Mô hình tổ chức cơ quan tài phán hành chính ở một số nước trên thế giới và việc vận dụng vào điều kiện Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN DANH TÚ
MÔ HÌNH TỔ CHỨC c ơ QUAN TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH Ở MỘT số Nước
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO ĐIỂU KIỆN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
MÃ SỐ : 603801
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
• • • •
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. PHẠM HỔNG THÁI
ĐAI H O C Q U Ố C G IA HÀ NỘI
TRUNG TẦM THÒNG TIN THƯ VIỀN
V - Lũ/ / M 4 * ~
Hà Nội - Năm 2006
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Mở đ ầ u 1
Chương 1 - Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH c ơ QUAN TÀI PHÁN 6
HÀNH CHÍNH
.

1.1. Lý thuyết phân quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp trong nhà nước 6
tư sản
1.2. Lý thuyết về hành chính điều hành và hành chính tài phán 7
1.3. Khiếu kiện và viộc giải quyết khiếu kiộn ở một số nước

8
1.3.1. Khiếu kiện ở một số nước 8
1.3.2. Việc giải quyết khiếu kiện ở một số nước

ở Cộng hòa nhân dân Trung H oa
2.3.2. Tổ chức cơ quan tài phán hành chính ở Cộng hòa nhân dân 50
Trung H oa

.

.

2.4. Cơ quan tài phán hành chính ở Hàn Quốc

51
2.5. Cơ quan tài phán hành chính ở Singapo 54
Chương 3 - NHŨNG KINH NGHIỆM RÚT RA VÀ MỘT số KIẾN NGHỊ

58
3.1. Những kinh nghiệm rút ra 58
3.2. Một số vướng mắc trong cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở 61
nước ta hiện n a y
3.2.1. Khái quát về cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước t a

6 1
3.2.1.1. Cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính tại cơ quan hành chính 64
đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính
3.2.1.2. Cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính tại Toà á n

67
3.2.2. Thực trạng giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta

74
3.2.2.1. Tinh hình giải quyết khiếu nại, tố cá o

Năm 1995 với sự ra đời của Toà hành chính trong hộ thống Toà án nhân
dân (theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điểu của Luật Tổ chức Toà án nhân dân
được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ mười thông qua ngày 28 tháng 10 năm
1995), ngày 21 tháng 5 năm 1996 Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính có hiộu lực từ 01 tháng 7
năm 1996 (sửa đổi, bổ sung nãm 1998 và năm 2006), ngày 02 tháng 12 năm
1998 Quốc hội thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi, bổ sung năm 2004
và năm 2005), cơ chế tài phán hành chính ở nước ta đã từng bước được hình
thành và hoàn thiộn. Cơ chế tài phán hành chính này đã góp phần quan trọng
vào việc giải quyết các khiếu kiện phát sinh, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
Tuy nhiên, cơ chế tài phán hành chính hiộn nay, trong quá trình vận
hành cũng có những vướng mắc nhất định (các khiếu kiộn vượt cấp, phức tạp
còn lớn; số vụ việc giải quyết tại Toà hành chính chưa nhiểu; hiệu lực, hiộu
quả giải quyết chưa cao; ).
MỞ ĐẨU
1
Trong thời gian qua, nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được ban
hành có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cơ chế tài phán hành chính như:
Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân nãm 2002, Luật Đất đai nám 2003, Luật Cạnh tranh năm 2004,
Chúng ta đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới. Quá trình hội nhập này đòi hỏi cơ chế tài phán hành chính của
nước ta phải có sự tương thích nhất định với các nước trên thế giới và quy định
của các tổ chức quốc tế mà nước ta là thành viên. Các văn kiện của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) và Hiộp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
(BTA) đẻu có các yêu cầu vể khiếu kiện và giải quyết khiếu kiộn hành chính.
Nước ta đang tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc

