Giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN PHƢƠNG THẢO

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế
2.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Thanh Trì,
thành phố Hà Nội 31
2.1.1. Điều kiện tự nhiên về đất đai 31
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội 32
2.1.2.1. Về Kinh tế: 33
2.1.2.2. Về Văn hóa xã hội 34
2.1.2.3. Về y tế 35
2.1.3. Vị trí vai trò của huyện Thanh Trì trong sự phát triển của thủ đô
Hà Nội 35
2.2. Thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Thanh
Trì, thành phố Hà Nội 37
2.2.1. Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành
phố Hà Nội 37
2.2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật để giải quyết khiếu nại đất đai trên
địa bàn huyện Thanh Trì 44
2.2.2.1. Thực trạng áp dụng các quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu
nại đất đai 44
2.2.2.2. Thực trạng áp dụng các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết
khiếu nại đất đai 45
2.2.3. Đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. 50
2.2.3.1. Thành công 50
2.2.3.2. Tồn tại, hạn chế 52
2.2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 54
2.2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan 58
2.2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan 59
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
VỀ ĐẤT ĐAI THÔNG QUA VIỆC NGHIÊN CỨU THỰC
TRẠNG ÁP DỤNG TẠI HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ

đất đai liên quan đến nguyên nhân phát sinh khiếu nại về đất đai . 74
3.2.3. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu
nại về đất đai 75
3.2.3.1. Tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại về đất đai tồn
đọng, không để phát sinh thành điểm nóng, khiếu kiên đông người
gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội 75
3.2.3.2 Dự báo được tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai tại địa phương
mình quản lý 75
3.2.3.3. Hạn chế phát sinh những đơn thư khiếu nại về đất đai mới 76
3.2.3.4. Thống nhất nhận thức về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu
nại, tố cáo về đất đai của các cấp ủy, chính quyền các cấp. 77
3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát trong lĩnh vực
quản lý đất đai, giải quyết khiếu nại về đất đai 77
3.2.5. Giáo dục pháp luật, đạo đức, nghiệp vụ về giải quyết khiếu nại, tố
cáo liên quan đến đất đai cho cán bộ, công chức 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
1 PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, được
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận:
“Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.”
Quyền khiếu nại của công dân được quy định cụ thể hơn trong Luật
Khiếu nại 2011.

khiếu nại đất đai trên một địa bàn cụ thể.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1.Mục đích:
Mục đích của đề tài là hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc xây dựng các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại đất đai của
các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thông qua việc nghiên cứu thực tế tại địa
bàn một huyện ngoại thành của Thành phố Hà Nội; qua đó đề xuất những
quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải
quyết khiếu nại về đất đai nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan
trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Là tài liệu có giá trị tham khảo cho các cơ quan hành chính trong việc
giải quyết khiếu nại về đất đai của huyện Thanh Trì và là tài liệu tham khảo
cho sinh viên, học viên của Khoa luật- ĐHQG Hà Nội nghiên cứu, tìm hiểu
về hệ thống pháp luật khiếu nại nói chung và các quy định về giải quyết khiếu
nại đất đai nói riêng.
3 2.2.Nhiệm vụ:
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác
định cụ thể gồm:
- Luận giải những vấn đề lý luận chung và pháp luật về khiếu nại, quyền
khiếu nại, khiếu nại về đất đai và giải quyết khiếu nại đất đai.
- Đánh giá thực trạng khiếu nại về đất đai và thực trạng áp dụng pháp
luật giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Thanh Trì.
- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ
thống pháp luật về giải quyết khiếu nại đất đai ở nước ta.
3. Đối tƣợng, phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các quy định hiện hành về giải quyết khiếu nại nói chung và giải quyết

2005;
Tuy nhiên, các công trình nêu trên nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về
khiếu nại nói chung và khiếu nại về đất đai nói riêng…
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh
vực đất đai.
Chương 2: Thực trạng áp dụng PL về giải quyết khiếu nại đất đai thông
qua cơ quan hành chính trên địa bàn huyện Thanh Trì.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả
giải quyết khiếu nại về đất đai thông qua việc nghiên cứu thực trạng áp dụng
tại huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. 5 Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

