gúp phn to ranh
Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung), NXB công an nhân
dân, Hà Nội, 1999 ;
+ GS.TSKH Lê Cảm: Chế định các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của
hành vi, Tạp chí Toà án nhân dân, số 4 và 6/2001 ;
+ Đinh Văn Quế: Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật
hình sự Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, 1998 ;
+ Hoàng Văn Hùng: Tìm hiểu bản chất của chế định tình thế cấp thiết, Tạp chí
luật học, số 5/1999 ;
+ Giang Sơn: Các yếu tố loại trừ tình tội phạm của hành vi theo luật hình sự
Việt Nam, đề tài luận án tiến sỹ ;
+ CN. Nguyễn Thị Thuỳ Linh: Một số vấn đề cơ bản về chế định tình thế cấp
thiết trong luật hình sự Việt Nam, khoá luận tốt nghiệp năm 2009 ;
Ngoài ra, tình thế cấp thiết này cũng được đề cập trong các giáo trình của các
trường đại học và trong các bài viết khác, như giáo trình Luật hình sự của Khoa Luật
3
- i hc Quc gia H Ni, giỏo trỡnh Lut hỡnh s ca trng i hc Lut H Ni,
giỏo trỡnh Lut hỡnh s ca trng i hc Cụng an nhõn dõn
Nghiờn cu ni dung cỏc tỏc phm v cỏc cụng trỡnh trờn cho thy, cỏc tỏc
phm hoc cỏc cụng trỡnh ny cha cp sõu, mi ch dng li phm vi khỏi quỏt
v nghiờn cu mt mc nht nh, cha t ra nhim v nghiờn cu mt cỏch h
thng, ton din, sõu sc v yu t tỡnh th cp thit. Vỡ vy, ti Tỡnh th cp thit
trong lut hỡnh s Vit Nam khụng trựng lp vi bt k ti khoa hc, Lun vn,
Lun ỏn no.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục tiêu
Mc ớch nghiờn cu ca lun văn l làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn và
cơ sở pháp lý của tình thế cấp thiết trong luật hình sự Việt Nam.
Lun vn ch ra nhng bt cp ca phỏp lut hin hnh v yu t ny, ch ra
lut v tỡnh th cp thit.
Phạm vi về địa bàn : nghiên cứu ở Việt Nam trên phạm vi toàn quốc, có so
sánh yu t ny với pháp luật một số n-ớc trên thế giới.
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu từ pháp luật thời phong kiến ( qua mt s b
lut tiờu biờu) n khi phỏp in hoỏ phỏp lut ln th nht v ln th hai (nm 1985
v nm 1999) n thi im hin nay.
5. C s lý lun v cỏc ph-ơng pháp tiếp cận nghiên cứu
5.1 C s lý lun
5
C s lý lun ca lun vn l quan im ca ch ngha Mỏc Lờnin v t
tng H Chớ Minh, quan im ca ng v Nh nc ta v nh nc phỏp quyn,
quyn con ngi, quyn cụng dõn ; Ngoi ra lun vn cũn s dng, tip thu, k tha
cỏc thnh tu khoa hc chuyờn ngnh phỏp lý, cỏc nh chuyờn mụn, nh khoa hc
chuyờn ngnh phỏp lý, cỏc lun im nghiờn cu, cỏc cụng trỡnh nghiờn cu v cỏc
bi vit chuyờn ngnh phỏp lý trờn cỏc tp chớ.
5.2 Phng phỏp nghiờn cu
Các ph-ơng pháp cụ thể đ-ợc sử dụng để nghiên cứu đề tài bao gồm: phân tích,
tổng hợp; thống kê, so sánh; tổng kết kinh nghiệm; chuyên gia ; toạ đàm ; chn mu
in hỡnh; điều tra xã hội học
Phng phỏp tiếp cận hệ thống ;
Phng phỏp tip cn chn mu in hỡnh ;
Phng phỏp tip cận lịch sử và lôgic ;
Phng phỏp tip cận định tính và định l-ợng ;
Phng phỏp tiếp cận cá biệt và so sánh ;
Phng phỏp tiếp cận thực tiễn.
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở ph-ơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin và
t- t-ởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình nghiên cứu, các quan điểm của Đảng, Nhà
n-ớc, các quy định của pháp luật đ-ợc sử dụng với ý nghĩa là những căn cứ lý luận và
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung Luận văn đ-ợc cấu trúc thành 03 ch-ơng:
7
Ch-¬ng 1: Những vấn đề chung về tình thế cấp thiết trong luật hình sự Việt
Nam.