việc ra đời của Toà hành chính trong hệ thống Toà án nhân dân ở Việt Nam
năm 1995 (theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án
nhân dân được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ tám thông qua tháng 10 năm
1995) và viộc hoàn thiộn cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính.
Tuy nhiên, trên cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động tài
phán hành chính ở nước ta trong thời gian qua, ván đề tài phán hành chính cần
được tổng kết, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn, nghiên cứu mô hình
tổ chức và hoạt động của cơ quan tài phán hành chính một số nước trên thế
giới, để từ đó rút ra những kinh nghiệm nhằm tiếp tục hoàn thiện hộ thống tài
phán hành chính ở Việt Nam hiện nay.
3- Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
Nhằm góp phần vào quá trình nghiên cứu tìm ra những giải pháp hữu
hiệu để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu kiện hành chính ở Viột
Nam, phù hợp với quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đáp ứng yêu
cầu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dàn, do nhàn dân và vì nhân dân cũng như yêu cầu của quá trình hội nhập quốc
tế, Luận văn nghiên cứu nhằm các mục đích và nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm vẻ tổ chức và hoạt động của cơ quan
tài phán hành chính một số nước trên thế giới.
- Trên cơ sở đó, vận dụng vào điểu kiện nước ta hiộn nay, đề xuất các
giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài phán hành chính ở nước ta.
4- Đối tượng và phạm vi nghièn cứu:
Luận vãn tập trung nghiên cứu mô hình tổ chức cơ quan tài phán hành
chính điển hình ở một số nước trên thế giới cũng như những vướng mắc trong
cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta hiện nay từ đó rút ra những
kinh nghiệm và nêu những kiến nghị, đề xuất.
Luận văn trong quá trình nghiên cứu về mô hình tổ chức cơ quan tài
phán hành chính cũng để cập đến thẩm quyển và những vấn để xung quanh nội
dung tài phán hành chính vì mô hình tổ chức cơ quan tài phán hành chính bao
giờ cũng gắn với thẩm quyển và hoạt động của cơ quan đó.

kiến tập quyền chuyên chế. Khi cách mạng tư sản nổ ra, các học giả tư sản đã
đề xướng học thuyết tam quyển phân lập. Học giả tư sản tiêu biểu cho học
thuyết này là Mồntexkiơ. Môntexkiơ viết: “sự lạm quyển - kẻ có quyển bao
giờ cũng lạm dụng quyền ấy, đó là kinh nghiêm muôn đời nhưng có thể chặn
đứng được bằng cách dùng quyền tri quyền” [17, tr. 331]. Quyển lực nhà nước
được chia thành ba quyển: quyển lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp.
Ba quyển này kiềm chế, đối trọng với nhau. Môntexkiơ viết: “Khi mà quyền
lập pháp và quyển hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện
nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa; vì người ta sợ rằng chính ông ta
hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài.
Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập
pháp và quyến hành pháp. Nếu quyẻn tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì
người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyẻn tự do của công dân; quan
tòa sẽ ià người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyển hành pháp thì
ồng quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp” [16, tr. 100, 101].
Ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải được phân biệt với nhau và
giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ: quyền lập pháp giao cho nghị viện,
quyền hành pháp giao cho tổng thống, quyền tư pháp giao cho tòa án. Điểm
mấu chốt trong học thuyết phân chia quyển lực là quyền lực ngân chặn quyển
6
lực: mỗi cơ quan được quyền hoạt động trong lĩnh vực của mình, không có
quyẽn trong lĩnh vực khác, nhưng có quyền ngăn chặn cơ quan khác.
Từ học thuyết này đã hình thành nên quan niệm các hành vi trong xã hội
khi phát sinh tranh chấp đều cần thiết đưa ra Tòa án để giải quyết theo quy
định. Lúc này, Tòa án với tư cách là một cơ quan trung gian, sẽ tiến hành xét
xử, bảo đảm khách quan, công bằng, đúng pháp luật. Quyết định hành chính,
hành vi hành chính do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành, thực
hiện tác động đến quyển, lợi ích của cá nhân, tổ chức thì cũng phải chịu sự
kiểm soát của cơ quan tư pháp khi cá nhân, tổ chức khiếu kiện yêu cầu tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật. Về lý luận, cần thiết có cơ quan tiến

