Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp - Pdf 25

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 7
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG Ở VIỆT NAM 7
1.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ môi trường và khung pháp luật bảo vệ môi
trường 7
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật bảo vệ môi trường ở
Việt Nam 12
1.3. Hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay . 15
CHƢƠNG 2 23
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG Ở VIỆT NAM 23
2.1. Những thành tựu của pháp luật bảo vệ môi trường 23
2.2. Những vấn đề đặt ra hiện nay trong việc điều chỉnh của pháp luật bảo
vệ môi trường 50
CHƢƠNG 3 66
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG TRONG THỜI GIAN TỚI 66
3.1. Định hướng chung hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong thời
gian tới 66
3.2. Hoàn thiện các quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
môi trường 69
3.3. Hoàn thiện các quy định về đánh giá tác động môi trường 71
3.4. Hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải, nhất là các chất thải ở khu
đô thị và khu công nghiệp 73
3.5. Hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường đất, nước, không khí 76
3.6. Ban hành các văn bản cụ thể hóa quá trình công khai hóa, dân chủ hóa
hoạt động bảo vệ môi trường 78
3.7. Hoàn thiện các quy định về nguồn lực bảo vệ môi trường 79
3.8. Hoàn thiện các quy định về thiết chế bảo vệ môi trường 83
3.9. Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo

đất, bảo vệ ngôi nhà chung cho toàn thể nhân loại. Các chính sách, thoả thuận
quốc tế dần dần được từng quốc gia thể chế thành các định chế pháp luật bảo
vệ môi trường.
Cùng trong xu thế chung của thế giới, là một quốc gia đang phát triển,
Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định trong xoá đói, giảm nghèo,

2
song lại phải đương đầu với những thách thức lớn lao về môi trường. Những
thách thức này luôn đòi hỏi các nhà lãnh đạo đất nước phải sớm tìm ra con
đường đúng đắn nhất để giải quyết. Nhận thức được điều đó, trong những năm
qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc thực hiện các biện pháp
khác nhau để bảo vệ môi trường. Đặc biệt, ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị Ban
chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết số 41-
NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Nghị quyết đã chỉ rõ:
Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội
dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội
của từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú
trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường.
Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
[42, Mục II.A.2]

“Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự
hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi
trường, sống thân thiện với thiên nhiên [42, Mục II.B.3]
Trên tinh thần đó, ngày 22 tháng 02 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã
ra Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động của
Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004

cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp
giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam” của GS. TSKH. Đặng
Kim Chi (2005) phân tích việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải
quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam.
Báo cáo tổng kết đề tài "Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường và các
quy định về các tội phạm về môi trường" của GS. TSKH. Đào Trí Úc, Viện
Nghiên cứu nhà nước và pháp luật đi sâu nghiên cứu các quy định về các tội

4
phạm môi trường hiện hành và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định về các
tội phạm môi trường.
Nội dung "An ninh môi trường" của tác giả Nguyễn Thị Nghĩa được in
trong "Xã hội học môi trường" do Vũ Cao Đàm (chủ biên, năm 2002) đi sâu
phân tích tình hình an ninh môi trường và đề ra các biện pháp nhằm tăng
cường an ninh môi trường.
Ngoài ra, còn có các bài viết đăng tải trên các tạp chí như: "Nhận thức
chung đối với tội phạm về môi trường và một số vấn đề liên quan" của tác giả
Lê Hồng; “Hệ thống chế tài xử phạt vi phạm hành chính - Những bất cập, hạn
chế và phương hướng hoàn thiện” của tác giả Bùi Xuân Đức; “Một số vấn đề
hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính” của tác giả Lê Vương
Long; "Xử lý Vedan" của tác giả Thái Bình, Hoàng Vân
Trong các công trình nghiên cứu trên đây, trên cơ sở phân tích lý luận và
thực tiễn có liên quan, các tác giả mới giới thiệu, phân tích, đánh giá ở một số
khía cạnh, một số lĩnh vực về pháp luật bảo vệ môi trường chứ không đề cập
tổng quan về thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường cũng như chưa đưa ra
phương hướng hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này. Do vậy, luận văn sẽ tập
trung nghiên cứu vấn đề này nhằm cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn
cho việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời gian tới.
4. Đối tƣơng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề có tính lý luận và

