Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Để tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước thì nhu cầu về vốn là tất
yếu. Đối với Việt Nam cũng vậy. Các nguồn vốn chủ yếu mà Việt Nam huy
động để đáp ứng nhu cầu vốn từ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Vốn huy
động trong dân, và nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Trong đó nguồn
ODA với ưu thế là một nguồn vốn tập trung lớn chủ yếu dành cho những lĩnh
vực hết sức cần thiết cho tăng trưởng và phát triển như cơ sở hạ tầng kinh tế
(giao thông, năng lượng...), Cơ sở hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế, xoá đói giảm
nghèo) và phát triển nguồn nhân lực... thời gian qua Việt Nam đã có được sự
giúp đõ quỹ báu từ nguồn ODA của các nhà tài trợ trong đó có ngân hàng thế
giới, một tổ chức đang có mối quan hệ rất tốt với Việt Nam, với nguồn hỗ trợ
lớn thứ 2 có đóng góp quan trọng đối với phát triển kinh tế Việt Nam đặc biệt là
khi Việt Nam cũng như một số nước tài trợ cho Việt Nam gặp phải những khó
khăn do khủng hoảng Tài chính - tiền tệ mang lại. Tuy nhiên vấn đề quan trọng
nhất đối với Việt Nam là phải đẩy mạnh quá trình thu hút và giải ngân nguồn
vốn trên của WB để phục vụ đắc lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đây
cũng là lý do cho đề tài được chọn cho bài viết: ''Một số giải pháp chủ yếu
nhằm đẩy mạnh quá trình thu hút và giải ngân nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) từ tổ chức ngân hàng thế giới (WB) của Việt Nam''.
Bài viết có bố cục như sau:
Chương I: Những lý luận chung về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) và tổ chức ngân hàng thế giới (WB).
Chương II: Thực trạng thu hút và giải ngân ODA của WB ở Việt Nam.
Chương III: Những giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh thu hút và tăng nhanh
tốc độ giải ngân từ WB ở Việt Nam.
Website:
nước đang phát triển và các tổ chức nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi
của các nước này.
1
OECD được ký v o 14/12/1960 có hià ệu lực từ 1961 lúc đầu bao gồm 20 nước sau có thêm 4 nước l Nhà ật,
Niudilân, Phần Lan, Australia
4
Những điều cần biết về viện trợ phát triển chính thức - NXB xây dựng - 1993 - trang 7
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Theo ngân hàng thế giới thì hỗ trợ phát triển chính thức là tập con của tài
chính phát triển chính thức (ODF)
5
và bao gồm khoản vay ưu đãi trong đó có ít
nhất 25% yếu tố cho không.
Tại điều 1 của quy chế quản lý và sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức ban
hành kèm theo nghị định 87/CP của chính phủ ngày 05-8-1997 quy định Hỗ trợ
phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) nói trong quy chế này được hiểu là sự hợp
tác phát triển giữa nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hay nhiều
quốc gia tổ chức quốc tế (sau đây gọi tắt là bên nước ngoài) bao gồm các hình
thức cụ thể sau đây:
1. Hỗ trợ cán cân thanh toán
2. Hỗ trợ theo chương trình
3. Hỗ trợ theo dự án
4. Hỗ trợ kỹ thuật.
OFCD đưa ra khái niệm ODA dưới góc độ của các nhà tài trợ, hỗ trợ các
nước đang phát triển bằng nguồn tài chính của mình nhằm giúp các nước này
phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên khái niệm này chỉ mới đưa ra nguồn tài trợ
- Hỗ trợ theo dự án.
* Loại hình hỗ trợ cán cân thanh toán thường có nghĩa là viện trợ tài chính
trực tiếp thông qua chuyển giao tiền hoặc hiện vật, hoặc hỗ trợ nhập khẩu.