pháp nhưng độc lập với hành chính điều hành. Như vậy, nển hành chính sẽ bao
gồm hai bộ phận là: hành chính điểu hành và hành chính tài phán.
Hai lý thuyết trên đây nội dung có thể có những điểm khác nhau nhưng
đều có điểm chung là cần thiết có cơ quan tài phán để phán xử các tranh chấp
hành chính nhằm bảo vệ quyẻn, lợi ích hợp pháp của công dân khi bị quyết
định hành chính, hành vi hành chính xâm hại. Hai lý thuyết này đã có ảnh
hưởng đến việc thiết lập mô hình cơ quan tài phán hành chính ở các nước.
1.3. KHIẾU KIỆN VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU KIỆN Ở MỘT số NƯỚC
1.3.1. Khiếu kiện ở một số nước
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ
quan nhà nước nhằm thực hiện các mục tiẽu để ra, thúc đẩy các quá trình xã
hội phát triển theo hướng tích cực. Quyết định hành chính thể hiện ý chí của cơ
quan, người có thẩm quyển, buộc các đối tượng quản lý phải đơn phương chấp
hành. Quyết định hành chính là những quyết định cụ thể của chủ thể quản lý
tác động vào đối tượng quản lý để thực hiện mục đích của mình. Quyết định
hành chính thể hiện quyền năng của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
Ra quyết định hành chính là một quyền hành chính đặc biệt:
8
Thứ nhất, chủ thể ra quyết định hành chính là cơ quan hành chính hoặc
người có thẩm quyển theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, chí cơ quan,
người có thẩm quyển mới có quyền ra quyết định hành chính, thực hiện hành
vi hành chính, các chủ thè’ khác không có quyén này.
Thứ hai, quyết định hành chính là việc cơ quan, người có thẩm quyển áp
dụng pháp luật đối với một cá nhân, tổ chức cụ thể, trong điểu kiện, hoàn cảnh
cụ thể. Như vậy, quyết định hành chính mang tính cá biệt.
Thứ ba, việc ra quyết định hành chính là hành vi đơn phương. Mặc dù
trước đó, cơ quan, người có thẩm quyển có thể tham khảo ý kiến của các chủ
thể khác nhtmg cuối cùng cơ quan, người có thẩm quyền phải tự quyết định.
Quyết định đúng sẽ mang lại hiệu quả tốt, nhưng nếu quyết định sai thì xã hội
sẽ gánh chịu thiệt hại và trách nhiộm của người quyết định được đặt ra. Vì thế,

chia giai cấp và sự ra đời của nhà nước. Mỗi khi quyển và lợi ích hợp pháp của
cá nhản, tổ chức bị xâm phạm từ phía nhà nước thì xuất hiộn sự “phản kháng”
thông qua việc khiếu nại đòi được bảo vệ hoặc khôi phục quyẻn và lợi ích hợp
pháp đó. Khiếu nại, với tư cách là một phạm trù pháp lý, ra đời và gắn liến với
nhà nước, tồn tại cùng với nhà nước. Với ý nghĩa đó, khiếu nại có trong tất cả
các nhà nước trên thế giới chừng nào nhà nước còn tồn tại.
Như vậy có thể nói các nhà nước trên thế giới đểu tồn tại việc khiếu nại
của cá nhân, tổ chức đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính do
cơ quan, người có thẩm quyển ban hành, thực hiộn. Khiếu nại hành chính đó là
việc cá nhân, tổ chức bằng con đường hành chính yêu cầu cơ quan, người có
thẩm quyền (chủ thể đã ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi
hành chính hoậc cấp trên của những chủ thể này) xem xét lại quyết định hành
chính, hành vi hành chính mà họ cho là xâm hại đến quyên, lợi ích hợp pháp
của họ. Khiếu nại nằm trong hoạt động quản lý.
10
Pháp luật nhiều nước trên thế giới, bên cạnh việc quy định quyển khiếu
nại cũng quy định quyền khởi kiên hành chính của cá nhàn, tổ chức. Khởi kiện
hành chính là việc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật yêu cầu cơ
quan tài phán hành chính phán quyết đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính mà họ cho rằng không đúng pháp luật, ảnh hưởng đến quyển, lợi
ích hợp pháp của họ. Quy định này bảo đảm cho cá nhân, tổ chức có thể đưa
vụ viêc hành chính ra trước cơ quan tài phán hành chính, một cơ quan trung
gian, giúp cho vụ viộc giải quyết được khách quan hơn. Khiếu kiộn hành chính
là từ dùng để chỉ việc “khiếu nại” và viộc “khởi kiện” đối với vụ việc hành
chính.
ở Cộng hoà liên bang Đức, cá nhân, tổ chức có quyển khiếu kiộn với
nội dung chủ yếu như sau:
- Cá nhân, tổ chức có quyển khiếu kiện yêu cầu huỷ bỏ, khiếu kiện yêu
cầu có hành vi hành chính. Khi khiếu kiộn yêu cầu huỷ bỏ, cá nhân, tổ chức
tìm cách đạt được sự huỷ bỏ một hành vi hành chính mà họ cho là bất hợp