hội.
6. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn
Trong thời gian qua đã có rất nhiều đề tài, luận văn nghiên cứu về pháp
luật bảo vệ môi trường, tuy nhiên đây là một công trình khoa học nghiên cứu
pháp luật một cách tương đối toàn diện và Hệ thống hóa, bổ sung lý luận về
pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam.
Luận văn không những chỉ rõ được những bất cập trong các quy định
của pháp luật mà còn tìm ra được những hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp
luật về bảo vệ môi trường, từ đó đưa ra những giải pháp có thể là ý kiến đóng

6
góp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam
trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi
trường trong thời gian tới
Kết luận

7
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ môi trƣờng và khung pháp luật bảo vệ
môi trƣờng
Có rất nhiều quan điểm khi định nghĩa về luật môi trường, tuy vậy, các
quan điểm đều đồng nhất cho rằng, luật môi trường là một ngành luật độc lập.
Luật môi trường (với tư cách là một ngành luật độc lập) là tập hợp
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh

nguyên thiên nhiên. Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp
luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ
bảo vệ môi trường mà các chủ thể phải thực hiện nhằm góp phần vào việc bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường trong sạch và phát triển bền vững. Các
văn bản này điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:
+ Nhóm quan hệ hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước đối với
môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh chủ yếu của Luật Bảo vệ môi trường và
các luật có liên quan như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân…;
+ Nhóm quan hệ về phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô
nhiễm môi trường, phòng chống sự cố môi trường, kiểm soát các hoạt động
ảnh hưởng đến môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo vệ môi
trường và hệ thống các văn bản có liên quan;
+ Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng các thành
phần môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tài nguyên như:
Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật
Khoáng sản, Luật Thuỷ sản, Luật Dầu khí Các văn bản này quy định chế độ
pháp lý về khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ cho mục đích phát
triển kinh tế, xã hội. Đồng thời, các văn bản pháp luật này cũng quy định bảo
vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên với tư cách là bảo vệ các giá trị sinh thái (bảo
vệ môi trường);

9
+ Nhóm quan hệ về giải quyết tranh chấp môi trường, xử lý vi phạm
pháp luật môi trường thuộc phạm vi điều chỉnh của các ngành luật dân sự (điều
chỉnh các quan hệ liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô
nhiễm môi trường), hình sự (quy định các tội phạm môi trường và trách nhiệm
hình sự đối với các tội phạm môi trường), hành chính (điều chỉnh các quan hệ
về phân công trách nhiệm, xác định quyền hạn, nghĩa vụ của các cơ quan nhà
nước về bảo vệ môi trường; xác định trách nhiệm hành chính đối với các hành

kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường;
- Cấp, thu hồi các loại giấy phép về môi trường như giấy chứng nhận đạt
tiêu chuẩn môi trường, giấy phép khai thác khoáng sản, giấy phép xả thải vào
nguồn nước v.v;
- Thực hiện việc giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật
môi trường, đồng thời tiến hành xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hành
chính, hình sự trong lĩnh vực môi trường, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại,
tố cáo liên quan đến hành vi gây hại cho môi trường;
- Thực hiện các biện pháp nâng cao trình độ khoa học-kỹ thuật, công
nghệ, trình độ pháp lý (cả dân trí và “quan trí”) trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường;
- Tham gia hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, đặc biệt là việc tham
gia các diễn đàn, các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường. Theo định hướng
này, cho đến nay, Việt Nam đã tham gia khoảng 20 công ước quốc tế về bảo vệ
môi trường như Công ước RAMSAR về vùng đất ngập nước có tầm quan
trọng quốc tế đặc biệt, Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động
thực vật có nguy cơ tuyệt chủng, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự
nhiên của thế giới, Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn, Công ước BASEL về
kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và tiêu hủy chúng,
Công ước năm 1982 về Luật biển, Công ước MARPOL về ngăn ngừa ô nhiễm
do tàu biển, Công ước khung về thay đổi khí hậu, Công ước về đa dạng sinh
học v.v.