* Hỗ trợ theo chương trình là viện trợ theo khuôn khổ đạt được bằng hiệp
định với các nhà tài trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA trong một khoảng
thời gian mà không phải xác định trước một cách chính xác nó sẽ được sử dụng
như thế nào ví dụ viện trợ cho phát triển chung của giáo dục tiểu học, viện trợ
ngân sách cho Bộ giáo dục và đào tạo, viện trợ phát triển hoà nhập cộng đồng ở
các địa phương nhiều người di tản.
* Hỗ trợ theo dự án. trước khi nhận được khoản viện trợ, nước nhận viện
trợ phải chuẩn bị chi tiết dự án. Loại hình viện trợ này thường chủ yếu là để xây
dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, đê đập, trường học... các dự án này
thường có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng các chuyên
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
gia nước ngoài đến kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó để soạn thảo, xác
nhận các báo cáo cho các nhà viện trợ...
* Hỗ trợ kỹ thuật thường tập trung chủ yếu vào chuyển giao tri thức hoặc
vào tăng cường cơ sở, lập kế hoạch cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ sở, nghiên
cứu tiền khả thi...
4. Nguồn và đối tượng của hỗ trợ phát triển chính thức
4.1. Nguồn của ODA
ODA được cung cấp trên cơ sở song phương và đa phương và nguồn phi
chính phủ:
4.1.1. Nguồn hỗ trợ song phương
Nguồn hỗ trợ này xuất phát từ chính phủ này cho chính phủ khác, không
thông qua tổ chức thứ ba. Hỗ trợ song phương bao gồm cả viện trợ cho không,
Nguồn viện trợ này được xuất phát từ các tổ chức đa phương như WB,
ADB, IMF cho các nước đang phát triển là hội viên hoặc thành viên chính thức
của các tổ chức đa phương. Các nước này phải tuân thủ các thủ tục, thể lệ quy
định chặt chẽ từ các tổ chức trên như việc đóng góp cổ phần, thu nhập bình quân
đầu người, các chỉ tiêu về GDP .v.v.. liên quan đến chính sách tài trợ trong từng
thời kỳ nhất định. Các tổ chức đa phương cũng xem xét rất kỹ về mức độ tin cậy
về khả năng trả nợ, tính ổn định về kinh tế - chính trị, uy tín cũng như những
tiến bộ của nước được nhận viện trợ. Ví dụ như ngân hàng thế giới để đánh giá
kết quả sử dụng ODA của nước nhận viện trợ có chỉ tiêu"Các chỉ báo tiến bộ"
(7)
.
Các nước nhận viện trợ nếu muốn tiếp tục được tiếp nhận viện trợ phải có cơ
chế quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn viện trợ, cũng như cam kết
trả nợ đúng hạn. So với nguồn viện trợ song phương, nước nhận viện trợ đa
phương có thể tránh được các điều kiện ràng buộc quá chặt chẽ nhiều khi gây
khó khăn, thêm vào đó là bất lợi do những lệ thuộc về kinh tế, chính trị hỗ trợ đa
phương có tính ổn định hơn khi xảy ra những biến động lớn như khủng hoảng
kinh tế, khủng hoảng dầu lửa, chiến tranh thế giới... bởi vì nó được đảm bảo
bằng sức mạnh tổng hợp của nhiều quốc gia có vị trí địa lý và điều kiện tụ nhiên,
kinh tế - chính trị, xã hội khác nhau. Một ví dụ là lần đầu tiên sau nhiều năm
Nhật bản - nước có nguồn ODA lớn nhất giành cho các nước châu á đã cắt giảm
nguồn viện trợ này trong năm taì chính 1998, giảm 10,4% so với năm 1997 do
(7)
Việt nam - chiến lược hỗ trợ quốc gia của nhóm ngân h ng thà ế giới giai đoạn 1999-2002- 1998 t i lià ệu của
WB - VN - CP - 52074.