1.1. KHIẾU NẠI VÀ QUYỀN KHIẾU NẠI
1.1.1. Khái niệm khiếu nại
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi
nhận tại điều 74 của Hiến pháp năm 1992 :
Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan
Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân
hoặc bất cứ cá nhân nào.

cán bộ công chức là đối tượng trực tiếp bị tác động bởi quyết định hành chính,
hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ công chức yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính,
hành vi hành chính là đối tượng của khiếu nại. Đề nghị này xuất phát từ nhận
thức chủ quan của người khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính tác động trực tiếp đến họ. Nhận thức đó có thể đúng hay sai, nó
chỉ được kết luận khi có cá nhân hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại tiến hành xác minh, xem xét một cách khách quan, thận trọng
dựa trên cơ sở nhưng tài liệu, chứng cứ hiện có và đưa ra kết luận.
Nhìn ở góc độ quyền công dân, khiếu nại chính là hành động của chính
công dân để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị cơ quan nhà
nước hay cá nhân có thẩm quyền xâm hại thông qua quyết định hành chính
hay hành vi hành chính mà họ ban hành hay thực hiện. Cũng giống như các
quyền lao động, học tập, sở hữu, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…của công dân,
quyền khiếu nại của công dân được Nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện.
7 Khiếu nại có các đặc điểm sau đây:
Về chủ thể: Chủ thể của khiếu nại có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân,
cán bộ công chức bất bình trước quyết định hay hành vi hành chính của cơ
quan nhà nước. Các văn bản pháp luật trước đây chỉ quy định quyền khiếu nại
của công dân mà không quy định quyền khiêu nại của cơ quan, tổ chức. Qua
thực tế nghiên cứu không chỉ có công dân mà các tổ chức kinh tế, xã hội cũng
chịu sự tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính. Đồng thời,
trong quá trình quản lý nhà nước, các cơ quan nhà nước cũng có những quyết
định hành chính, hành vi hành chính ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ
quan nhà nước khác. Vì vậy, khoản 4 Điều 2 Luật khiếu nại 2011 đã quy định
cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ

tượng khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ công chức.
Quyết định hay hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước hay của
nhân viên Nhà nước khi thi hành nhiệm vụ gây thiệt hại trực tiếp đến quyền,
lợi ích của ai thì người đó có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để yêu cầu xem xét lại đối với quyết định hay việc làm đó.
Quyết định hành chính được hiểu là văn bản do cơ quan hành chính Nhà
nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước
được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn
đề cụ thể trong hoạt động quản lý nhà nước. Khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng
hành chính quy định: Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính
nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ
quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động
9 quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng
cụ thể.
Như vậy, một quyết định hành chính phải bao gồm đầy đủ 3 yếu tố:
- Về hình thức thể hiện dưới dạng văn bản
- Về chủ thể ban hành là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành.
- Về hiệu lực pháp lý, là quyết định được áp dụng một lần đối với một
hoặc một số đối tượng cụ thể. Hay nói cách khác quyết định hành chính là
quyết định cá biệt, có phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh cụ thể, rõ ràng
và cá biệt. Hiệu lực của quyết định này sẽ chấm dứt khi quyết định đó được
đối tượng điều chỉnh thi hành [31].
Có thể nhận thấy, so với quy định của Luật Khiếu nại tố cáo 1998 sửa
đổi bổ sung năm 2004, 2005, quy định của Luật Khiếu nại 2011 về quyết định

nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước chứ
không chỉ dừng lại ở việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ như Luật Khiếu nại, tố
cáo cũ quy định.
Một hành vi là hành vi hành chính khi nó có các đạc điểm sau:
- Hành vi thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Cơ quan
hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước có hành động không đúng với quy định của pháp luật hoặc họ
không hành động đúng với quy định của pháp luật về nhiệm vụ, chức trách họ
phải làm khi họ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao.
- Chủ thể thực hiện hành vi hành chính là cơ quan hành chính hay người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.
- Hành vi hành chính là đối tượng của khiếu nại khi nó được cơ quan
hành chính nhà nước hay người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
11 nhà nước thực hiện trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của
pháp luật.
- Hành vi hành chính chỉ có hiệu lực pháp luật một lần mà không có giá
trị áp dụng với một số trường hợp khác.
Quyết định kỷ luật là “quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ
quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công
chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ,
công chức” [20, tr. 97]. Những quyết định này không bao gồm quyết định kỷ
luật đối với người làm công ăn lương theo quy định của Bộ luật Lao động,
quyết định kỷ luật trong cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng Công an nhân dân,
Quân đội nhân dân cũng như quyết địnhn kỷ luật của các tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị- xã hội.
Như vậy, đối tượng của khiếu nại là quyết định hay việc làm trái pháp
luật đã trực tiếp gây thiệt hại cho người khiếu nại khi cá nhân, cơ quan nhà

cách khách quan, đầy đủ hiện thực nền dân chủ [33].
Quyền khiếu nại của công dân được hiểu là một khái niệm pháp lý thể
hiện qua việc công dân có thể tự định đoạt việc đưa kiến nghị, khiếu nại đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Và đến lượt mình, các cơ quan đó phải có
trách nhiệm nghiên cứu, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại tuân theo một
trình tự và thời hạn luật định. Như vậy, quyền khiếu nại chỉ xuất hiện trong
mối liên hệ với quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Thông qua
việc trao cho cá nhân, cơ quan, tổ chức quyền khiếu nại, Nhà nước đảm bảo
các quyền lợi chính đáng của công dân được bảo vệ trước bất kỳ sự xâm
phạm nào cho dù chủ thể xâm phạm có là cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm
quyền. Đây chính là phương thức bảo vệ quyền lợi của công dân của Nhà
nước. Mặt khác, trao quyền khiếu nại cho công dân cũng là cách Nhà nước
bảo vệ lợi ích của mình, củng cố, giám sát bộ máy của mình tránh những sai
13 lầm, thiếu sót trong quá trình quản lý đồng thời tăng cường mối quan hệ giữa
nhà nước và công dân, xây dựng lòng tin của quần chúng đối với Đảng, đối
với Nhà nước, đối với chế độ. Hình thức giám sát này thực tế cho thấy rất
hiệu quả vì khi lợi ích bị cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xâm
phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng sẽ có những phản ứng để bảo vệ lợi ích của
mình. Những phản ứng này mang tính chất tự giác và thường rất quyết liệt
cho đến khi quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khiếu nại được khôi phục. Sở
dĩ như vậy vì xuất phát từ tâm lý chủ thể khiếu nại là luôn mong muốn được
cơ quan, các nhân, tổ chức có thẩm quyền giải quyết sự việc theo ý nguyện
của mình một cách nhanh chóng, do đó chủ thể khiếu nại sẽ bằng mọi cách
chứng minh sự sai xót, vi phạm trong quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo nhận thức chủ quan
của họ. Bên cạnh đó, pháp luật cho phép chủ thể khiếu nại có thể tự mình thực
hiện quyền khiếu nại hoặc ủy quyền cho người khác khiếu nại. Trao quyền

- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ.
- Tổng thanh tra Chính phủ.
- Chánh thanh tra các cấp.
- Thủ tướng Chính phủ.
Nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại là khi phát sinh
khiếu nại thì quyết định hành chính, hành vi hành chính của ai thì người có
quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc cơ quan có cán bộ, công chức
có hành ci hành chính bị khiếu nại phải giải quyết khiếu nại lần đầu. Trong
trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại
lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì
Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
lần đầu phải giải quyết lần hai ( nếu người khiếu nại khiếu nại lần hai mà
15 không khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án). Như vậy, có thể hiểu người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; quyết định hành chính,
hành vi hành chính của người có trách nhiệm, của cán bộ, công chức do mình
quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại mà cấp dưới trực tiếp đã giải quyết
nhưng vẫn còn khiếu nại.
Đối với giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức trong cơ quan
hành chính nhà nước thì khiếu nại lần đầu đối với quyết định kỷ luật của thủ
trưởng cơ quan nào thì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu, thẩm quyền khiếu nại lần hai
được quy định như sau:
Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại
quyết định kỷ luật mà chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, giám đốc sở đã
giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại.

