Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội với tư cách là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI QUANG VINH
LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN ĐỂ PHẠM TỘI
VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
Hà nội - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Bùi Quang Vinh
VỤ, QUYỀN HẠN" ĐỂ PHẠM TỘI TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
7
1.1.
Khái niệm, đặc điểm của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự và phân biệt tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
với các tình tiết khác có liên quan
7
1.1.1.
Khái niệm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
7
1.1.2.
Đặc điểm của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
13
1.1.3.
Phân biệt các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với các
tình tiết khác có liên quan của vụ án
15
1.2.
Khái niệm, đặc điểm của tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền
hạn và sự cần thiết quy định tình tiết lợi dụng chức vụ quyền
hạn là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật hình
sự Việt Nam
21
1.2.1.
Khái niệm chức vụ, quyền hạn và người có chức vụ, quyền hạn
21
1.2.2.
Khái niệm lợi dụng chức vụ, quyền hạn và các hình thức lợi
dụng chức vụ, quyền hạn

HÌNH SỰ "LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN" ĐỂ
PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
50
2.1.
Khái quát vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội
trong pháp luật hình sự Việt Nam
50
2.1.1.
Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam
50
2.1.2.
Vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội trong pháp
luật hình sự Việt Nam thời phong kiến (trước năm 1945)
52
2.1.3.
Vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội trong các
văn bản pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước
khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời
56
2.1.4.
Vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội trong Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1985
61
2.1.5.
Vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội trong Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999
63
2.2.
Quy định của bộ luật hình sự việt nam năm 1999 về tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự "lợi dụng chức vụ, quyền hạn"

89
3.3.
Một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
"lợi dụng chức vụ, quyền hạn"
95
3.3.1.
Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định về tình tiết
tăng nặng "lợi dụng chức vụ, quyền hạn"
95
3.3.2.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "lợi dụng chức vụ, quyền hạn"
98

KẾT LUẬN
102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
105

7
DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng

xã hội của nó. Tùy theo tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
người ta phân chia tội phạm thành các nhóm, các tội danh cụ thể và áp dụng
các khung hình phạt khác nhau trong cùng một tội danh, cũng như cá thể hóa
hình phạt trong mỗi khung hình phạt đối với từng trường hợp cụ thể.
Chúng ta biết rằng mức độ nguy hiểm của tội phạm được quy định bởi
nhiều thuộc tính, yếu tố như: tầm quan trọng của mối quan hệ xã hội bị xâm
hại, mức độ lỗi, động cơ, mục đích, nhân thân của chủ thể, thủ đoạn phạm tội,
thời gian, địa điểm phạm tội, hậu quả thiệt hại xảy ra Tổng hợp tất cả những
yếu tố đó cho phép xác định mức độ nguy hiểm nhất định của tội phạm cụ thể,
làm cơ sở cho việc quy định tội phạm trong luật, cũng như trong các trường
hợp cụ thể là cơ sở quyết định trách nhiệm hình sự mà người thực hiện tội
phạm phải gánh chịu.
Trong số những người thực hiện hành vi phạm tội có một nhóm người
có đặc điểm là họ được trao quyền lực nhất định trong các quan hệ xã hội, thể
hiện dưới hình thức một chức vụ, quyền hạn nào đó. Nói cách khác họ có "ưu
thế" hơn những người khác trong việc tiếp cận, thực hiện hành vi xâm phạm
đến các quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ, cũng như có khả năng
cao hơn trong việc che giấu trốn tránh trách nhiệm khi xâm hại các quan hệ xã
hội đó. Chính vì vậy trong một số trường hợp nhất định, nếu tội phạm được
thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn thì bị coi là có tính chất và mức độ