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
(8)
Báo quân đội nhân dân ng y 1/11/1998 - trang 3.à
(9)
Báo h nà ội mới - 2-8-1998 b i: à Để thu hút được vốn ODA của Phạm Hải Bình.
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
các công việc thuê tư vấn, thiết kế sơ bộ, thiết kế chi tiết đặc biệt là công tác đấu
thầu sao cho phù hợp với yêu cầu của bên cho vay cũng như thông lệ quốc tế.
Cuối cùng là thực hiện các thủ tục để rút vốn. Để đẩy nhanh tốc độ rút vốn và sử
dụng vốn bên vay cần chuẩn bị và triển khai dự án kịp thời theo đúng tiến độ đã
cam kết có cơ chế quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay, từ đó đặt ra yêu cầu
về nhân lực của mối nhận viện trợ cần phải có trình độ, đủ khả năng đáp ứng
được yêu cầu đặt ra trong quá trình sử dụng cũng như quản lý sử dụng nguồn
vốn ODA.
Một yêu cầu nữa đặt ra là uy tín của nước tiếp nhận viện trợ và những tiến
bộ đạt được thông qua quá trình sử dụng vốn viện trợ của các nước này. Đây là
tiền đề quan trọng tạo thuận lợi cho nước nhận ODA có được sự tin tưởng từ
phía các nhà tài trợ qua đó tiếp tục và nhận được nhiều hơn sự ủng hộ từ phía
họ.
Như vậy về phía các nước tiếp nhận nguồn vốn ODA cần phải tuân thủ các
điều kiện, yêu cầu từ phía khách quan và chủ yếu, không ngừng nâng cao uy tín
với các tài trợ để đẩy mạnh thu hút nguồn vốn ODA bởi vai trò quan trọng của
nguồn vốn này cho tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia đang
phát triển.
5. Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội :
Để phát triển kinh tế - xã hội của một nước thì nhu cầu về vốn là không thể
thiếu được. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển với cơ sở hạ tầng kinh tế
(11)
. Mối quan hệ trên
còn phụ thuộc nhiều vào khả năng quản lý tốt của nước nhận viện trợ. Trong
điều kiện quản lý tốt thêm 1% viện trợ trong GDP thì tăng trưởng tăng thêm là
0,5%.
Còn đối với phát triển kinh tế, ODA giúp tăng thu nhập bình quân đầu
người dẫn đến tăng phúc lợi và mức sống cho người dân từ đó thúc đẩy phát
triển. Năm 1966 và Thái lan nước nghèo với mức thu nhập dưới 1 USD một
ngày (theo giá năm 1985) , tuy nhiên nước này đã có những biến đổi đến năm
1966. Năm 1967 cứ 1000 đầu sơ sinh đã có 84 trẻ không tiếp tục tồn tại thì vào
(10)
Công thức trên l kà ết quả nghiên cứu độc lập của hai nh kinh tà ế học Domar người Anh v Harrod ngà ươì Mỹ.
(11)
Viện trợ v tà ăng trưởng ở các nước đang phát triển - giai đoạn 1970-1993. assessing Aid What worko,
what dô , and why - trang 31.
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
năm 1994 con số này giảm xuống gần 2/3
(13)
. Những thành tựu này được đánh
giá là có vai trò quan trọng của viện trợ nước ngoài.
Một trong các mục tiêu của viện trợ ODA là giảm ... , mà vấn đề này liên
quan đến tăng mức thu nhập bình quân đầu người. Một nghiên cứu được tiến
hành ở 67 nước cho kết quả là thường thu nhập đầu người tăng thì tỷ lệ nghèo
giảm đi :
Bảng 1:
Chỉ tiêu
55,4 tỷ USD năm 1996 xuống còn 47,6 tỷ USD năm 1997. Nhật bản - nhà tài trợ
số 1 thế giới cũng có xu hướng cắt giảm nguồn viện trợ này (xem chú thích số 8
trang 9) Năm 1997 Mỹ đã cắt giảm trên 3 tỷ USD hạ mức vốn ODA còn 6,1
tỷ
(17)
. Cam kết về tỷ lệ dành cho ODA trong GNP của các nhà tài trợ cũng giảm.
