Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và việc vận dụng trong điều kiện Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÝ VĂN CHÍNH Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và
việc vận dụng trong điều kiện Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TSKH. Lê Cảm Hà nội - 2004
3.2.2. Thực hành quyền công tố. 55
3.3. Những khó khăn và lộ trình vận dụng một số yếu tố hợp lý của việc tổ chức và thực hành
quyền công tố theo tố tụng hình sự tranh tụng vào Việt Nam. 75
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 91

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một bộ phận của cấu trúc quyền lực công trong một Nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân nhân, quyền công tố ở Việt Nam được nhà nuớc
uỷ quyền cho Việt kiểm sát nhân dân thực hiện đã có những hiệu quả nhất
định trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm góp phần bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản của
nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự và nhân phẩm của
công dân. Tuy nhiên, việc thực hành quyền công tố ở Việt Nam vẫn chưa đáp
ứng kịp thời đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Việc thực
hành quyền công tố nằm trong bối cảnh chung của ngành tư pháp mà theo
nhận xét của Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị- Ban chấp
hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam thì : “Chất lượng công tác tư
pháp nói chung chưa ngang tầm với nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn
nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; vi phạm các quyền tự
do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước và các cơ quan tư pháp.”
Cụ thể về công tố, Nghị quyết 08 đã có ý kiến chỉ đạo: “Viện Kiểm sát các
cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố
vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và
người phạm tội, không làm oan người vô tội nâng cao chất lượng công tố

luận về chế định quyền công tố", Báo cáo tại Hội nghị khoa học: ”Tổ chức và
hoạt động của Viện Kiểm sát trong tình hình mới” do Uỷ ban pháp luật Quốc
hội tổ chức ngày 02/04/2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh

3
Có thể tìm thấy ở những nghiên cứu nói trên những kiến giải khoa học
bổ ích cho tiến trình hoàn thiện việc tổ chức và thực hành quyền công tố ở
nước ta. Nhưng nhìn chung các nghiên cứu về quyền công tố ở nước ta hiện
nay chưa đặt quyền công tố trong mối tương quan với loại hình tố tụng. Đây
là luận văn đầu tiên tiếp cận quyền công tố dưới góc độ loại hình tố tụng. Cụ
thể là học viên muốn đặt quyền công tố trong loại hình tố tụng tranh tụng-
một loại hình tố tụng hình sự được đánh giá là có tính dân chủ cao, và trên cơ
sở đó đưa ra một số định hướng cho việc hoàn thiện tổ chức và thực hành
quyền công tố ở Việt Nam.
3. Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm mục đích phân tích và lý giải để làm sáng tỏ về mặt lý luận
những điểm tích cực của việc tổ chức và thực hành quyền công tố theo tố
tụng hình sự tranh tụng và đưa ra một số định hướng cho việc hoàn thiện tổ
chức và thực hành quyền công tố ở Việt Nam
4. Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đích nói trên, tác giả luận văn đặt ra cho mình nhiệm vụ giải
quyết những vấn đề sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố trong tố
tụng hình sự
Nghiên cứu việc tổ chức và thực hành quyền công tố theo tố tụng
hình sự tranh tụng
Tổng kết tình hình thực hành quyền công tố ở Việt Nam hiện nay
chỉ ra những vấn đề bất hợp lý và đi sâu phân tích nguyên nhân
của thực trạng đó.
Trên cơ sở những luận điểm được nghiên cứu trên đây gợi mở