giải quyết được bằng một loại khiếu kiộn khác (ví dụ: xác định quốc tịch của
một người nào đó, xác định việc hành nghề đối với một nghẻ nhất định không
cần có giấy phép của chính quyển, ).
- Cá nhân, tổ chức có quyền kiện yêu cầu thẩm tra văn bản dưới luật.
Đối tượng của đơn kiện yêu cầu thẩm ưa văn bản dưới luật là một số quy phạm
dưới luật của liên bang cũng như những quy định dưới luật của các bang nếu
chúng được các đạo luật của liên bang quy định như vậy.
Cộng hoà Pháp là nước có nển hành chính tương đối phát triển. Pháp rất
coi trọng quyền khiếu kiện của công dân. Pháp luật Pháp quy định sự cần thiết
phải nêu lý do trong các quyết định cá biệt. Điều này được quy định tại Luật
ngày 11 tháng 7 năm 1979. Nếu quyết định hành chính không nêu lý do hoặc
nêu lý do nhưng công dân thấy không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích
12
hợp pháp của họ, công dân có quyển khiếu nại. Tuy nhiên, việc nẻu lv do trong
các quyết định cá biệt cũng có ngoại lệ. Các vấn đề cần bảo vệ sự bí mật (y tế,
quốc phòng, đối ngoại, ), các quyết định nhằm bảo vệ an ninh cỏng cộng
không cần phải nêu lý do. Trong trường hợp thật khẩn cấp thì quyết định cũng
không phải nêu lý do. Tất nhiên các quyết định “ngầm” bằng cách giữ im lặng
của cơ quan hành chính thì cũng không nêu lý do. Luật ngày 17 tháng 7 năm
1978 ghi nhận công dân có quyển khảo cứu các tài liệu hành chính, trừ các
cuộc hội nghị của chính phủ hay các tài liệu vể đời tư cá nhân mà họ không
cho phép. Để tránh khó khăn cho công dân ưong việc này, ở Pháp có cơ quan
gọi là Uỷ ban khảo cứu các tài liệu hành chính (CADA). Cơ quan này đưa ra ý
kiến của mình trong những vụ viộc cụ thể. Nếu CAD A đưa ra ý kiến rằng công
dân có quyền xem xét các tài liêu hành chính những đã bị từ chối thì họ có thể
kiện. Thậm chí, viộc không cho phép công dân khảo cứu các tài liệu quan
trọng liên quan đến quyết định hành chính khiến cho quyết định hành chính có
thể bị coi là vô hiệu khi công dân khiếu nại.
Pháp luật của hầu hết các nước đều ghi nhận quyển khiếu kiện của công
dân. Quyền khiếu kiện là một trong những quyẻn quan trọng của cồng dân.

quan hành chính bị khiếu nại bằng những “khuyến nghị” để giải toả những
tranh chấp hành chính.
Một số nước coi khiếu nại hành chính là một giai đoạn bắt buộc trước
khi khởi kiện ra cơ quan tài phán hành chính. Một số nước khác, đặc biệt là
những nước có nền tài phán hành chính phát triển, lại cho phép công dân có
quyển lựa chọn hoặc khiếu nại đến cơ quan tài phán hành chính hoặc khởi kiên
thẳng ra cơ quan tài phán hành chính. Pháp luật có những quy định chặt chẽ để
tránh tình trạng cùng một vụ việc, cả cơ quan hành chính và cơ quan tài phán
14
hành chính đểu thụ lý nảy sinh tranh chấp thẩm quyền trong quá trình giải
quyết.
Luật tố tụng hành chính Trung Quốc có những điều khoản liên quan đến
khiếu nại hành chính, vẻ nguyên tắc khiếu nại hành chính không phải là trình
tự bất buộc. Người khiếu nại không buộc phải khiếu nại đến cơ quan hành
chính trước khi khởi kiện vụ việc tại Toà án. Tuy nhiên, nếu luật hoặc văn bản
pháp quy về những lĩnh vực quản lý cụ thể có quy định thì trở thành ưình tự
bất buộc trước khi khởi kiện tại Toà án. Cơ quan hành chính phải giải quyết
khiếu nại trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được khiếu nại. Trong
trường hợp không đồng ý với giải quyết của cơ quan hành chính thì trong thời
hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được trả lời của cơ quan hành chính,
người khiếu nại có quyền khởi kiên vụ viộc hành chính tại Toà án.
Ở Tây Ban Nha, trước khi kiện ra Toà án hành chính, công dân phải
khiếu nại hành chính. Quy định này tạo thuận lợi cho cơ quan hành chính biết
được nội dung họ sẽ bị kiện ra Toà án và nó cũng tạo cho cơ quan hành chính
có cơ hội tự sửa chữa sai lầm của mình. Đó cũng là một phương cách để giảm
bớt được một khối lượng đáng kể các vụ kiện đến Toà án hành chính. Một
phương cách nữa hiện nay đang được tranh cãi ở Tây Ban Nha: đó là thủ tục
hoà giải hành chính trong lĩnh vực khế ước hành chính và các tranh chấp liên
quan đến hoạt động công vụ.
ở Hy Lạp, theo nguyên tắc chung, công dân có quyền khiếu nại đến