11
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam gồm có
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền chuyên môn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cơ quan
quản lý nhà nước về môi trường có thẩm quyền chung gồm có Chính phủ và
Ủy ban nhân dân các cấp, còn cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có
thẩm quyền chuyên môn gồm có Bộ Tài nguyên và Môi trường, một số Bộ,

về hiện trạng môi trường, xác định khu vực bị ô nhiễm, lập kế hoạch phòng
chống sự cố, xây dựng các bãi chôn lấp, cơ sở xử lý chất thải, tuyên truyền
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng v.v.). Chế định này cũng
bao gồm các quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc phòng,
chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường (chẳng hạn cấm thực
hiện hành vi sau: đốt phá rừng, khai thác khoáng sản bừa bãi, thải khói, bụi,
khí độc, mùi hôi thối, thải dầu mỡ, hóa chất độc hại, chất phóng xạ vượt giới
hạn cho phép, chôn vùi vào đất các chất độc hại, săn bắt, kinh doanh động vật
qúy hiếm, nhập khẩu công nghệ không đạt chuẩn môi trường, chất thải, sử
dụng biện pháp hủy diệt các loài động, thực vật v.v.).
d) Chế định bảo vệ các thành tố môi trƣờng, các nguồn tài nguyên
Chế định nào gồm các quy định bảo vệ các thành tố môi trường, các
nguồn tài nguyên như đất, nước, không khí, rừng, khoáng sản, nguồn lợi thủy
sản, bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học.
đ) Chế định về quan hệ quốc tế trong việc bảo vệ môi trƣờng
Chế định này gồm các quy định về nội dung, yêu cầu, trình tự, thủ tục
của việc tham gia bảo vệ môi trường ở quy mô toàn cầu và khu vực, các quy
định về việc tham gia hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật bảo vệ môi trƣờng ở
Việt Nam
Trước năm 1986, chính sách về bảo vệ môi trường, phòng chống ô
nhiễm, kiểm soát suy thoái môi trường hầu như chưa được đề cập cụ thể.
Trong giai đoạn này, do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam
còn chậm, các vấn đề về môi trường như ô nhiễm và suy thoái môi trường

13
chưa trở nên bức xúc hoặc nếu có bức xúc ở mức độ nhất định thì do điều kiện
lịch sử, vấn đề bảo vệ môi trường chưa nằm trong số các ưu tiên về xây dựng
pháp luật. Trong giai đoạn đó, trong hệ thống pháp luật, ngoại trừ Pháp lệnh
Bảo vệ rừng ngày 11/9/1972 và Điều 36 Hiến pháp 1992, mới chỉ có một số

luật về bảo vệ môi trường ngày càng được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
ta.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 lần đầu tiên đưa việc bảo vệ môi
trường thành một điều khoản riêng biệt. Kế đến, Bộ luật Hàng hải năm 1990,
Luật Đất đai năm 1993, Luật Dầu khí năm 1993 … đều có quy định nghĩa vụ
bảo vệ môi trường của các cá nhân, tổ chức trong việc khai thác các yếu tố môi
trường. Hiến pháp năm 1992 quy định nghĩa vụ bảo vệ môi trường đối với mọi
tổ chức, cá nhân trong xã hội tại Điều 29.
Trong bối cảnh tại thời điểm năm 1993, đất nước mới ở giai đoạn đầu
của quá trình đổi mới, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị
trường, trong khi nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự, Luật Thương
mại, Bộ luật Lao động v.v. chưa được ban hành, việc nhà nước ta sớm ban
hành Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước ta đối với công tác bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 1993
gồm có 55 điều được chia làm 7 chương, quy định những vấn đề có tính cốt lõi
nhất trong công tác bảo vệ môi trường như: những quy định chung, các biện
pháp phòng, chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi
trường, các biện pháp khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và
sự cố môi trường, hệ thống thiết chế nhà nước về bảo vệ môi trường, quan hệ
quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường v.v. Tuy nhiên, qua hơn 12 năm thực
hiện, đạo luật đã bộc lộ nhiều bất cập trước những bước phát triển mới trong
đời sống kinh tế, xã hội, đòi hỏi phải có sự sửa đổi toàn diện. Đáp ứng yêu cầu
này, tại kỳ họp thứ 8 (Khóa XI), Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi
trường mới (Luật Bảo vệ môi trường năm 2005), thay thế cho Luật Bảo vệ môi