5
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu trong
quá trình học tập và nghiên cứu khoa học, cũng như làm tài liệu
tham khảo cho những nhà xây dựng pháp luật.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn bao
gồm 3 chương:
Chương 1. Nhận thức chung về quyền công tố và tố tụng hình sự tranh
tụng
Chương 2. Nội dung quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng.
Chương 3. Vận dụng một số yếu tố hợp lý của việc tổ chức và thực
hành quyền công tố trong tố tụng tranh tụng vào điều kiện Việt Nam
6
tố ở Việt Nam đã có rất nhiều quan niệm khác nhau. Chúng tôi dựa trên nền
tảng của Hiến pháp đã được sửa đổi và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự
hiện hành để chỉ ra bản chất của quyền công tố ở Việt Nam. Theo chúng tôi,
quyền công tố ở Việt Nam có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực công và lợi ích
công. Quyền cống tố được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế
của công quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Với tính chất là
một quyền nhân danh quyền lực công, quyền công tố đồng thời cũng là quyền
nhân danh lợi ích công. Nhưng không phải mọi hoạt động nhân danh lợi ích
công đều là quyền công tố.
Thứ hai, quyền công tố là một quyền hiến định được trao cho một cơ
quan độc lập trong hệ thống bộ máy nhà nước thực hiện. Theo hiến pháp Việt
Nam, hệ thống quyền lực được phân bố thành bốn hình thái cơ bản là: lập
pháp, hành pháp, xét xử, và kiểm sát. Quyền công tố ở Việt Nam không giống
như ở các nước khác thuộc cấu trúc của ngành hành pháp mà thuộc một hệ
thống cơ quan độc lập là Viện kiểm sát. Có quan điểm cho rằng quyền công tố
là “quyền của một cơ quan nhà nước được nhà nước uỷ quyền.”[11, tr.52].
Chúng tôi không đồng ý với quan điểm nay. Quyền công tố ở Việt Nam
không phải là quyền được được nhà nước uỷ quyền mà cũng như quyền lập
pháp, quyền hành pháp, quyền xét xử, quyền công tố được thiết lập từ quyền
lập hiến mà chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân. Do đó quyền công tố là
quyền hiến định chứ không phải là quyền được nhà nước uỷ quyền.

8
Thứ ba, theo Hiến pháp và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành, quyền công tố là một loại quyền độc lập. Do đặc thù của việc tổ chức
quyền công tố ở Việt Nam, trước đây khái niệm công tố đã được đồng nhất
với quyền kiểm sát chung của Viện kiểm sát. Có thể thấy rõ là quan điểm này
đã xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát nhân dân để xem xét quyền
Công tố. Quan điểm này cho rằng, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân

pháp luật trong tố tụng hình sự. Hiện nay Viện kiểm sát chỉ có hai chức năng
là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Việc Hiến pháp đặt
quyền công tố trước kiểm sát hoạt động tư pháp, mặc dù về mặt văn phong
pháp lý, cũng nói lên tính chất chủ yếu của quyền công tố, và công tố không
thể là một bộ phận của kiểm sát hoạt động tư pháp. Với khung cảnh hiến định
và pháp định hiện nay, công tố không phải là một bộ phận của kiểm sát việc
tuân theo pháp luật, mà ngược lại hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
chỉ là một hoạt động bổ trợ của quyền công tố. Xét về mặt thực chất, mọi hoạt
động kiểm sát tư pháp đều có ý nghĩa phục vụ cho việc thực hành quyền công
tố.
Thứ tư, quyền công tố chỉ phát sinh trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Có
quan điểm cho rằng công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân,
tổ chức đã vi phạm pháp luật, vi phạm Luật dân sự, Luật kinh tế và Luật hình
sự. Và, quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó. Theo
quan điểm này, quyền công tố chỉ thuộc Nhà nước. Nhà nước không thể
không thực hiện quyền công tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp
luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời Nhà nước là chủ thể
tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật khác nhau. Với tính cách là một
quyền năng của Nhà nước, quyền công tố được thực hiện trong tất cả các quá
trình giải quyết các vi phạm pháp luật, bao gồm tố tụng hình sự, tố tụng dân