Xem bảng 2.
Bảng 2: Viện trợ phát triển chính thức với GNP 1991 và 1997
Nước
Năm
Thụy
sĩ
Pháp Canada Đức Nhật Anh Italia Mỹ OECD
1991(%) 0,9 0,64 0,45 0,38 0,32 0,32 0,29 0,2 0,35
1997(%) 0,85 0,5 0,42 0,3 0,2 0,28 0,09 0,08 0,2
Giảm 1997
so với 1991
(%)
5,56 21,88 6,67 21,05 37,5 12,5 68,97 60 42,86
Nguồn: assessing Aid - NHTG - trang 9
Bốn nước dẫn đầu trong cắt giảm đứng đầu là Italia với 68,97% sau đó đến
Mỹ 60%, khiến OECD 42,86% và Nhật 37,5%. Tuy nhiên Nhật vẫn duy trì vị
trí số 1 với 9,4tỷ USD cho ODA vào năm 1997.(18)
Lý do cắt giảm nguồn ODA từ các nhà tài trợ rất đa dạng song chủ yếu là
do gặp khó khăn về kinh tế trong nước nên phải tập trung nguồn luực cho việc
khắc phục những khó khăn này. Bên cạnh đó cũng có lý do xuất phát từ cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu xảy ra vào năm 1997 và kéo dài cho đến
nay.
Nguồn ODA đang có xu hướng giảm dần, điều này tạo nên sự bắt lợi cho
các nước vốn là đối tượng của ODA, đặc biệt là các nước trong khu vực châu á,
định là 184 tỷ USD trong đó hội viên đóng góp 10%.
Nhóm ngân hàng thế giới bao gồm 4 tổ chức là hiệp hội phát triển quốc tế
(IDA), công ty tài chính quốc tế (IFC), ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế
(IBRD) và cơ quan đảm bảo đầu tư đa phương (MIGA) và trung tâm giải quyết
tranh chấp đầu tư quốc tế (ICSID) (xem thêm về các tổ chức này ở phụ lục số 2.
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Thành phần ban lãnh đạo của ngân hàng nằm trong Hội đồng quản trị, cơ
quan này chỉ họp 1 năm một lần để quyết định những định hướng chính sách
quan trọng như kết nạp thành viên mới, những thay đổi vốn cổ phần hay phân bổ
thu nhập này của IBRD, xem xét ngân quỹ và tài chính: Các công việc điều hành
do ban giám đốc mà đứng đầu là tổng giám đốc thực hiện.
Chính phủ các nước thành viên của ngân hàng đầu cử đại diện tại trụ sở
chính như là thành viên cuả ban giám đốc. Năm cổ động lớn nhất là Pháp, Đức,
Nhật , Anh và Mĩ ....thời là 5 giám đốc điều hành cùng với 19 giám đốc điều
hành được lựa chọn trong các nước thành viên còn lại 24 giám đốc điều hành
này thường gặp nhau 2 lần trong một tuần lễ cùng nhau xem xét các vấn đề như
hoạt động kinh doanh của ngân hàng các khoản cho vay và bảo đảm, chính sách
mới, đóng góp quỹ chiến lược hỗ trợ quốc gia, các quyết định về tài chính. Tổng
giám đốc của ngân hàng là cổ đông lớn nhất theo truyền thống là Mỹ cử ra
nhiệm kỳ 5 năm một lần có trách nhiệm tổ chức các cuộc họp của ban giám đốc
và toàn bộ công việc quản lý ngân hàng.
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
- Châu Âu và
Trung á-Nam
á
- Trung Đông
và Bắc phi
- Hệ thống
môi trường
và hệ thống
phát triển xã
hội
- Hệ thống
- Châu Phi
- Đông Á và
Thái Bình
Dương.