9
nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với người bình thường. Đó chính là cơ sở
khác quan để Bộ luật hình sự nước ta quy định tình tiết "lợi dụng chức vụ,
quyền hạn" là một tình tiết tăng nặng, đồng thời trong một số tội phạm cụ thể
còn lấy làm tình tiết tăng nặng định khung. Việc quy định như vậy một mặt
thể hiện quan điểm khoa học: lấy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm làm "thước đo" chủ yếu cho trách nhiệm hình sự và hình phạt, mặt
khác thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là Nhà nước "của
dân, do dân, vì dân", cán bộ công chức, tức là những người thường mang một

trong luật hình sự Việt Nam" của thạc sĩ Phan Thị Bích Hiền - Trường Đại
học Cảnh sát nhân dân; "Vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội"
của PGS.TS Trần Văn Độ - Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án
Tòa án Quân sự Trung ương; Đề tài khoa học mã số KXBD 02 về "đấu tranh
chống tham những - những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Ban Nội chính
Trung ương; các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu của TS. Nguyễn Mạnh Kháng,
TS.Nguyễn Ngọc Chí, GS.TS Đỗ Ngọc Quang, PGS.TS Võ Khánh Vinh…
Tuy nhiên điểm chung của các công trình này là nghiên cứ lý luận,
thực tiễn vấn đề lợi dụng chức, quyền hạn để phạm tội nói chung, đi sâu
nghiên cứu các tội phạm về tham nhũng và chức vụ mà chưa đi sâu nghiên
cứu về lý luận và thức tiễn vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội
với tư cách là tình tiết tăng nặng.
Xuất phát từ thực tế này cho thấy việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa
về lý luận và thực tiễn vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội với tư
cách là tình tiết tăng nặng nhằm từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động cá
thể hóa trách nhiệm hình sự và hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự là
việc làm cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội với
tư cách là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt
Nam" nhằm đạt được những mục đích như sau:

11
- Củng cố tri thức về cơ sở khoa học của việc quy định tình tiết "Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn" là tình tiết tăng nặng.
- Nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống các quy định của pháp
luật hình sự nước ta liên quan đến vai trò của tình tiết "Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn" đối với việc định khung và quyết định hình phạt.
- Nghiên cứu những vấn đề phát sinh trong thực tiễn áp dụng tình tiết
trên để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm, trên cơ sở đó đề

nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng tình tiết tăng nặng này trong quá trình
quyết định hình phạt của cơ quan tiến hành tố tụng.
Trong luận văn này, lần đầu tiên:
- Có sự nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về khái niệm
chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phân biệt các trường hợp
lợi dụng chức vụ, quyền hạn. So sách để chi ra điểm giống và khác nhau giữa
lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội với tư cách là tình tiết tăng nặng nói
chung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự với lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để phạm tội với tư cách là tình tiết tăng nặng định khung quy
định tại một số tội phạm cụ thể cũng như phân biệt giữa lợi dụng chức vụ,
quyền hạn với tư cách là tình tiết tăng nặng với lợi dụng chức vụ, quyền hạn
với tư cách là tình tiết định tội trong nhóm các tội phạm về chức vụ.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn
để phạm tội với tư cách là tình tiết tăng nặng của các cơ quan tiến hành tố
tụng trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến khi luận văn hoàn thành.
- Kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự và hướng dẫn áp dụng quy định về tình tiết tăng nặng "lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để phạm tội".

13
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về lý
luận và thực tiễn sau đây:
- Ý nghĩa lý luận: Với các kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn có
giá trị tham khảo hữu ích cho cán bộ làm công tác thực tiễn áp dụng pháp
luật, cán bộ làm công tác nghiên cứu và cán bộ giáo viên, sinh viên các trường
Đại học.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, góp
phần thiết thực trong việc nâng cao nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm nói chung, tội phạm về chức vụ quyền hạn nói riêng

phải gánh chịu hậu quả", nghĩa thứ hai "trách nhiệm là sự ràng buộc với lời nói
hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu hậu quả".
Trong lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ "trách nhiệm" cũng được hiểu
theo hai nghĩa, theo nghĩa tích cực là chức trách bổn phận pháp luật quy định
phải làm hoặc theo nghĩa tiêu cực là hậu quả pháp lý của việc vi phạm pháp
luật. Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, ngoài ra trách
nhiệm pháp lý còn bao gồm trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính,
trách nhiệm kỷ luật.
Theo quan niệm truyền thống người ta thường hiểu trách nhiệm hình
sự theo nghĩa thứ hai, tức đó là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay có một
số quan điểm chính.