10
sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính. Sự tồn tại quyền
công tố trong các hoạt động tố tụng nêu trên là do nhu cầu khách quan bởi thứ
nhất, Nhà nước không thể không thể hiện quyền lực của mình trong việc giải
quyết các vi phạm pháp luật; và thứ hai, sự hiện diện công tố như một điều
kiện bảo đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ
quan tài phán. Theo quan điểm trên, quyền công tố được biểu hiện cụ thể ở
các quyền của Viện kiểm sát như quyền khởi tố vụ án (dân sự, hành chính,
hình sự, lao động), quyền tham gia tố tụng từ bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi

một cơ quan kiểm sát tư pháp. Với tư cách kiểm sát tư pháp, Viện kiểm sát
được làm gì ? Khác với hoạt động công tố, hoạt động kiểm sát tư pháp không
phải là một hoạt động tố tụng. Kiểm sát tư pháp về thực chất là sự tự kiểm tra
của bản thân hệ thống quyền lực tư pháp. Nếu như kiểm sát tư pháp không
phải là một hoạt động tố tụng thì Viện kiểm sát tham gia phiên toà dân sự
không thể với tư cách một cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó nếu như Kiểm sát
viên ngồi phiên toà trực tiếp phát biểu quan điểm, tham gia đánh giá chứng cư
thì có nghĩa Kiểm sát viên là một người tiến hành tố tụng. Như như vậy thì có
nghĩa là Kiểm sát viên đã làm những việc mà mình không có tư cách pháp lý.
Hơn nữa, xét về mặt thực tiễn, nếu như Viện kiểm sát tham gia vào phiên toà
dân sự, phát biểu quan điểm thì chắc chắn Hội đồng xét xử xẽ chịu ảnh hưởng
từ phía Viện kiểm sát mà không thể độc lập trong xét xử, tính công bằng
khách quan trong việc giải quyết tranh chấp dân sự sẽ không được bảo đảm,
nhất là khi các bên đương sự lại lợi dụng sự tham gia của Viện kiểm sát trong
phiên toà để gây áp lực ngầm đối với Viện kiểm sát từ trước khi phiên toà
diễn ra.
Chỉ khi nào với tư cách đại diện của cơ quan công tố, Kiểm sát viên
mới là một người tiến hành tố tụng- uỷ viên công tố. Nếu như không có quyền

12
công tố trong vụ án dân sự thì Kiểm sát viên không thể tham gia phiên toà
dân sự với tư cách là một người tiến hành tố tụng. Đối với một vụ án dân sự,
Viện kiểm sát chỉ có thể tham gia với tư cách một cơ quan kiểm sát. Với tư
cách một cơ quan kiểm sát, trong quy trình giải quyết một vụ án dân sự, Viện
kiểm sát có quyền kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ, kiểm sát quá trình tham gia
tố tụng của những người tham gia tố tụng.
Với tư cách là một cơ quan kiểm sát tư pháp, Viện kiểm sát chỉ tham
gia vào việc giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn thụ lý, lập hồ sơ vụ án. Còn
trong giai đoạn xét xử, Việm kiểm sát không được tham gia mà chỉ có thể
tham dự. Viện kiểm sát có thể thực hiện được quyền kiểm sát tư pháp của

công tố chứ không phải là nội dung duy nhất của quyền công tố. Công tố bao
gồm cả các hoạt động tiền truy tố. Để buộc tội một người trước toà, đòi hỏi
phải có rất nhiều hoạt đông tố tụng từ khởi tố bị can đến việc tiến hành các
hoạt động điều tra : khám xét, hỏi cung, trưng cầu giám định, thực nghiệm
điều tra Tất cả các hoạt động này đều có ý nghĩa làm cơ sở cho việc buộc
tội. Do đó chúng thuộc phạm vi của quyền công tố.
Thứ sáu, Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất của quyền công tố. Việc
khẳng định quyền công tố bắt đầu từ giai đoạn có quyết định khởi tố bị can
đồng thời lại khẳng định chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền công tố hoàn toàn
không mâu thuẫn với nhau. Có ý kiến băn khoăn : Trong suốt gian đoạn điều
tra, phải chăng chỉ có Viện kiểm sát mới thực hiện chức năng buộc tội ? Cơ
quan điều tra thực hiện chức năng gì ?[6, tr.12]. Thực ra, các hoạt động khởi
tố, điều tra của cơ quan điều tra chỉ có mục đích là chứng minh tội phạm mà
không phải là buộc tội. Các hoạt động khởi tố, điều tra trong quá trình thực
hành quyền công tố không đơn thuần chỉ là chứng minh mà còn có mục đích