- Khu vực
tài chính tư
nhân và
CSHT.
- Giảm
nghèo và
quản lý kinh
tế
- Nguồn
nhân lực -
Hội đồng
thư ký
nhóm giải
pháp thông
tin - dịch vụ
.
WB khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tại các nước đang phát triển.
Chức năng này được thực hiện thông qua tổ chức IFC. IFC tài trợ vốn để chống
rủi ro cho các doanh nghiệp tư nhân dưới hình thức các khoản vay vốn cổ phần,
vốn dài hạn. Khuyến khích phát triển thị trường vốn địa phương bằng cam kết
tài trợ, trợ giúp kỹ thuật, tài chính cho các công ty tài chính tư nhân, thời hạn
khoản tín dụng này từ 7 đến 12 năm.
Ngân hàng huy động phần lớn các nguồn tài chính từ các hoạt động trên tt
tài chính quốc tế, trong trường hợp của IDA nguồn tài chính có được thông qua
sự đóng góp của chính phủ các nước thành viên có tiềm lực mạnh về tài chính
(19)
Bộ t i chính - 12/4/99à
(20)
T i lià ệu về NHTG - bộ t i chính - 12/4/99à
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
như Pháp, Đức, Mĩ, Nhật... và cả những nước đang phát triển như Brazil,
Achentina, Hungari, Hàn quốc...
2.3. Ngân hàng thế giới - nhà tài trợ ODA lớn thứ hai của thế giới.
2.3.1. Lĩnh vực hỗ trợ.
Cung cấp ODA cho các nước đang phát triển là một trong các chức năng và
nhiệm vụ cơ bản của WB nhằm trợ giúp cho các nước này phát triển kinh tế - xã
hội. WB nằm trong số 3 nhà tài trợ ODA lớn nhất của thế giới là Nhật bản, WB
và ADB, và đứng ở vị trí số 2 sau Nhật bản.
Với mục tiêu giảm nghèo, giữ vững đà tăng trưởng và tăng cường chất
lượng phát triển, WB trú trọng hỗ trợ cho các nước đang phát triển vào các lĩnh
vực sau:
yếu vẫn là các dự án. Các nước nhận viện trợ phải chuẩn bị các dự án để làm thủ
tục được rút vốn, công việc này đòi hỏi nhiều công phu, tuy nhiên điều quan
trọng nữa là phải nắm được nguyên tắc, thủ tục rút vốn và sử dụng vốn của WB.
2.3.3. Điều kiện nguyên tắc, thủ tục và sử dụng vốn của WB.
2.3.3.1. Nguyên tắc rút vốn.
- Việc rút vốn chỉ thực hiện đối với hàng hoá và dịch vụ các nước thành
viên. Trừ khi bên vay và hàng hiệp hội có thoả thuận gì khác không đi rút vốn
cho các khoản chi trong lãnh thổ của bất kỳ nước nào không phải là thành viên
của ngân hàng, hay cho các hàng hoá được sản xuất hoặc các dịch vụ được cung
cấp từ những lãnh thổ đó.
- Các khoản vay được sử dụng đúng mục đích, có lưu ý đến tính kinh tế và
tính hiệu quả.
2.3.3.2. Thủ tục rút và sử dụng vốn.
- Hoàn trả vốn mà bên vay đã chi trước bao gồm bổ sung vốn vào tài khoản
đặc biệt.
(21)
Bộ t i chính.à
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
- Thanh toán trực tiếp.
- Thanh toán cho ngân hàng thương mại theo cam kết đặc biệt.(xem phụ lục)
2.3.3.4. Các vấn đề rút vốn cần lưu ý.
- Thiếu chữ ký uỷ quyền.
- Thiếu phê duyệt và hợp đồng mua sắm
- Yêu cầu tạm ứng lớn hơn so với thông lệ.