quyển đưa ra các khuyến nghị đối với các cơ quan hành chính và không thể
can thiêp khi vụ việc được đưa ra trước cơ quan tài phán hành chính nhưng
hoạt động của người trung gian hoà giải trên thực tế tỏ ra có hiộu quả. Một mặt
do thể thức can thiệp tương đối mểm dẻo dễ được cơ quan hành chính chấp
nhận, mật khác hàng năm, người trung gian hoà giải có quyển công bố báo cáo
16
của mình gửi Tổng thống nước cộng hoà trong đó đưa ra các nhận xét của
mình vể hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đây là điều cơ quan cổng
quyền phải tính đến và có một thái độ tích cực trước những khuyến nghị mà họ
nhận được từ người trung gian hoà giải.
ở Bổ Đào Nha, pháp luật quy định vể nguyên tắc công dân có quyển
kiện thẳng ra cơ quan tài phán hành chính. Tuy nhiên, trong một vài lĩnh vực
cụ thể, việc khiếu nại tiền tố tụng hành chính lại trở thành một bước bắt buộc
trước khi kiện đến cơ quan tài phán hành chính.
Ở Đức, theo Điểu 95 Hiến pháp Cộng hoà liên bang Đức, thì có nãm
ngành Toà án là:
- Toà án thường (Toà án tư pháp);
- Toà án hành chính;
- Toà án tài chính;
- Toà án bảo hiểm xã hội;
- Toà án lao động.
Ngoài ra còn có Toà án hiến pháp.
Theo quy định tại khoản 1 Điẻu 40 Luật tố tụng hành chính năm 1960
của Cộng hoà liên bang Đức (Luật này được sừa đổi, bổ sung năm 1993) thì tất
cả các tranh chấp trong lĩnh vực luật công đều được phép kiện ra Toà án hành
chính, ở đây có hai ngoại lệ:
-Thứ nhất là, Toà án hành chính không phán quyết về một tranh chấp
đã được luật pháp liên bang giao cho Toà án khác giải quyết, cụ thể là việc
giao một số tranh chấp về luật công cho Toà án bảo hiểm xã hội và Toà án tài
chính giải quyết cũng như việc giao cho Toà án thường giải quyết các đơn