14
buộc tội: đề nghị Toà án ra phán quyết về tội danh, áp dụng hình phạt và các
biện pháp tư pháp khác.
Tóm lại, trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, quyền
công tố là một quyền độc lập do Viện kiểm sát nhân danh lợi ích công và
quyền lực công cáo buộc một người bị tình nghi là phạm tội ra trước toà.
1.1.2. Thực hành quyền công tố.
Từ khái niệm quyền công tố nói trên có thể hiểu thực hành quyền công
tố là việc Viện kiểm sát nhân danh lợi ích công và quyền lực công thực hiện
các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để
cáo buộc một người ra trước toà. Như vậy nêu như quyền công tố là quyền
năng duy nhất chỉ có Viện kiểm sát mới có thì chức năng thực hành quyền
công tố là chức năng duy nhất của Viện kiểm sát mà không thể có một cơ
quan nào làm thay.

quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm; tranh luận
với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà
sơ thẩm, phúc thẩm;
- Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ
án tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm [ 14, tr.17 ].
Như vậy, Luật đã chỉ rõ nội dung cụ thể của thực hành quyền công tố. Vấn
đề đặt ra ở đây là mối tương quan giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp là như thế nào ? Có quan điểm cho rằng chức năng công tố
và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật hoàn toàn độc lập với nhau và
cùng song song tồn tại. Có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng công tố
và có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật mặc dù chúng đều do Kiểm sát viên thực hiện trong cùng một thời gian

16
[26, tr.157]. Chúng tôi cho rằng có những hoạt động thuần tuý là thực hành
quyền công tố và có những hoàt động kiểm sát tư pháp nhưng nhìn chung thì
hai chức năng này có quan hệ đan xen với nhau. Chức năng công tố là chức
năng cơ bản của Viện kiểm sát còn đa số các hoạt động kiểm sát tư pháp đều
nằm phục vụ cho việc thực hành quyền công tố. Có thể lấy tiêu trí về mục
đích của 2 hoạt động : thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát tư pháp
để phân biệt đó là : thực hành quyền công tố nhằm đi đến kết luận truy tố hay
không truy tố. Còn hoạt động kiểm sát tư pháp nhằm mục đích và đảm bảo
cho các hoạt động: khởi tố, điều tra: khám xét, hỏi cung, trưng cầu giám định,
thực nghiệm điều tra, lấy lời khai người làm chứng có đúng quy định của
luật tố tụng hình sự không.
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tố tụng hình sự tranh tụng.
Về cơ bản trên thế giới có hai loại hình tố tụng hình sự điển hình là tố
tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng. Quyền công tố trong những loại hình này
có những đặc điểm khác nhau. Dưới đây chúng tôi sẽ trình bầy về đặc điểm
của loại hình tố tụng hình sự tranh tụng trong sự đối chiếu với tố tụng hình sự

một hành vi phạm tội, tuỳ theo mức độ vi phạm, cảnh sát có nghĩa vụ thu thập
các thông tin và chuyển hồ sơ cho Viện công tố. Những vụ việc nhỏ như tội vi
cảnh, tội phạm ít nghiêm trong sẽ do Toà tiểu hình hay toà Toà vi cảnh giải
quyết. Tại các phiên toà này, việc xét xử có thể do một thẩm phán hoặc cả hội
thẩm tham gia, (ví dụ như ở Đức với các tội đại hình). Sau khi vụ án được
khởi tố, Viện công tố là cơ quan có quyền chỉ đạo các hoạt động điều tra của
cảnh sát. Đối với những vụ án nghiêm trọng, khi việc điều tra sơ bộ đã kết
thúc, công tố viên chuyển hồ sơ vụ án cho thẩm phán điều tra để xem xét các
yếu tố chứng cứ đã đầy đủ chưa? Thông thường khi cơ quan công tố ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử trước toà đại hình thì việc xét xử do một hội đồng

