LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta luôn có chủ trương
đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo đó, mọi thành phần kinh tế được khuyến khích và tạo điều kiện ngày
một thuận lợi để tham gia kinh doanh trên thị trường. Từ đó, cạnh tranh ngày
càng phát triển mạnh mẽ trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế, góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng ngày một tốt hơn.
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng mức độ cạnh tranh thì những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh, hành vi cản trở, hạn chế cạnh tranh cũng gia
tăng theo, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh và làm ảnh hưởng đến
những doanh nghiệp làm ăn chân chính. Chính vì vậy mà ngày 03/12/2004
Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày
01/07/2005. Theo quy định của Luật Cạnh tranh, các hành vi như thoả thuận
hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và
tập trung kinh tế cũng như các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều chịu
sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh.
Ngoài ra, cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
đáng kể trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá cũng như thu hút hàng nhập
khẩu từ các nước trên thế giới. Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường rộng mở
như vậy đặt Việt Nam đứng trước nhiều thách thức, trong đó có hiện tượng áp
dụng quá nhiều, thậm chí lạm dụng các biện pháp bảo đảm công bằng trong
quan hệ thương mại quốc tế.
Các biện pháp chế tài trong thương mại quốc tế (Chống bán phá giá,
chống trợ cấp và tự vệ) là một trong những hàng rào thương mại hợp pháp
được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) công nhận nhằm hạn chế các hành
vi không công bằng xét trên bình diện quốc tế.
Đứng trước yêu cầu đó, Quốc hội đã thông qua 3 Pháp lệnh có liên quan,
đó là Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam,
Pháp lệnh về chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam và
năm 2006 về “Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực thi có hiệu quả Luật
cạnh tranh trong thực tiễn”.
- Đề tài của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương về “Các vấn
đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh
doanh”.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Cục quản lý cạnh tranh về
“Xây dựng mô hình cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá
2
giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thương mại quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế và
đề xuất cho Việt Nam”.
- Sách “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” TS.Lê Danh Vĩnh, Hoàng
Xuân Bắc, Ths.Nguyễn Ngọc Sơn. NXB Tư pháp, Hà Nội năm 2006.
- Sách “Phân tích và lý giải các quan điểm của Luật Cạnh tranh” PGS
TS.Nguyễn Như Phát, Ths.Nguyễn Ngọc Sơn. NXB Tư pháp, Hà Nội năm
2006.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Pháp luật về các cơ quan cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp
và tự vệ ở Việt Nam là lĩnh vực mới và phức tạp, do hiện nay, Việt Nam đang
đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường và mở rộng hợp tác phát triển kinh tế
với các nước trên thế giới; do đó mà có rất nhiều các vấn đề lý luận và thực
tiễn cần giải quyết. Tuy nhiên, trong bản luận văn này, tác giả không có tham
vọng tìm hiểu tất cả các quy định về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ
cấp và tự vệ như việc điều tra, thủ tục tiến hành giải quyết các vụ việc cạnh
tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, mà chỉ chủ yếu đi vào
nghiên cứu mô hình các cơ quan quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá,
chống trợ cấp và tự vệ thương mại của một số nước trên thế giới để từ đó
phân tích, so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng các cơ
quan này của Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
c. Rút ra các kinh nghiệm và bài học để Việt Nam có thể xây dựng được
một mô hình cơ quan quản lý nhà nước thống nhất, đồng thời góp phần
thực thi hiệu quả các văn bản pháp quy trong lĩnh vực này
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm
vụ và phạm vi nghiên cứu. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm
có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, chống bán phá
giá, chống trợ cấp, tự vệ thương mại và mô hình cơ quan cạnh tranh, chống
bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động của cơ quan
cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại ở Việt Nam
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ quan cạnh
tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại ở Việt Nam.