- Khoán mục không hợp lệ vì chúng không nằm trong mô tả về dự án, nằm
trong hạng mục được rút vốn.
Như chúng ta đã biết qua nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của WB, có thể
WB có vai trò quan trọng và đặc biệt quan trọng đối với khi mà hầu hết các quốc
gia đang phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng như tình trạng nghèo đói, vấn
đề môi trường đang bị phá huỷ ghê gớm, mức tiêu chuẩn thấp, nạn mù chữ. Bên
cạnh đó là những biến động lớn trong cấu trúc tài chính toàn cầu như khủng
hoảng ở Mexico 1994 - 1995, khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á.
WB thời gian qua đã chứng tỏ vai trò của mình đặc biệt là sự trợ giúp
nguồn ODA rất có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển để giúp các nước
này đầu tư vào nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng, cải tổ kinh tế, phát triển
nông thôn.... tăng khả năng cạnh tranh .
Như vậy, ngân hàng thế giới có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế -
xã hội đối với hầu hết các nước trên thế giới và đặc biệt là vai trò của nguồn
cung cấp ODA lớn của thế giới cho các nước đang phát triển phấn đấu cho tăng
trưởng ổn định và phát triển bền vững.
III. Quan hệ Việt Nam và WB
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Việt Nam là một nước đang phát triển là một trong những nước được nhận
nguồn hỗ trợ phát triển chính thức từ WB.
Năm 1956 chính quyền Sài gòn (Miền Nam Việt Nam) gia nhập WB. Đến
9-8-1976 nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp quản với tư cách là hội
viên tại WB của chính quyền Sài gòn cũ. Hiện nay Việt Nam là hội viên của 4 tổ
chức thuộc WB là IDA, MIGA, IFC, IBRD trừ ICSID. Tuy nhiên quá trình vay
vốn chủ yếu là từ IDA.
Tại IDA và IBRD Việt Nam là thành viên của nhóm Đông Nam á
Năm 1978, IDA cho biết Việt Nam một khoản tín dụng trị giá 59,7 triệu
USD để thực hiện dự án dầu tiếng. Do quan hệ của Việt Nam và WB không
.
Như vậy muốn quan hệ giữa Việt Nam và WB ngày càng trở nên tốt đẹp
hơn mở ra triển vọng tốt và hết sức thuận lợi cho Việt Nam trong việc tăng
cường những nỗ lực thu hút ODA từ WB trong những năm tới nhất là trong
nguồn vốn này đang có xu hướng hạn hẹp hơn, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu
nghiêm ngặt trong việc sử dụng nguồn vốn này từ WB để phục vụ tốt cho phát
triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
Chương II
THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ GIẢI NGÂN ODA CỦA WB Ở VIỆT NAM
I. Vai trò ODA của WB đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Việt Nam là một trong số các nước được nhận nguồn vốn ODA của thế giới
nói chung và của WB nói riêng. Việt Nam được liệt vào danh sách những nước
nghèo nhất trên thế giới với GNP vào khoảng 300 USD
(23)
. Để thoát khỏi nghèo
đói, tăng trưởng và phát triển kinh tế thì nhu cầu vốn là hết sức cần thiết. Năm
1994 số vốn đầu tư cho nền kinh tế khoảng 42 ngàn tỷ đồng, 1995 là 52 ngàn tỷ
đồng năm 1996 là trên 60 ngàn tỷ đồng và giai đoạn từ 1997 - 2000 nhu cầu
vốn là 40 - 50 tỷ USD
(24)
. Như vậy trung bình mỗi năm Việt Nam cần trên
dưới 10 tỷ USD. Về nguồn vốn ODA trong năm năm 1996 - 2000 Việt Nam cần
vận động được nguồn vốn ODA cam hết là trên 10 tỷ USD
(25)
, như vậy trung
bình mỗi năm nhu cầu là 2 tỷ USD vốn ODA. Vậy nhu cầu vốn ODA mỗi năm
(23)
Việt Nam - Chiến lược hỗ trợ quốc gia của nhóm NHTG giai đoạn 1999 - 2002. 1998 t rang 1
(24)
Báo quân đội nhân dân - 24/3/97 - số 12880 b i và ốn cho phát triển kinh tế đất nước : Nhu cầu, thực
Về phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong giao thông vận tải,
nguồn ODA được sử dụng để khởi công, cải tạo và nâng cấp 865 km quốc lộ số
1, xây dựng cảng nước sâu Cái Lân, Quốc lộ số 5 từng đoạn quốc lộ số 18.