15
Theo GS.TSKH Lê Cảm thì "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý
của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người
phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự
quy định" [8]. GS.TS Đỗ Ngọc Quang thì cho rằng:
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý,
là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi
do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm
của hành vi mà người đó đã thực hiện [40].
Còn theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị
Sơn thì "Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm
nghĩa vụ phải chịu tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu
bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện
pháp tư pháp) và chịu án tích" [32].
Các quan điểm nói trên đều nêu bật lên được bản chất của trách nhiệm
hình sự chính là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý của

người phạm tội, những hoàn cảnh, tình huống, đối tượng, hậu quả có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm qua đó phản ánh tính nguy hiểm
của tội phạm, trách nhiệm hình sự của người phạm tội, phản ánh quan điểm
của Nhà nước ta về tội phạm cũng như chính sách hình sự của Nhà nước.
Người ta có thể có nhiều cách phân loại các "tình tiết hình sự", căn cứ
vào các biểu hiện của tội phạm thuộc các yếu tố cấu thành tội phạm có thể
phân biệt:
- Tình tiết thuộc mặt khách quan của tội phạm như tính chất của hành
vi, thủ đoạn, phương tiện phạm tội, hậu quả xảy ra Ví dụ: hành vi có tính
côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, dùng hung khí nguy hiểm có khả năng gây
hại cho nhiều người, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

17
- Tình tiết thuộc khách thể của tội phạm như đối tượng tác động, mối
quan hệ xã hội bị xâm hại ví dụ: tài sản nhà nước, phạm tội đối với trẻ em,
người già, phụ nữa có thai
- Tình tiết thuộc mặt chủ quan của tội phạm như lỗi, động cơ, mục
đích phạm tội ví dụ: động cơ để hèn, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng
- Tình tiết thuộc chủ thể của tội phạm và nhân thân người phạm tội
như phạm tội lần đầu hay tái phạm nguy hiểm
Căn cứ về ý nghĩa và tầm quan trọng của mỗi tình tiết đối với các
trường hợp phạm tội cụ thể ta có thể chia ra làm các tình tiết cơ bản sau:
- Tình tiết định tội.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
* Khái niệm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hiện nay trong
pháp luật hình sự thực định nước ta mà cụ thể là Bộ luật hình sự năm 1999,
không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
Từ nghĩa "tăng nặng" là làm tăng thêm trọng lượng, làm trầm trọng thêm

- Theo TS. Dương Tuyết Miên:
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình
tiết được quy định trong Bộ luật hình sự phản ánh mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khả năng cải tạo giáo dục
của người phạm tội. Các tình tiết tăng nặng có ý nghĩa trong việc
quyết định hình phạt, làm tăng hình phạt trong giới hạn một khung
hình phạt [35].
- Theo TS Trịnh Tiến Việt:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết được quy
định trong Bộ luật hình sự với tính chất là tình tiết tăng nặng chung

19
và là một căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người
phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung
hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này [74].
Các quan điểm trên ngoại trừ quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc
Hòa thì đều có chung hai ý chính, đó là:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết phản ánh mức độ
nguy hiểm tăng lên của hành vi phạm tội;
- Là căn cứ để quyết định tăng mức hình phạt trong giới hạn một
khung hình phạt.
Vậy vấn đề đặt ra là những tình tiết định khung tăng nặng có được coi
là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không khi nó cũng phản ánh
mức độ nguy hiểm tăng lên của hành vi phạm tội nhưng nó không phải là căn
cứ để tăng mức hình phạt trong giới hạn một khung hình phạt mà nó là căn cứ
để chuyển lên một khung hình phạt khác nặng hơn.
Theo ý kiến của tác giả thì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ở
nghĩa là tình tiết tăng nặng chung là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999, các tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự chung áp dụng cho tất cả các tội phạm và nó

1.1.2. Đặc điểm của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Xuất phát từ khái niệm và các quy định của Bộ luật hình sự ta có thể chỉ
ra một số đặc điểm cơ bản của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi xuất hiện chỉ làm thay
đổi theo hướng tăng lên mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
cụ thể, căn cứ vào đó Tòa án áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn đối với
hành vi phạm tội cụ thể đó chứ nó không làm thay đổi được tính chất của tội
phạm đó.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhất thiết phải được ghi nhận
trong Bộ luật hình sự, không thể được ghi nhận trong các văn bản pháp lý nào