4
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH,
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG TRỢ CẤP, TỰ VỆ THƯƠNG MẠI
VÀ MÔ HÌNH CƠ QUAN CẠNH TRANH, CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ,
CHỐNG TRỢ CẤP, TỰ VỆ THƯƠNG MẠI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH,
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG TRỢ CẤP, TỰ VỆ THƯƠNG MẠI
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh với tích chất là một hiện tượng xã hội chỉ xuất hiện dưới
những tiền đề kinh tế và pháp lý cụ thể. Cạnh tranh với tính chất là động lực
phát triển nội tại của mỗi nền kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện
kinh tế thị trường. Có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song
nhìn chung, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua hay ganh đua của các thành
viên của một thị trường hàng hóa, sản phẩm cụ thể nhằm mục đích lôi kéo về
lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo và cạnh
tranh không hoàn hảo
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường, trong đó giá cả và sản
lượng của một hàng hoá được hoàn toàn xác định bởi cung và cầu trên thị
trường về hàng hoá đó. Theo cách hiểu trên, cạnh tranh hoàn hảo là hình thái
thị trường trong đó có nhiều người bán và nhiều người mua một sản phẩm.
Bất k€ người bán và người mua nào đều là quá nhỏ so với quy mô thị trường
do vậy không có khả năng để tác động tới giá của sản phẩm. Như vậy, cạnh
tranh hoàn hảo chỉ có thể diễn ra khi hội đủ các điều kiện sau:
- Một là, sản phẩm của mỗi doanh nghiệp trong thị trường phải trùng hợp
với sản phẩm của bất k€ doanh nghiệp nào khác đến mức không thể phân biệt
được;
- Hai là, mỗi doanh nghiệp trong ngành phải chiếm một thị phần rất nhỏ;
- Ba là, mọi yếu tố đầu vào của sản xuất đều tự do dịch chuyển để phản
ứng nhanh chóng với những thay đổi để không có một đầu vào nào là sản
phẩm độc quyền. Về mặt lâu dài, các sản phẩm, hàng hóa đều có thể gia nhập
và đi khỏi thị trường một cách dễ dàng
- Bốn là, người tiêu dùng và các doanh nghiệp có kiến thức hoàn hảo về
giá hiện tại, giá tương lai, chi phí và những cơ hội kinh tế.
Trên thực tế, không thể có cạnh tranh hoàn hảo vì năng lực thực tế, điều
kiện chủ quan và cả các cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp khó có thể
đồng nhất. Hơn nữa, sức mạnh của mỗi doanh nghiệp, bắt nguồn từ tiềm lực
6
về tài chính, về quản lý, về cơ cấu thị trường và rủi ro cũng không thể như
nhau.
Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong
các ngành sản xuất mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có
sức mạnh và thế lực để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị
trường [21, tr 301].
Trong cạnh tranh không hoàn hảo thường dẫn đến sự tập trung kinh tế
có người khác thay thế. Lợi ích mà người tiêu dùng luôn mong muốn là mua
được sản phẩm với chất lượng tốt mà lại giá rẻ. Sự mong muốn không bao giờ
dừng lại này của người tiêu dùng sẽ được đáp ứng nhờ có cạnh tranh. Bằng
phương thức cạnh tranh kinh điển là cạnh tranh qua giá mà nhờ đó, giá cả của
sản phẩm ngày càng giảm.
* Cạnh tranh là động lực để thúc đẩy việc phát triển và ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ cao trong kinh doanh.
Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, đã thúc đẩy các doanh nghiệp không
ngừng phát triển và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ cao
trong sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất qua
đó hạ giá thành sản phẩm để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu và thị hiếu
của người tiêu dùng, từ đó giành được ưu thế trên thị trường và thu được lợi
nhuận cao nhất. Điều này, khiến các đối thủ cạnh tranh về sản phẩm cùng loại
muốn tồn tại được trên thị trường cũng phải quan tâm tới việc cải tiến mẫu mã
và chất lượng sản phẩm bằng việc phát triển và ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ cao. Cứ như vậy, cuộc chạy đua giữa các doanh nghiệp
sản xuất các sản phẩm cùng loại sẽ thúc đẩy sự phát triển không ngừng của
khoa học kỹ thuật và công nghệ cao trong kinh doanh.
* Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự sáng tạo, đổi mới liên tục trong kinh doanh
Trong môi trường cạnh tranh, để tồn tại và giàng được chiến thắng, các
doanh nghiệp phải luôn tìm cách vượt lên và đi trước một bước so với các đối
thủ cạnh tranh. Chính cạnh tranh đã tạo ra sức ép buộc các doanh nghiệp phải
luôn luôn có sự sáng tạo và đổi mới về ý tưởng, về phương thức kinh doanh,
về công nghệ sản xuất, về kiểu dáng, mẫu mã, chủng loại của sản phẩm.
* Cạnh tranh là nhân tố góp phần phân bổ lại các nguồn lực theo hướng hiệu
quả hơn.
Cạnh tranh là một quy luật đào thải tự nhiên, những doanh nghiệp nào
không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng thì sẽ bị
đào thải. Quy luật đào thải tự nhiên những doanh nghiệp không có khả năng
cạnh tranh, làm ăn yếu kém chính là phá sản. Phá sản không hoàn toàn một
cạnh tranh thì hầu hết các nước đều chia hệ thống pháp luật về cạnh tranh
thành hai lĩnh vực chủ yếu là pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
và pháp luật về chống hạn chế hạn cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Sở
dĩ có sự phân biệt như vậy là như đã phân tích ở trên, do mục đích, mức độ
nguy hại của chúng đối với thị trường và mức độ can thiệp của Nhà nước đối
9
với hai nhóm hành vi này là khác nhau. Cho dù chúng đều là mặt trái của
hành vi cạnh tranh.
Xét về lịch sử phát triển, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ra
đời sớm hơn pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soát độc quyền.
Những quy định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được ra đời đầu
tiên ở Pháp trong Bộ luật Dân sự năm 1804 tại điều 1382 và 1383. Sau đó, ở
Italia các quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh cũng được quy định
tại các điều 1151 và 1152 của Bộ luật Dân sự năm 1865 và sau đó được sửa
đổi, bổ sung chi tiết hơn trong các điều 2598 đến điều 2601 của Bộ luật Dân
sự mới năm 1942. Cho đến năm 1990, nước này đã ban hành Luật cạnh tranh
và kinh doanh bình đẳng trên cơ sở các nguyên tắc về cạnh tranh của Cộng
đồng kinh tế Châu Âu (EC) quy định tại Hiệp ước Roma về thành lập EC. Ở
Đức, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh ban hành năm 1909 thay thế
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1896. Luật này điều chỉnh tất cả
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh, bảo hộ người sản
xuất, người tiêu dùng và công chúng. Nước Anh với truyền thống Common
Law, mãi tới năm 1980, Luật Cạnh tranh của nước này mới có hiệu lực. Tuy
nhiên, nội dung chủ yếu của nó lại đề cập vấn đề chống hạn chế cạnh tranh
(chống độc quyền) còn chống cạnh tranh không lành mạnh chưa được Luật
này đề cập chi tiết. Hiện nay, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
ngày càng phát triển và khẳng định được vị trí trong hệ thống pháp luật của
nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Do nhiều nguyên khác nhau và
đặc thù của lĩnh vực pháp luật này nên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ vẫn
chú trọng xây dựng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh với những
cạnh tranh được diễn ra bình thường, tức là nó bảo vệ quy luật cạnh tranh, cơ
cấu và tương quan thị trường nhờg đó môi trường cạnh tranh không bị triệt
tiêu. Khi môi trường cạnh tranh tồn tại thì các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh mới có “cơ hội” xuất hiện và nếu chúng xuất hiện thì chúng sẽ bị pháp
luật về chống cạnh tranh không lành mạnh sẽ xử lý. Hai lĩnh vực pháp luật
này bổ sung cho nhau và tạo thành khung pháp luật về cạnh tranh trong nền
kinh tế thị trường. Trên thế giới có nhiều nước ban hành hai đạo luật quy định
về hai lĩnh vực pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về
chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soát độc quyền nhưng cũng có nước ban
hành một đạo luật về cạnh tranh điều chỉnh cả hai nhóm hành vi nói trên. Việc
ban hành một đạo luật hay hai đạo luật về cạnh tranh tu€ thuộc vào điều kiện
và hoàn cảnh kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu cụ thể của việc điều tiết cạnh
tranh của từng quốc gia và nó chỉ có ý nghĩa phần nhiều về mặt kỹ thuật lập
pháp.