Trong lĩnh vực năng lượng bằng nguồn vốn tài trợ ODA đã và sẽ khởi
công một số nhà máy điện quan trọng trong đó có nhà máy điện Phú Mỹ, Phả
Lại, nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận, Đa Mi. Cải tạo hệ thống lưới điện thành
phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh.
(26)
TCTC - số 2 - 1999 - trang 5
(27)
Invertiment Revien - 3/5/1999 trang b i Nascent gronth could be stimted, warus IMFà
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Trong lĩnh vực thông tin liên lạc có các dự án Tổng đài điện thoại
nông thôn, mạng thông tin di động Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hệ thống
quản lý tần số.
Trong công tác xoá đói giảm nghèo Việt Nam đã đạt được thành tựu là
giảm mức đói nghèo từ 5%( 1992 - 1993) xuống còn 30 - 35% (1994 - 1999)
(28)
.
Riêng năm 1998, tỷ lệ hộ đói nghèo trong cả nước giảm từ 20% xuống còn
17%
(29)
Trong lĩnh vực nông nghiệp lâm nghiệp, thuỷ sản đa khai thực hiện dự án
khôi phục hệ thống thủy lợi Bái Thượng - Đô Lương công trình thủy lợi Ya Zan
Hạ, củng cố đê
Về y tế nguồn ODA được tài trợ cho các chương trình như chăm sóc sức
(4) Tăng năng suất lao động thông qua phát triển cơ sở hạ tầng.
(5) Đẩy mạnh phát triển nông thôn và tăng cường bảo vệ môi trường.
(6) Đầu tư vào con người và thúc đẩy công bằng xã hội.
(7) Cải thiện hành chính công, tính minh bạch và sự tham gia rộng rãi.
Không chỉ cung cấp nguồn ODA cho Việt Nam mà WB còn có cơ chế
quản lý, giám sát cũng như những hướng dẫn chặt chẽ điều này.
Giúp cho Việt Nam thực hiện có hiệu quả nguồn vốn này. Bên cạnh đó
nhờ vào việc WB có khả năng điều phối các nhà taì trợ mà Việt Nam có điều
kiện thu hút nhiều hơn nguồn vốn ODA thể hiện qua việc WB tổ chức các hội
nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam giải quyết nợ qua câu lạc bộ
London.
Như vậy có thể nói WB đã có những hỗ trợ đáng kể cả về nguồn vốn
ODA cũng như những giúp đỡ trong quá trình thực hiện nguồn vốn này của
Việt Nam cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội từ đó đặt ra yêu cầu cho
việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn ODA từ WB.
II. Thực trạng thu hút và giải ngân ODA của WB ở Viêt Nam
1. Thu hút ODA từ WB của Việt Nam
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Trong giai đoạn đầu thiết lập quan hệ với WB, dự án đầu tiên trong
cam kết giữa WB và Việt Nam mà cụ thể là với tổ chức IDA, là dự án Dầu
tiếng với khoản vay tín dụng t rị giá 59,7 triệu USD hay tương đương với
42,3 triệu SDR (theo tỷ giá 1SDR = 1,4 113 USD)
(29)
. Dự án này đã hoàn
thành xong cũng là dự án duy nhất từ khi Việt Nam thiết lập quan hệ với
WB cho đến năm 1992.