15
trường năm 1993. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có hiệu lực kể từ ngày
01/7/2006.
Cũng trong giai đoạn này, Nhà nước ta cũng ban hành hàng loạt đạo luật
và Pháp lệnh quan trọng về tài nguyên và môi trường như Luật Bảo vệ và phát

Tuy nhiên, là văn bản có tính nguyên tắc, các quy định về quyền và
nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức trong việc bảo vệ môi trường chưa được cụ
thể hóa. Việc cụ thể hóa những tinh thần cơ bản của Hiến pháp được thể hiện
trong các đạo luật và các văn bản dưới luật về bảo vệ môi trường.
1.3.2. Hệ thống Luật, Pháp lệnh
Ở tầm Luật và Pháp lệnh, việc bảo vệ môi trường được quy định bởi Luật
Bảo vệ môi trường (ban hành năm 1993 và được thay thế bởi Luật Bảo vệ môi
trường năm 2005 kể từ ngày 01/7/2006) và các văn bản có liên quan. Hiện nay,
có 33 Luật và 22 Pháp lệnh có nội dung liên quan tới công tác bảo vệ môi
trường.
Trong hệ thống các Luật, Pháp lệnh về bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ
môi trường có thể coi là đạo luật trung tâm trong hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 gồm 136
điều được chia làm 15 chương quy định 14 nhóm vấn đề quan trọng sau đây:
- Phạm vi, đối tượng điều chỉnh, nguyên tắc, chính sách về bảo vệ môi
trường của Việt Nam;
- Tiêu chuẩn môi trường: nguyên tắc xây dựng và áp dụng; nội dung và
hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia; các yêu cầu đối với tiêu chuẩn về
chất lượng môi trường xung quanh; các yêu cầu đối với tiêu chuẩn về chất thải;
việc ban hành và công bố áp dụng tiêu chuẩn môi trường quốc gia;
- Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam
kết bảo vệ môi trường;
- Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên (điều tra, đánh giá,
lập quy hoạch sử dụng; bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học; bảo vệ
và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm
dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch, năng

17
lượng tái tạo và sản phẩm thân thiện với môi trường; xây dựng thói quen tiêu
dùng thân thiện với môi trường);

triển khoa học, công nghệ về bảo vệ môi trường; phát triển công nghiệp môi
trường, xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo về môi trường; nguồn tài chính
bảo vệ môi trường (ngân sách nhà nước, thuế, phí môi trường, ký quỹ cải tạo,
phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, quỹ bảo
vệ môi trường); phát triển dịch vụ bảo vệ môi trường; chính sách ưu đãi, hỗ trợ
hoạt động bảo vệ môi trường;
- Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường: thực hiện điều ước quốc tế về
môi trường; bảo vệ môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn
cầu hoá; mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường;
- Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, Bộ Tài nguyên
và Môi trường, các Bộ, ngành khác, Ủy ban nhân dân các cấp), Mặt trận tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên về bảo vệ môi trường;
- Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và bồi thường
thiệt hại về môi trường.
Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường còn có các đạo luật, pháp lệnh về bảo vệ các thành tố môi
trường (còn gọi là các đạo luật, pháp lệnh về tài nguyên). Cụ thể, đó là các đạo
luật, pháp lệnh như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Đất đai năm
2003; Luật Thủy sản năm 2003; Luật Dầu khí năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung
năm 2000); Luật Tài nguyên nước năm 1998; Luật Khoáng sản năm 1996 (được
sửa đổi, bổ sung năm 2005) v.v.
Ngoài ra, quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường hoặc nghĩa vụ tuân
thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá
nhân còn nằm rải rác trong nhiều đạo luật khác. Trong số đó phải kể đến Luật
Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đấu thầu năm 2005,
Luật Nhà ở năm 2005, Luật Thanh niên năm 2005; Bộ luật Hàng hải năm
2005; Luật Du lịch năm 2005; Luật Quốc phòng năm 2005; Luật Giáo dục năm
2005; Luật Điện lực năm 2005; Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2004;