11
Ở Việt Nam, trước năm 1986, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế
hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh
tế tập thể. Thành phần kinh tế tư nhân không được thừa nhận và bị liệt vào
dạng phải cải tạo và xoá bỏ. Do không có sự bình đẳng giữa các thành phần
kinh tế, toàn bộ nền kinh tế cũng như từng đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa đều
phải thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh đã được phân bổ từ trước, ký kết hợp
đồng kinh tế là kỷ luật của Nhà nước nên thời k€ này không có môi trường
cho cạnh tranh tồn tại và phát triển. Chính vì lẽ đó, pháp luật về cạnh tranh
chưa được biết đến.
Sau năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế theo hướng
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, dưới sự quản lý của Nhà nước do Đại hội Đảng VI (12/1986) khởi
xướng, các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
cùng tồn tại bình đẳng. Quyền tự do kinh doanh được ghi nhận tại Hiến pháp
(1992) với sự đa dạng về các thành phần kinh tế được thừa nhận và được tạo
kinh tế - xã hội ở nước ta, bởi vì còn thiếu các quy định cụ thể về bộ máy thực
thi, cơ chế áp dụng cũng như chế tài xử lý đối với các thương nhân vi phạm.
Đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký kết, gia nhập
nhiều hiệp định thương mại, đầu tư song phương hoặc đa phương và là thành
viên của nhiều tổ chức, diễn đàn trong khu vực và quốc tế như ASEAN,
AFTA, ASEM, APEC, WTO. Các công ty đa quốc gia xuất hiện ở Việt Nam
ngày càng nhiều và với những tiềm lực kinh tế vượt trội, các công ty này có
khả năng tạo lập được vị trí thống lĩnh và độc quyền, gây không ít khó khăn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, nhất là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đứng trước đòi hỏi của thực tiễn đời sống kinh
tế - xã hội trong nước và đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, sau nhiều năm khởi xướng xây dựng cơ chế kinh tế thị trường và thực thi
chính sách cạnh tranh, ngày 03/12/2004, tại k€ họp thứ VI, Quốc hội khoá XI
đã thông qua Luật cạnh tranh. Luật này có hiệu lực từ ngày 1/7/2005.
1.1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về chống bán phá giá, chống trợ cấp
và tự vệ thương mại
1.1.2.1. Khái niệm chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại
* Khái niệm chống bán phá giá
Theo Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại 1994 (ADA) đã định nghĩa: “ , một sản phẩm bị coi là bán phá
giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn
giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm
từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được
của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện
thương mại thông thường”.
13
Theo định nghĩa trên, bán phá giá là hành động mang sản phẩm của
một nước sang bán ở một nước khác với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị
thông thường của sản phẩm đó khi được bán ở thị trường trong nước. Quan
niệm về bán phá giá này vừa phản ánh được sự phân biệt giá cả mang tính
14
Hiệp định SCM được đưa ra nhằm hai mục đích. Thứ nhất, hiệp định
này quy định về việc sử dụng trợ cấp. Thứ hai, nó quy định các biện pháp mà
các nước có thể sử dụng để ngăn chặn ảnh hưởng của trợ cấp. Một nước có
thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để loại bỏ trợ cấp hoặc
loại bỏ tác động tiêu cực của trợ cấp. Tất nhiên, một nước cũng có thể tiến
hành một cuộc điều tra và tính thuế chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu
được trợ cấp mà gây thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước của nước
nhập khẩu [12, tr 35].