Ch-¬ng 2: Những đặc trưng pháp lý của tình thế cấp thiết và trách nhiệm hình
sự đối với trường hợp vượt quá giới hạn tình thế cấp thiết theo luật hình sự Việt Nam
hiện hành.
Ch-¬ng 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật
hình sự năm 1999 về tình thế cấp thiết.
8
- Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 13)
- Phòng vệ chính đáng (khoản 1 Điều 15)
- Tình thế cấp thiết (khoản 1 Điều 16).
Theo GS.TSKH Đào Tri Úc: những hành vi được pháp luật coi là những yếu tố
loại trừ tính chất tội phạm, về bản chất, phản ánh sự xung đột, sự va chạm của hai
phía: một phia là người bị rơi vào hoàn cảnh buộc phải có hành động nào đó và có
quyền thực hiện những hành động đó như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự
kiện bất ngờ, và một bên là lợi ích của người bị hại của hành vi đó, lợi ích của Nhà
nước hoặc của xã hội. Vì vậy, thực chất của việc điều chỉnh bằng luật hình sự các
hoàn cảnh này là giải quyết sự xung đột và va chạm giữa hai loại lợi ích đó thông qua
việc xác định các quyền và nghĩa vụ tương ứng của cả hai phía [35, tr.128].
Quan điểm pháp lý của nhà làm luật coi hành vi này không phải là tội phạm,
cho nên, những yếu tố dẫn đến hành vi ấy được coi là những yếu tố loại trừ tính chất
tội phạm của hành vi. Hành vi xảy ra trong những trường hợp đó là những hành vi
hợp pháp, mặc dù cũng cần khẳng định một vế thứ hai của những trường hợp này là:
hành vi xảy ra trong những trường hợp đó đều là những hành vi gây thiệt hại đáng kể
cho khách thể mà pháp luật hiện hành bảo vệ và nếu giả sử không xảy ra trong những
tình huống đó thì đương nhiên là hành vi hàm chứa các yếu tố cấu thành tội phạm, là
tội phạm.
Hành vi xảy ra khi có các yếu tố loại trừ tính chất tội phạm, vậy trong hành vi
đó thiếu dấu hiệu nào của tội phạm? Để trả lời cho câu hỏi đó, cần trở lại với khái
niệm “tội phạm”. Các dấu hiệu đặc trưng pháp lý của tội phạm bao gồm: tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi, tính vi phạm (trái) pháp luật, lỗi. Đa số ý kiến của các
nhà nghiên cứu nghiêng về tính nguy hiểm cho xã hội và thiếu nó mà hành vi không
bị coi là tội phạm.
10
Tuy nhiên, điều đó chỉ đúng với trường hợp phòng vệ chính đáng. Ở đó, hành
vi “đáp trả”, “tự vệ” không có tính chất nguy hiểm cho xã hội. Trong trường hợp tình
hoặc đe doạ gây thiệt hại cho xã hội, nhưng theo pháp luật họ không bị truy
cứu trách nhiệm hình sự” [23,tr.173].
- TS Nguyễn Ngọc Chí định nghĩa: “ Loại trừ trách nhiệm hình sự là
những hành vi gây thiệt hại khách quan về hình sự nhưng không bị coi là tội
phạm do không thoả mãn yếu tố lỗi và được quy định trong Bộ luật hình
sự” [18, tr.250].
- Tác giả Phạm Hải Đăng gọi những trường hợp này là “ những trường
hợp không phải là tội phạm”. Những tình tiết này làm mất đi tính nguy
hiểm cho xã hội [ 34, tr.221].
- PTS. Kiều Đình Thụ cho rằng đây là những tính tiết loại trừ tính nguy
hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật của hành vi. Đây là những hành vi do
con người thực hiện có bề ngoài giống với một tội phạm được luật hình sự
quy định, song hành vi đó thoả mãn một số điều kiện khác do luật hình sự
quy định cho nên được coi là có lợi cho xã hội, là hợp pháp và người thực
hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự [30, tr.132].