18
bao gồm thẩm phán và hội thẩm. Khi bắt đầu phiên toà, công tố viên đọc cáo
trạng mô tả một cách vắt tắt hành vi phạm tội, tội danh của bị cáo. Nếu bị cáo
không thực hiện quyền giữ im lặng thì thẩm phán hỏi bị cáo về hành vi phạm
tội và bị cáo phải trả lời. Tiếp theo sau là thủ tục xét hỏi từng nhân chứng và
xem xét các chứng cứ khác. Công tố viên và luật sư được quyền hỏi bị cáo và
các nhân chứng về bất kỳ vấn đề gì mà họ thấy cần thiết và có liên quan đến
vụ án trong việc buộc tội hay gỡ tội. Bị cáo và luật sư biện hộ cũng được
quyền hỏi lại hoặc đối chất với các nhân chứng và công tố viên. Đối với
những nước có cơ chế hội thẩm thì sau khi thẩm phán và các bên hỏi xong,
hội thẩm có quyền hỏi. Nếu xét xử có bồi thẩm đoàn thì bồi thẩm đoàn không
có quyền hỏi. Quá trình xét hỏi kết thúc khi công tố viên và luật sư biện hộ
đưa ra kết luận cùng những lập luận về các tình tiết của vụ án trong quá trình
xét xử tại phiên toà trước khi bị cáo nói lời sau cùng và toà án nghị án để ra
phán quyết.
Philip.L.Reichel coi hệ thống tranh tụng thường được thay thế cho sự
trả thù cá nhân. Theo như suy luận của xã hội thì quyền được khởi tố trước
tiên là thuộc về người bị hai, sau đó mở rộng ra đến họ hàng thân thích của
người bị hại rồi đến các thành viên khác trong nhóm quen biết của người đó

thụ động và trung lập của Toà án, các bên phải tự tìm, thu thập và trình bầy
chứng cứ một cách có hiệu quả nhất, thuyết phục nhất trước toà. Vì sự phức
tạp của các quy tắc tố tụng chứng cứ và luật nội dung, các bên thường không
tự mình tiến hành tố tụng mà phải có một đội ngũ luật gia chuyên nghiệp đại
diện trong các hoạt động tố tụng, đặc biệt là trước Toà.[ 27, tr. 5].
Khác với tố tụng tranh tụng, phiên toà trong tố tụng thẩm vấn không
phải là sự cạnh tranh giữa hai bên đối địch nhau mà là sự tiếp tục điều tra. Các
bên phải cung cấp tất cả các chứng cứ thích hợp cho toà án. Các thẩm phán

20
chứ không phải là các luật sư của bên nguyên và bên bị, sẽ gọi hỏi và kiểm tra
một cách tích cực các nhân chứng. Theo cách này, hệ tố tụng thẩm vấn cho
rằng sự thật có thể phải được tìm ra trong quá trình tiếp tục thẩm vấn, điều tra
tại toà. Vì rằng các bên có ý định che dấu sự thật nên nhà nước phải tham gia
sớm và liên tục vào việc thẩm vấn, điều tra.
Tố tụng tranh tụng được xem là cuộc tranh chấp giữa nhà nước và công
dân. Trong tố tụng hình sự thì đó là một cuộc đấu tranh giữa nhà nước và bị
cáo. Waldrom xác định hai bảo đảm cho hệ thống tranh tụng. Thứ nhất, nó sử
dụng việc kiểm tra chéo để thách thức hay huỷ lời khai của bị cáo. Mỗi bên
đều có dịp để hỏi về tính trung thực của nhân chứng, tìm sự thiên vị và chỉ ra
được cái mà nhân chứng biết thực sự chứ không phải cái mà họ nghĩ rằng họ
biết…Thứ hai là thay vì giữ độc quyền, công tố viên, luật sư, thẩm phán và
bồi thẩm đoàn cùng chia sẻ quyền lực. Công tố viên đại diện cho nhà nước cố
gắng để chứng minh tội của bị cáo. Luật sư bào chữa tranh luận về sự vô tội
của thân chủ và để đảm bảo rằng bị cáo có tất cả sự bảo vệ có thể có về mặt
pháp lý. Thẩm phán đóng vai trò trọng tài trong cuộc chơi và đảm bảo rằng
các cầu thủ phải tuân thủ các quy tắc của trò chơi [ 21, tr124.]
Qua đó cho thấy tố tụng tranh tụng thừa nhận một địa vị ngang bằng
giữa nhà nước và công dân. Bên nhà nước cũng như phía công dân đều được
tạo những cơ hội như nhau để tìm ra sự thật của vụ án. Điều này nói lên rằng