Cũng giống như các quy định của Hiệp định ADA, một nước chỉ được
áp đặt thuế chống bán phá giá sau khi tiến hành một cuộc điều tra chi tiết.
Hiệp định SCM cũng quy định chi tiết về việc liệu một hàng hóa có được trợ
cấp hay không, tiêu chí để kết luận việc nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp có
gây thiệt hại đối với ngành công nghiệp trong nước, thủ tục tiến hành điều tra
và các quy định về thời hạn của các biện pháp đối kháng. Nhà xuất khẩu cũng
có thể thỏa thuận tăng giá xuất khẩu nhằm tránh thuế đối kháng.
* Khái niệm về các biện pháp tự vệ thương mại
Trong khuôn khổ WTO, khi thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại,
các thành viên WTO có thể gặp phải những tình huống khó khăn và buộc phải
lựa chọn hoặc là tạm thời áp dụng những biện pháp mang tính hạn chế thương
mại, hoặc là rút khỏi những cam kết về tự do hóa của mình để bảo vệ nền kinh
tế nội địa. Để giải quyết tình huống này, WTO cho phép các nước thành viên
được áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại.
Biện pháp tự vệ thương mại được quy định tại Điều XIX GATT và
Hiệp định về tự vệ thương mại (SA). Một nước thành viên WTO có thể tạm
thời hạn chế nhập khẩu một hàng hóa nếu như ngành công nghiệp nội địa bị
thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại do sự gia tăng đột biến của hàng nhập khẩu,
thiệt hại ở đây phải là thiệt hại nghiêm trọng. Các biện pháp tự vệ không được
sử dụng thường xuyên, nhiều chính phủ thích áp dụng các biện pháp khác để
bảo vệ ngành công nghiệp nội địa của mình như thông qua các thỏa thuận
vệ thường được nói đến như một công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa
tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp
nhằm hạn chế những tác động không thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho
sản xuất trong nước do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập
khẩu. Như vậy, biện pháp tự vệ có thể được áp dụng kể cả khi các đối tác
thương mại thực hiện kinh doanh một cách chính đáng, không có tình trạng
bán phá giá hoặc trợ cấp. Chính vì vậy, biện pháp tự vệ được áp dụng một
cách khắt khe hơn so với hai biện pháp còn lại. Nếu như yêu cầu về điều kiện
để áp dụng biện pháp chống phá giá và chống trợ cấp chỉ dừng lại ở mức cơ
quan điều tra phải chứng minh có tình trạng bán phá giá hay trợ cấp và việc
16
bán phá giá hoặc trợ cấp đó gây thiệt hại “đáng kể” cho ngành sản xuất hàng
hóa tương tự trong nước thì trong các cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự
vệ, cơ quan điều tra phải chứng minh được tình trạng thiệt hại “nghiêm
trọng” mà ngành sản xuất hàng hóa “tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp”
trong nước phải hứng chịu do việc gia tăng “bất thường” của luồng hàng hóa
nhập khẩu.