19

Các văn bản này tập trung vào giải quyết các nội dung chính sau: quy
định hệ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Việt Nam; quy
định quy trình đánh giá tác động môi trường; quy định về giấy phép môi
trường; quy định về thanh tra môi trường; quy định về các biện pháp xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; quy định về các thiết chế
bảo vệ môi trường (tổ chức, bộ máy, phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan bảo
vệ môi trường)…
Qua rà soát cho thấy, kết quả hiện có hơn 90 Nghị định của Chính phủ,
hơn 50 Quyết định và 30 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, cùng hàng trăm
thông tư, chỉ thị, quyết định của các Bộ, ngành đã ban hành có nội dung liên
quan trực tiếp tới công tác bảo vệ môi trường.
Trong các văn bản này, phải kể đến các văn bản quan trọng sau:
- Các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật, Pháp lệnh như Nghị định
175/CP ngày 18/10/1994 hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm
1993 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 143/2004/NĐ-CP ngày 12/7/2004);
Nghị định 50/1998/NĐ-CP ngày 16/7/1998 quy định chi tiết thi hành Pháp
lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ; Nghị định 179/1999/NĐ-CP ngày
30/12/1999 quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước; Nghị định
48/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí; Nghị
định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải; Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát
triển bền vững các vùng đất ngập nước; Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày
14/4/2011 của Bộ TN&MT quy định về quản lý chất thải nguy hại v.v.
- Các văn bản về quy hoạch ngành, phê duyệt các chiến lược, chương
trình hành động về bảo vệ môi trường hoặc liên quan đến bảo vệ môi trường:
Quyết định 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 phê duyệt Quy hoạch tổng thể
phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết
định 328/2005/QĐ-TTg ngày 12/12/2005 về việc phê duyệt Kế hoạch quốc gia



22
chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân các cấp;
Thông tư Liên tịch số 04/2010/TTLT-BTNMT-BNV ngày 02/02/2010 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường – Bộ Nội vụ hướng dẫn nhiệm vụ, quyền hạn, tổ
chức, biên chế của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; v.v.
- Các văn bản về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường như: Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường, thay thế Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày
09/8/2006, Nghị định số 99/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, Nghị định số
34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ, Nghị định 26/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật,
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày
17/3/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước….

23
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG Ở VIỆT NAM
2.1. Những thành tựu của pháp luật bảo vệ môi trƣờng
2.1.1. Đánh giá tổng quan về hiệu quả của pháp luật bảo vệ môi
trường
Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường
được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Số lượng hàng chục Luật, Pháp lệnh,
hàng trăm Nghị định, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các văn
bản của các Bộ, ngành hữu quan quy định khá toàn diện các biện pháp, lĩnh
vực bảo vệ môi trường là minh chứng rõ ràng về điều đó.

Ba là, bên cạnh việc tích cực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường, Việt Nam đã từng bước tham gia các điều ước quốc tế
về môi trường như Công ước về Luật Biển, Công ước Viên về bảo vệ tầng ô
zôn, Công ước kiểm soát, vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hại và
tiêu huỷ chúng (Basel), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật
hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng, Công ước về đa dạng sinh học… Việc gia
nhập các công ước này là tiền đề quan trọng cho việc hội nhập của pháp luật
Việt Nam với những tiêu chuẩn và quy phạm của pháp luật quốc tế.
Bốn là, chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được tập
trung vào một đầu mối thống nhất là Bộ Tài nguyên và Môi trường là đúng
hướng, tuy nhiên vẫn chưa triệt để. Bởi việc quản lý tài nguyên vẫn còn nằm
rải rác ở một số bộ, ngành, điều này dẫn tới cơ chế phối hợp trong quản lý nhà
nước chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, từ thực trạng tổ chức thi hành
các văn bản pháp luật về quản lý nhà nước và việc bảo vệ môi trường cho thấy
tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường đang có xu hướng gia tăng, đa dạng
sinh học trên đất liền và dưới nước bị suy giảm; không khí và nguồn nước
đang bị cạn kiệt dần về lượng, suy giảm về chất Thực trạng trên do nhiều
nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do các chúng ta chưa có một
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ trong lĩnh vực này. Trên một số lĩnh

Trích đoạn Hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải, nhất là các chất thải ở khu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status