đươc xét xử một các công bằng.
Thứ hai, loại hình tố tụng tranh tụng chặt chẽ hơn đối với sự tham gia
của tư pháp cả trong quá trình điều tra và xét xử. Trong khi trong tố tụng thẩm
vấn việc tham gia của thẩn phán là trực tiếp thì trong tố tụng tranh tụng thẩm
phán chỉ ảnh hướng gián tiếp.

22
Thứ ba, đối với tố tụng tranh tụng, quy trình tố tụng chỉ chính thức bắt
đầu từ khi mở phiên toà xét xử còn các hoạt động điều tra trước đó được coi
là bí mật. Trong khi đó, đối với tố tụng thẩm vấn quy trình tố tụng bắt đầu từ
khi khởi tố vụ án.
Thứ tư, vì loại hình tố tụng thẩm vấn cho rằng tất cả mọi người tham
gia vào vụ án đều cố gắng tìm ra sự thật nên bị cáo được mong đợi sự hợp tác.
Nội dung hợp tác có thể là: cung cấp thông tin cho điều tra viên; trả lời các
câu hỏi tại phiên toà. Loại hình tố tụng tranh tụng lại không mong đợi, cũng
như không yêu cầu bị cáo giúp đỡ cho việc điều tra. Trách nhiệm chứng minh
tội phạm thuộc về công tố viên, còn bị cáo vẫn có thể tiếp tục im lặng.
Thứ năm, trong loại hình tố tụng tranh tụng vai trò của thẩm phán là vai
trò của người trọng tài. Các luật sư có thể khai thác và trình bầy các vụ việc
của mình để sau đó bồi thẩm đoàn sẽ quyết định về vụ án. Toà án trong loại
hình tố tụng thẩm vấn là một thẩm tra viên nhưng được bổ sung thêm quyền
quyết định vụ án. Thẩm phán hỏi phần lớn các câu hỏi và phát triển sự kiện
trong khi các luật sư chủ yếu chỉ tranh luận để giải thích những gì thẩm phán
sẽ tuyên liên quan đến các dữ kiện của vụ án.
Tuy nhiên, không có một sự cách biệt hoàn toàn giữa hai loại hình tố tụng
tranh tụng và thẩm vấn. Tố tụng tranh tụng là mô tình đặc trưng của hệ thống
luật Anh- Mỹ. Tố tụng thẩm vấn là loại hình đặc trưng của hệ thống luật Châu
Âu lục địa. Qua nghiên cứu thấy rằng hiện nay, hai hệ thống này đang dần
dần chấp nhận những yếu tố hợp lý của nhau. Trong quá trình đó, một số yếu
tố của tố tụng tranh tụng đã được du nhập vào loại hình tố tụng thẩm vấn và

nước Châu Á. Tuy nhiên, việc áp dụng tố tụng tranh tụng không phải là một
quá trình đơn giản mà cần phải có những điều kiện cần thiết.

Trích đoạn Thực trạng quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và những đề xuất vận dụng một
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status