1.1.2.2. Vai trò và tác động của các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ
cấp và tự vệ thương mại
Về mặt lý thuyết, có thể nhìn nhận tác động của các biện pháp bảo đảm
công bằng trong thương mại quốc tế đối với thương mại hàng hóa dước các
góc độ sau:
* Tác động tới các dòng thương mại hiện có
Khi một cuộc điều tra được tiến hành thì ngay lập tức nó sẽ gây ra sự
bất ổn đối với các mặt hàng xuất khẩu là đối tượng điều tra từ các nước xuất
khẩu. Để tránh rủi ro về mức thuế cao, hạn ngạch, hoặc các điều kiện phức tạp
khác, các nhà nhập khẩu có thể chuyển sang các nguồn cung cấp khác. Do
vậy kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó sẽ bị sụt giảm, dòng thương mại sẽ
chuyển dịch sang các thị trường khác. Thông thường, các cuộc điều tra sẽ kéo
dài trên dưới một năm, và ngay cả trong trường hợp tại kết luận cuối cùng, cơ
áp dụng (thuế theo tỷ lệ phần trăm và thường cao hơn nhiều lần so với mức
thuế tối huệ quốc) làm cho giá trong nước của sản phẩm tăng lên, giảm tiêu
thụ hàng nhập khẩu và tăng sản xuất trong nước. Các nhà sản xuất trong nước
được hưởng lợi khi giá trị thặng dư của họ được gia tăng. Và như vậy, các
mặt hàng xuất khẩu là đối tượng của biện pháp chống bán phá giá sẽ giảm sức
cạnh tranh so với các mặt hàng tương tự từ các nước không bị kiện (do hàng
rào thuế quan được nâng lên).
1.1.2.3. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về chống bán phá
giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại
Ngày 10/8/1904, các quy định đầu tiên về chống bán phá giá đã được
Canada thông qua. Những quy định chống bán phá giá này được hình thành từ
việc sửa đổi Đạo luật thuế hải quan năm 1897 của nước này. Tiếp theo đó,
vào năm 1905 và năm 1906, các quy định chống bán phá giá đã lần lượt được
New Zealand và Australia áp dụng.
Nãm 1890, Hoa K€ áp dụng một mức thuế chống trợ cấp chung đối với
đường nhập khẩu được nước ngoài trợ cấp vào Hoa K€. Sau đó, năm 1897,
Hoa k€ ban hành quy định theo đó tất cả các mặt hàng nhập khẩu được nước
ngoài trợ cấp đều có thể bị đánh thuế chống trợ cấp. Các quy định về thuế
chống trợ cấp sau đó được thay thế bởi Mục 303 Luật Thuế Fordney –
McCumber năm 1922 (mở rộng diện điều chỉnh với cả trợ cấp sản xuất), và
18
sau đó được thay thế bởi Mục 303 Luật Thuế quan năm 1930. Tiếp sau Hoa
K€, đã có nhiều nước khác có quy định về áp dụng thuế chống trợ cấp.
Năm 1947, với sự ra đời của GATT (General Agreement of Tariffs and
Trade - Hiệp định chung về thuế quan và thương mại), vấn đề chống bán phá
và tự vệ mới được đặt dưới sự chi phối của luật quốc tế, thông qua Điều 6 và
Điều 19 của Hiệp định này. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại lúc
ấy chưa đề cập đến vấn đề trợ cấp. Tại thời điểm đó, hai chủ đề chống bán phá
giá và tự vệ chưa được đưa ra tranh cãi nhiều mà chỉ về sau này, khi các dòng
chảy thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh ngày càng trở nên
định thực thi Điều 19 của GATT về tự vệ.
Trong xu thế tự do hoá mậu dịch ngày càng trở nên phổ biến, việc từng
bước dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan buộc nhiều nước phải áp
dụng các biện pháp chế tài đơn phương để bảo hộ sản xuất trong nước. Nói
cách khác, biện pháp chống bán phá, chống trợ cấp và tự vệ là rào cản phi
thuế quan cho phép một nhóm các nhà sản xuất giành được sự bảo hộ, thậm
chí trong khi các chính sách thương mại quốc gia tổng thể đang hướng về
thương mại tự do.
Bên cạnh đó, dưới sức ép mạnh mẽ từ ngành công nghiệp nội địa và với
động cơ chính trị nhằm giành được sử ủng hộ của cử tri trong ngành công
nghiệp nội địa then chốt, chính phủ nhiều nước ngày càng coi trọng các biện
pháp bảo hộ ngành công nghiệp nội địa trong bối cảnh tự do hoá thương mại
đang diễn ra mạnh mẽ thông qua việc sử dụng các biện pháp đảm bảo thương
mại công bằng.