- GS.TSKH Lê Cảm thì tình thế cấp thiết là một trong các trường hợp
loại trừ tính chất tội phạm của hành vi: trường hợp loại trừ tính chất tội
phạm của hành vi là tình tiết được điều chỉnh trng pháp luật hình sự mà khi
có căn cứ do luật định thì việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự không bị
coi là tội phạm và do vậy, người gây ra thiệt hại đó không phải chịu trách
nhiệm hình sự. Bản chất của trường hợp này không bị coi là tội phạm (mặc
dù về mặt hình thức việc gây thiệt hại này có các dấu hiệu của hành vi nào
đó bị luật hình sự cấm) ”. Dưới góc độ pháp lý hình sự, bản chất pháp lý
chung, đầy đủ và toàn diện của tất cả sáu trường hợp đã nêu trong Phần
chung Bộ luật hình sự 1999 là các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm
của hành vi” [7, tr. 517].
Tuy tồn tại nhiều cách diễn đạt khác nhau về những hành vi này, nhưng chúng
đều có bản chất chung là loại trừ tính chất tội phạm của hành vi và không bị luật hình
sự coi là tội phạm và chúng đều có các dấu hiệu đặc trưng chung.
13
Cần phân biệt những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi với
những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp được miễn trách
nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã bị coi là tội phạm
nhưng trong điều kiện nhất định, Cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc Toà án xét
thấy không cần áp dụng biện pháp cưỡng chế và cho họ được miễn trách nhiệm hình
sự. Miễn trách nhiệm hình sự là người đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,
tức là họ đã thực hiện tội phạm và có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng
ở họ có thể có các lý do nhất định mà có thể miễn trách nhiệm hình sự cho họ mà
không cần buộc họ chịu trách nhiệm hình sự. Còn trong các trường hợp loại trù tính
chất tội phạm của hành vi thì hành vi đó không bị coi là tội phạm. Miễn trách nhiệm
hình sự quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự được áp dụng trong các trường hợp “khi
tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến tình hình mà hành vi phạm tội
hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Người phạm tội cũng có
thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu “ trước khi hành vi phạm tội bị phác giác,
người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần hiệu quả vào việc phát hiện và
điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế mức thấp nhất hậu quả của tội phạm”. Ngoài ra
khi có quyết định đại xá, người phạm tội cũng được miễn trách nhiệm hình sự. Hoặc
miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chấm chấm dứt việc phạm tội.
Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra định nghĩa chung về các yếu tố
loại trừ tính chất tội phạm của hành vi như sau: Các yếu tố loại trừ tính chất tội
phạm của hành vi là những yếu tố gây thiệt hại khách quan nhưng không bị coi
là tội phạm vì những hành vi đó thỏa mãn một số điều kiện khác do Luật hình
sự quy định cho nên được coi là có lợi cho xã hội, người thực hiện hành vi
không phải chịu trách nhiệm hình sự.
1.1.2 Khái niệm tình thế cấp thiết
Theo “ Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Đà
Nẵng năm 2002 do tác giả Hoàng Phê chủ biên thì:
15
GS. TSKH Lê Cảm có đưa ra khái niệm khoa học về tình thế cấp thiết như sau:
Tình thế cấp thiết là hành vi của người gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự của
một người nào đó để ngăn ngừa sự nguy hiểm đang đe dọa trực tiếp đến các lợi ích
hợp pháp của mình hoặc của những người khác, cũng như của xã hội hay của Nhà
nước, nếu sự nguy hiểm ấy không thể loại trừ được bằng cách nào khác và thiệt hại
gây ra nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa [7, tr. 553].
Khi có một nguy cơ đang đe dọa gây ra một thiệt hại nào đó, để ngăn chặn thiệt
hại xảy ra, ta có quyền gây ra một thiệt hại khác nhỏ hơn nếu đó là phương án cuối
cùng.
Ví dụ: Để tránh đám cháy lan ra cả khu, người tổ trưởng dân phố không còn
cách nào khác là cho dỡ bỏ ngôi nhà liền kề ngay đám cháy. Mục đích của người tổ
trưởng tổ dân phố là bảo vệ cả khu phố nên đành hy sinh lợi ích của một hộ gia đình
liền kề với đám cháy nhất. Mục đích của người tổ trưởng tổ dân phố là hy sinh lợi ích
nhỏ để bảo vệ lợi ích lớn hơn.