21
khác. Tòa án khi quyết định hình phạt không thể tự động xem xét, nhận định
một tình tiết nào đó là tình tiết tăng nặng nếu nó không được ghi nhận trong
Bộ luật hình sự như đối với việc nhận định và áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Đây
là điểm khác biệt rất quan trọng so với các tình tiết giảm nhẹ, vốn có thể "mở
rộng" theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
- Nếu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong một cấu thành
tội phạm cụ thể được quy định là tình tiết định tội, tức nó làm thay đổi tính
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì khi quyết định hình phạt Tòa án
không được sử dụng nó với ý nghĩa là tình tiết tăng nặng nữa.
Ví dụ: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để phạm tội" là những tình tiết định tội được quy định tại các tội như:
Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm
trọng - điều 165; tội tham ô tài sản - Điều 278; tội nhận hối lộ - Điều 279 do
đó khi quyết định hình phạt đối với các tội này Tòa án không được áp dụng
tình tiết tăng nặng "lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội" quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 48 khi lượng hình.
- Khi một tình tiết tăng nặng đã sử dụng để định khung hình phạt tăng
nặng (tức coi nó là tình tiết tăng nặng định khung) thì không coi là tình tiết

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết phản ánh
mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội
có thể chịu trách nhiệm hình sự ở mức thấp hơn. Tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự, trong các văn bản hướng
dẫn áp dụng pháp luật hoặc do Tòa án cân nhắc, xem xét quyết định trong quá
trình xét xử các vụ án cụ thể.
Điểm giống nhau giữa hai loại tình tiết này là chúng đều là căn cứ để
tòa án quyết định hình phạt, đều là những tình tiết mang tính chất riêng biệt
của trường hợp phạm tội cụ thể, là biểu hiện của hoàn cảnh, tình huống, cách

23
thức thực hiện tội phạm, nhân thân người phạm tội, hậu quả của tội phạm
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đều ảnh hưởng nhất định đến mức độ trách nhiệm hình sự, chúng
không làm thay đổi được tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà chỉ
làm thay đổi mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Xét về vị trí của các tình tiết này trong Bộ luật hình sự, chúng đều
được phân ra làm 02 nhóm là nhóm được quy định trong phần chung và nhóm
quy định trong phần các tội phạm. Trong phần chung Bộ luật hình sự thì các
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48, các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46. Trong phần
các tội phạm thì các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được gọi là các
tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại các khung tăng nặng của các
điều luật quy định về các tội phạm cụ thể còn các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự gọi là các tình tiết giảm nhẹ định khung được quy định tại các
khung giảm nhẹ của các điều luật quy định về các tội phạm cụ thể. Các tình
tiết giảm nhẹ định khung, hiện nay, chỉ còn gặp trong một số ít loại tội phạm
thuộc nhóm "Các tội xâm phạm an ninh quốc gia" với các tình tiết là: có
nhiều tình tiết giảm nhẹ; người đồng phạm khác; phạm tội trong trường hợp ít
nghiêm trọng

3
Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình
trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc
những khó khăn đặc biệt khác của xã hội
để phạm tội
Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
mà không phải do mình tự gây ra
4
Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng
Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm
bớt tác hại của tội phạm
5
Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai,
người già, người ở trong tình trạng
không thể tự vệ được hoặc đối với người
lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần,
công tác hoặc các mặt khác
Người phạm tội là phụ nữ có thai;
Người phạm tội là người già;Người
phạm tội là người có bệnh bị hạn chế
khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình
6
Có hành động xảo quyệt, hung hãn
nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm
Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ
quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra
tội phạm
7
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

- Về vị trí được quy định của các tình tiết
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chỉ được quy định duy nhất
trong Bộ luật hình sự còn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự còn được quy
định trong các văn bản dưới luật như tại điểm c, mục 5 Nghị quyết số
01/2000/NQ-HĐTP quy định các tình tiết sau được coi là tình tiết giảm nhẹ
khác: [62]
- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công
với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh

Trích đoạn Vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội trong cỏc văn bản phỏp luật hỡnh sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi Bộ luật Vấn đề lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội trong Bộ luật hỡnh sự Việt Nam năm QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HèNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VỀ TèNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HèNH SỰ "LỢI DỤNG CHỨC VỤ, SO SÁNH VỚI BỘ LUẬT HèNH SỰ NƯỚC CỘNG HềA NHÂN DÂN TRUNG HOA THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status