Chính vì vậy, xu thế chung trên thế giới là các quốc gia thành viên
WTO đều sửa nội luật của mình cho phù hợp với quy định liên quan của
WTO hoặc đối với nhiều nước đang phát triển là xây dựng mới luật điều
chỉnh phù hợp với các Hiệp định và quy định của WTO, những văn kiện
này được coi như một bộ phận của hệ thống pháp lý quốc gia. Để áp dụng
các nguyên tắc đó trong thực tế, mỗi nước có thể có thêm một số điều
khoản chi tiết để thi hành, dựa theo thể chế pháp luật riêng của mình. Như
vậy, về nguyên tắc chung thì luật các quốc gia phải phù hợp với các quy
định của WTO nhưng về mặt áp dụng thực tiễn thì có thể có những điểm
khác nhau [12, tr 32 – 33]. Nhận thức được sâu sắc vấn đề này, khi còn chưa
phải là thành viên của WTO, Nhà nước ta đã từng bước thể chế hóa chế định
chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại của WTO vào luật
pháp Việt Nam bằng việc từng bước ban hành các văn bản pháp luật để điều
chỉnh những vấn đề này. Cụ thể là Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã lần lượt
ban hành Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt
Nam năm 2002, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt
ban thương mại Liên bang Hoa K€ (viết tắt là US - FTC) và Vụ Chống độc
quyền thuộc Bộ Tư Pháp Hoa K€ (viết tắt là US - DOJ).
US - FTC xử lý các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế của phần lớn
người Mỹ. Trên thực tế, cơ quan đã có một truyền thống về duy trì một môi
21
trường cạnh tranh cho cả người tiêu dùng và cho các hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và các doanh nghiệp,
đòi hỏi Bộ Tư pháp phải có một lực lượng chuyên biệt trong lĩnh vực Luật
Chống độc quyền nhằm đối phó với tình hình ngày càng phức tạp của thị
trường. Do vậy, năm 1933, Vụ Chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp đã được
thành lập.
FTC là một cơ quan độc lập báo cáo trực tiếp cho Quốc hội. Ủy ban
hoạt động dưới sự chỉ đạo của 5 ủy viên có nhiệm k€ 7 năm, được bổ nhiệm
bởi Tổng thống và được phê chuẩn bởi Thượng nghị viện. Tổng thống chỉ
định một ủy viên đảm trách Chủ tọa. Không quá 3 ủy viên là thành viên của
một Đảng. Hoạt động của FTC được thực hiện bởi các Cục gồm Cục Bảo vệ
người tiêu dùng, Cục Cạnh tranh, Cục Kinh tế và các Văn phòng: Văn phòng
các vấn đề cộng đồng, Văn phòng quan hệ Quốc hội, Văn phòng giám đốc
điều hành, Văn phòng Tổng thanh tra, Văn phòng Tổng tham vấn (Office of
General Counsel) và 7 văn phòng khu vực có nhiệm vụ hỗ trợ thực hiện các
hoạt động này.
1.2.1.2. Mô hình cơ quan cạnh tranh thuộc Chính phủ
- Uỷ ban Cạnh tranh và Tiêu dùng Úc [33]
Cơ quan có trách nhiệm liên quan tới những quy định cạnh tranh trong
Luật Thực tiễn thương mại Úc 1974 bao gồm Uỷ ban Cạnh tranh và Tiêu
dùng Úc (ACCC), Tòa Cạnh tranh Úc (Australian Competition Tribunal) và
Hội đồng cạnh tranh quốc gia (National Competition Council).