Trong Bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 262 quy định nghĩa vụ của chủ sở
hữu trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết như sau:
1. Tình thế cấp thiết là tình thế một người muốn tránh một nguy cơ đang thực
tế đe dọa của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của
người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ
hơn thiệt hại cần ngăn chặn
2. Trong tình thế cấp thiết, chủ sở hữu tài sản không được cản trở người khác
dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để
ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra
Như vậy, quy định này không chỉ xác định việc gây thiệt hại không phải là
hành vi xâm phạm quyền sở hữu mà còn xác định nghĩa vụ của chủ sở hữu trong
trường hợp này là không được cản trở người khác dùng tài sản của mình hoặc cản trở
người khác gây thiệt hại đối với tài sản của mình [15, tr.4].
17
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi
thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc
bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm
minh.”
Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là quyền của mỗi công dân được Hiến
pháp và pháp luật ghi nhận. Quy định này góp phần khuyến khích mọi tầng lớp nhân
dân tham gia đấu tranh chống tội phạm một cách tích cực.
Hai là, nó là căn cứ pháp lý quan trọng để quần chúng nhân dân tiến hành hoạt
động đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ tài sản, lợi ích hợp pháp nhà nước, của xã hội
và của công dân.Tình thế cấp thiết trong pháp luật hình sự là một quy định mang tính
chất tích cực, thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, tổ chức và công dân, là một bước cụ
thể hóa các quyền và nghĩa vụ công dân theo tinh thần Chương V của Hiến pháp
1992.
Ba là, Quy định về tình thế cấp thiết phản ánh nguyên tắc nhân đạo của chính
sách hình sự nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Pháp luật hình sự Việt Nam
phản ánh ý thức pháp luật các quan niệm đậo đức của dân tộc ta, có mục đích, nội
dung nhân đạo sâu sắc. Việc quy định hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết
không phải là tội phạm khuyến khích con người hành động vì lợi ích của xã hội, của
cộng đồng, của quốc gia. Quy định về tình thế cấp thiết khuyến khích thiệt hại gây ra
là nhỏ nhất bằng việc gây thiệt nhại nhỏ hơn thiệt hại sẽ diễn ra. Điều này thể hiện
tinh thần pháp luật tiến bộ, thể hiện tính nhân văn trong pháp luật. Pháp luật xoay
quanh con người, vì con người.
Bốn là, góp phần giúp các cơ quan tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
và Toà án xác định được ranh giới và có căn cứ phân biệt được đâu là tội phạm và
đâu là hành vi không phải là tội phạm, nhằm tránh được oan sai và bỏ lọt tội phạm.
18
độ tương ứng của thiệt hại mà chủ thể đã gây ra và có hậu quả xảy ra. Hậu quả có
mối quan hệ nhân quả với hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên hậu quả xảy ra trong tình
thế cấp thiết nhỏ hơn hậu quả bị đe dọa thực tế nếu không có hành động gì.
Tình thế cấp thiết đã có các hành vi gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được
luật hình sự bảo vệ một cách cố ý của người gây ra thiệt hại. Người đó nhận thức
được hành vi của mình có sẽ gây ra thiệt hại nhưng vẫn được Nhà nước khuyến khích
thực hiện.
Về mặt chủ quan, mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua ba yếu
tố: lỗi, động cơ phạm tội, mục đích phạm tội.
Một hành vi được xem là tính có lỗi khi có đủ hai điều kiện:
- Hành vi trái pháp luật hình sự.
- Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện
hành vi trong khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác
không trái pháp luật hình sự.
Về mặt chủ quan, hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết tùy từng trường
hợp tương ứng có thể được thực hiện với thái độ tâm lý là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của
chủ thể.
Trong tình thế cấp thiết, chủ thể thấy trước được hậu quả của hành vi của
mình nhưng không thể không thực hiện hành vi vì muốn ngăn chặn một hậu quả khác
lớn hơn.
Động cơ và mục đích phạm tội trong tình thế cấp thiết là muốn ngăn chặn thiệt
hại lớn hơn cho Nhà nước, xã hội, lợi ích chính đáng của công dân.
Vậy, hành động trong tình thế cấp thiết được loại trừ do thiếu một trong các
dấu hiệu của tội phạm - thiếu “tính trái pháp luật của hành vi” (tức là không bị pháp
20
luật hình sự quy định là tội phạm), mặc dù về mặt hình thức việc gây thiệt hại về mặt
pháp lý hình sự có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định trong Phần các tội
phạm Bộ luật hình sự, nhưng nó đều không trái pháp luật (không bị coi là tội phạm)