mình. Nếu cơ quan hành chính đó giữ nguyên quyết định ban đầu của mình thì
cơ quan cấp trên trực tiếp sẽ quyết định vể khiếu nại đó. Nếu cơ quan cấp trên
này phê chuẩn quyết định ban đầu của cơ quan hành chính cấp dưới thì lúc đó
nguyên đơn có quyển khởi kiộn ra Toà án hành chính.
18
Đơn kiện yêu cầu huỷ bò được coi là có cơ sở pháp lý nếu hành vi hành
hcính là bất hợp pháp và quyền của nguyên đơn bị vi phạm. Trong trường hợp
này Toà án sẽ huỷ bỏ hành vi hành chính. Nếu hành vi hành chính đó đã được
thi hành thì khi có đơn đề nghị, Toà án có thể ra quyết định buộc cơ quan hành
chính phải huỷ bỏ việc thi hành, đổng thời chỉ ra cách huỷ bỏ như thế nào. Tuy
nhiên, Toà án chỉ có thể được phép hành động như vậy nếu cơ quan hành chính
ở trong điều kiện chấp hành được quyết định đó và vấn để đã rõ ràng để Toà án
phán quyết. Nếu vì lý do thu hổi hoặc lý do khác, hành vi hành chính khồng
còn tổn tại nữa thì khi có đề nghị, Toà án phải ra phán quyết tuyên hành vi
hành chính đó là trái pháp luật nếu nguyên đơn có lợi ích hợp pháp trong việc
tuyẻn bố đó.
Nếu cùng với việc đòi huỷ bỏ một hành vi hành chính, nguyên đơn còn
kiộn đòi thực hiện thì Toà án hành chính có thể ra luôn quyết định buộc thực
hiộn trong quá trình tô' tụng đó.
Đối với đơn kiện yêu cầu có hành vi hành chính, nếu Toà án hành chính
thấy có căn cứ chứng tỏ rằng viộc cơ quan hành chính từ chối hoặc phớt lờ
thực hiộn hành vi hành chính là trái pháp luật và điểu đó dẫn tới quyển lợi hạp
pháp của nguyên đơn bị vi phạm thì Toà án sẽ tuyên buộc cơ quan hành chính
phải ban hành quyết định mà nguyên đơn đòi hỏi và phải phù hợp với ý kiến
của Toà án.
Trong trường hợp cơ quan hành chính có quyền hành động theo sự cân
nhắc, lựa chọn cùa mình thì Toà án hành chính cũng phải kiểm tra xem hành vi
hành chính đó hay sự từ chối ban hành đó có hợp pháp hay không xét từ góc
độ là những giới hạn của quyển cân nhắc đã bị vượt quá hoặc sự cân nhắc đã
không được vận dụng phù hợp với mục đích của quyển cân nhắc đó.

nước trên thế giófi dù điều kiộn, hoàn cảnh của mỗi nước có khác nhau. Tài
phán hành chính là việc giải quyết các tranh chấp hành chính, là việc cơ quan
20
tài phán hành chính (cơ quan tiến hành hoạt động tài phán hành chính) xem
xét, phán quyết đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
quan, người có thẩm quyển bị cá nhân, tổ chức khời kiện vì họ cho rằng xâm
hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tài phán hành chính là một trong
những cơ chế bảo đảm quyền dản chủ bằng cách cho người dân có thể phản
đối các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan công quyền,
công chức đã lạm quyển, vi phạm pháp luật làm thiệt hại cho quyền và lợi ích
hợp pháp của họ. Từ một khía cạnh khác, tài phán hành chính là một công cụ
hữu hiệu để các nhà nước kiểm soát sự hoạt động của bộ máy quản lý hành
chính, bảo đảm sự thống nhất, không vi phạm trong thực hiện pháp luật.
Mặc dù cần thiết như vậy, nhưng tổ chức và hoạt động của cơ quan tài
phán hành chính như thế nào và ở mức nào luôn là vấn để gây nhiểu tranh cãi.
. Nếu như sự tổn tại và hoạt động của các Toà án tư pháp đã từ lâu và nhận được
sự thống nhất cao ở hầu hết các nước trên thế giới thì sự ra đời và phát triển cơ
quan tài phán hành chính ở các nước đều trải qua một thời kỳ dài với nhiểu
tranh luận.
Do yêu cầu của quản lý hành chính và viộc giải quyết các tranh chấp
trong lĩnh vực hành chính, hầu hết các nước trên thế giới và trong khu vực đều
rất coi trọng việc nghiên cứu và xây dựng nền tài phán hành chính, tổ chức các
cơ quan chuyên xét xừ vể hành chính. Tuy nhiên, xuất phát từ những quan
niộm khác nhau về hoạt động tài phán hành chính và do những yếu tố mang
tính chất lịch sử, truyền thống pháp lý, điều kiộn chính trị - xã hội và tập quán
mà các nước tìm ra giải pháp riêng cho mình vể vấn đề này. Từ đó, tổ chức
cũng như phạm vi thẩm quyền của cơ quan tài phán hành chính các nước trên
thế giói hết sức đa dạng, tuy nhiên tựu trung lại có mấy hệ thống sau đây:
1.4.1. Lưỡng hệ tài phán
Những nước theo chế độ lưỡng hệ tài phán (tức là bao gồm hai hệ thống

Trích đoạn Một số vướng mắc trong cơ chế giảiquyết khiếu kiện hành chín hở Cơ chế giảiquyết khiếu kiện hành chính tại Toà án Về mô hình tổ chức cơ quan tài phán hành chính Giảiquyết khiếu kiện hành chính tại Cơ quan tài phán hành chính Giảiquyết khiếu kiện hành chính tại Toà án nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status