ACCC được thành lập năm 1995 thay thế cho Ủy ban Thực tiễn thương
mại (Trade Practices Commission) sau khi có Luật Cải cách chính sách cạnh
tranh năm 1995.
quan khác, Uỷ ban có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan đó để xử lý vụ
việc. Uỷ ban cũng đồng thời chịu trách nhiệm điều chỉnh hay giám sát việc
thực thi Luật Thương mại lành mạnh của các cơ quan có thẩm quyền khác ở
cấp địa phương.
Để đảm bảo việc thực thi luật, Uỷ ban có quyền ra quyết định đình chỉ
và buộc chấm dứt hành vi, để yêu cầu người bị khiếu nại sửa chữa những
hành vi bất hợp pháp của mình, quyền ấn định mức phạt hành chính lên đến
50 triệu đô la Đài Loan (khoảng 1.450.000 USD). Uỷ ban có quyền điều tra
để phát hiện những hành vi bất hợp pháp, với những chức năng và thẩm
quyền bán tư pháp nhất định (semi-judicial power). Mặc dù, toà án và công tố
viên (kiểm sát viên) có đầy đủ thẩm quyền trong những vấn đề này. Tuy
nhiên, việc thực thi luật cạnh tranh chủ yếu do Uỷ ban thực hiện. Các vi phạm
hình sự sẽ được đưa sang Cơ quan công tố (Viện kiểm sát) nếu người vi phạm
không chấp hành quyết định của Uỷ ban. Các chế tài hình sự có thể là phạt tù
hay phạt tiền (tối đa là 100 triệu đô la Đài Loan) hoặc cả hai.
1.2.1.3. Mô hình các cơ quan cạnh tranh thuộc Bộ
23
- Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản [35]
Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản (sau đây gọi là Ủy ban) được
thành lập như là một cơ quan quản lý của Chính phủ để đạt được mục tiêu của
Luật Chống độc quyền. Bên cạnh Luật Chống độc quyền, Uỷ ban còn thi
hành Luật chống tặng phẩm phi lý và trưng bày gây nhầm lẫn, Luật chống
thanh toán chậm trong hợp đồng gia công phụ đối với người sản xuất phụ, đây
là những luật đặc biệt bổ sung cho Luật Chống độc quyền. Uỷ ban có vị trí
như là một cơ quan cấp bộ thuộc sự chỉ đạo của Bộ trưởng các bộ: Bộ quản lý
công cộng, Bộ nội vụ, Bộ bưu chính viễn thông.
Tuy nhiên, Uỷ ban có đặc điểm của một tổ chức quản lý theo hệ thống
hội đồng, bao gồm một chủ tịch và bốn uỷ viên. Trong việc thực thi Luật
Chống độc quyền, Uỷ ban thực hiện nhiệm vụ của nó một cách độc lập,
không chịu sự chỉ đạo hay giám sát của bất cứ một ai.
hành vi áp đặt mức giá bán quá thấp. Hội đồng cạnh tranh có thể tiến hành
điều tra trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ tài chính kinh tế và công nghiệp,
đơn khiếu nại của người tiêu dùng, của hiệp hội và các doanh nghiệp. Ngoài
ra, Hội đồng còn có một chức năng quan trọng khác đó là chức năng tư vấn.
Với chức năng này, Hội đồng có thể tham gia cho ý kiến về mọi vấn đề liên
quan đến cạnh tranh như: về các dự thảo luật, các dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật về giá cả, hạn chế cạnh tranh cũng như các hoạt động tập trung kinh
tế của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc hỏi ý kiến tư vấn của Hội đồng có
thể là bắt buộc hoặc không bắt buộc.
Tổng Vụ cạnh tranh, tiêu dùng và trấn áp gian lận được thành lập vào
năm 1985 là đơn vị trực thuộc Bộ tài chính kinh tế và công nghiệp. Tổng Vụ
có chức năng chính là điều tiết thị trường, đảm bảo cho các hoạt động thị
trường vận hành một cách tối ưu nhằm mang lại lợi ích của doanh nghiệp
cũng như cho người tiêu dùng. Về cạnh tranh, Tổng Vụ là cơ quan chịu trách
25