khiếu nại [20, tr. 104].
Hiểu theo nghĩa thông thường, thời hiệu khiếu nại được hiểu là khoảng
thời gian cần thiết đặt ra đối với người khiếu nại kể từ khi nhận được quyết
định hành chính hay biết được có hành vi hành chính mà tự mình quyết định
có thực hiện quyền khiếu nại hay không. Đây là khoảng thời gian cần thiết
để người khiếu nại xem xét, cân nhắc, đánh giá về quyết định hành chính,
hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện
đối với mình.
Quy định về thời hiệu khiếu nại là biện pháp Nhà nước đưa ra để thực
hiện việc giải quyết khiếu nại nhanh chóng, dứt điểm, tránh trường hợp một
vụ việc phát sinh từ nhiều năm trước, các quyết định hành chính, hành vi hành
17 chính đã được thực hiện, hiệu quả của nó và các vấn đề có liên quan đã có
nhiều biến đổi dẫn đến việc giải quyết gặp nhiều khó khăn.
Về thời hạn khiếu nại lần 2, Điều 33 Luật khiếu nại quy định thời hạn
khiếu nại lần 2 là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý hoặc kể từ ngày hết thời hạn
giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại 2011; đối với vũng
sâu, vừng xa, đi lại khó khăn thì có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày kể
từ ngày hết thời hạn giải quyết lần đầu mà khiếu nại không được giải quyết
hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người
khiếu nại không đồng ý.
Việc quy định thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết lần 2 nhằm đảm
bảo tính liên tục, ổn định của nền hành chính, bảo đảm cho việc giải quyết
khiếu nại được nhanh chóng, hiệu quả hơn.
1.1.5. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về khiếu nại ở
Việt Nam
Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận: tất cả quyền bính trong nước Việt

bản nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền làm chủ
trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, kiểm tra, giám sát hoạt
động của cán bộ, nhân viên nhà nước, tổ chức xã hội trong việc thi hành chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo vệ lợi ích Nhà nước, tập thể,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đồng thời quy định trách nhiệm của
mỗi cấp mỗi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nâng cao tinh
thần phục vụ nhân dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân [34].
Kế thừa, sửa đổi và bổ sung một số Điều của Hiến pháp 1959, Hiến Pháp
1980 quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cụ thể, chi tiết hơn.
Ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh quy định việc
19 xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Đây là văn bản pháp lý
đầu tiên quy định đầy đủ, chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại,
tố cáo của công dân. Có thể nói, đây là tiền thân của Luật khiếu nại, Luật tố
cáo hiện nay.
Sau 10 năm thi hành, căn cứ tình hình thực tế đã có nhiều thay đổi, một
số quy định của pháp lệnh cũ không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, năm
1991 Nhà nước ta ban hành Pháp lệnh 1991 thay thế pháp lệnh năm 1981.
Pháp lệnh năm 1991 có nhiều điểm thể hiện sự đổi mới về mặt nhận thức
quyền khiếu nại, tố cáo.
Năm 1998, Quốc hội thông qua Luật khiếu nại, tố cáo thay thế Pháp
lệnh khiếu nại, tố cáo năm 1991. Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI đã thông
qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo.
Năm 2011, Quốc hội thông qua Luật khiếu nại, Luật tố cáo có hiệu lực
thi hành từ ngày 1/7/2012.
1.2. KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ
ĐẤT ĐAI

hành vi hành chính trái pháp luật trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.
Khách thể của khiếu nại về đất đai là sự bảo đảm của Nhà nước đối với
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Đối tượng khiếu nại về đất đai bao gồm: quyết định hành chính và hành
vi hành chính liên quan đến quá trình quản lý đất đai.
Quyết định hành chính bị khiếu nại trong quản lý đất đai theo quy định
tại khoản 1 Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành
Luật Đất đai gồm: Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, thu hồi đất,
trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định bồi thường
giải phóng mặt bằng, tái định cư, quyết định cấp, thu hồi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất. Hành vi hành

Trích đoạn Thực trạng áp dụng các quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu Thực trạng áp dụng các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết Thành công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status