Phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con người. Phân tích từ thực tiễn công trình thủy điện Tuyên Quang - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HOÀI LINH
Ph¸t triÓn thñy ®iÖn víi viÖc b¶o ®¶m quyÒn con ng-êi.
Ph©n tÝch tõ thùc tiÔn c«ng tr×nh thñy ®iÖn Tuyªn Quang Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS. PHẠM HỒNG THÁI

HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN

1.1. Nhận thức về quyền con ngƣời 6
1.1.1. Khái niệm quyền con ngƣời 6
1.1.2. Đặc trƣng và các thế hệ quyền con ngƣời 7
1.2. Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự ảnh
hƣởng của phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con ngƣời 9
1.2.1. Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 9
1.2.2. Sự ảnh hƣởng của phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con ngƣời 12
1.3. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ công
bằng xã hội 27
1.3.1. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ công bằng xã
hội ở Việt Nam hiện nay 27
1.3.2. Cách tiếp cận dựa trên quyền: sự gắn kết giữa quyền và phát triển 30
1.4. Những yêu cầu cơ bản về bảo đảm quyền con ngƣời trong phát
triển thủy điện 32
1.4.1. Bồi thƣờng một cách thích đáng và công bằng 32
1.4.2. Bảo đảm sự tham vấn thực sự hay minh bạch khi thực hiện cƣỡng chế di
dời giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án thủy điện 39
1.4.3. Giải quyết hài hòa lợi ích của các bên khi thực hiện cƣỡng chế di dời
giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án thủy điện 42
1.4.4. Bảo đảm sự tồn tại của một cơ chế giải quyết khiếu nại của các hộ
phải di dời một cách hiệu quả 45
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI TỪ THỰC
TIỄN CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG 48
2.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội của Tỉnh Tuyên Quang 48
2.2. Thực trạng bảo đảm quyền con ngƣời thông qua việc thực hiện
các quy định về bồi thƣờng, hỗ trợ khi nhà nƣớc di dời dân để
thực hiện dự án thủy điện Tuyên Quang 49
2.2.1. Công tác điều tra, khảo sát, lập quy hoạch di dân tái định cƣ dự án
thủy điện Tuyên Quang 49
2.2.2. Việc thực hiện bồi thƣờng và hỗ trợ cho các hộ dân phải di chuyển để

thủy điện 98
3.1.5. Hình thành cơ chế pháp lý bảo đảm quyền về văn hóa cho các hộ dân
phải di dời để thực hiện các dự án thủy điện 99
3.1.6. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giám sát độc lập công tác bồi
thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ đối với các dự án phát triển thủy điện 101
3.2. Các giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật 101
3.2.1. Tăng cƣờng các biện pháp kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá
trình thực thi pháp luật về thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ 101
3.2.2. Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nƣớc và nhận thức của
nhân dân về pháp luật liên quan đến thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ và
tái định cƣ các dự án phát triển thủy điện 103
3.2.3. Bảo đảm sự tham vấn thực sự trong quá trình thu hồi đất, bồi thƣờng,
hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tổ chức di chuyển dân để thực hiện dự
án thủy điện 104
3.2.4. Tổ chức đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi nghề, phát triển sản xuất cho
hộ tái định cƣ 105
3.2.5. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các hộ tái
định cƣ 107
3.2.6. Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, kiến nghị, đề nghị về thu hồi
đất, bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Tên đầy đủ

Bảng 2.3:
Bồi thƣờng thiệt hại về nhà ở theo nhân khẩu
56
Bảng 2.4:
Tổng hợp nhận xét của các hộ bị thu hồi đất về giá bồi
thƣờng đất và tài sản trên đất (90 hộ)
57
Bảng 2.5:

̉
ng hơ
̣
p số dân phải di chuyê
̉
n
62
Bảng 2.6:
Tình hình cơ bản của các hộ điều tra năm 2014
65
Bảng 2.7:
Tổng hợp cơ cấu lao động của hộ điều tra
68
Bảng 2.8:
Cơ cấu dân tộc của hộ điều tra
68
Bảng 2.9:
Tổng hợp chất lƣợng nguồn nhân lực hộ điều tra
69
Bảng 2.10:
Tổng hợp đất đƣợc giao nơi ta

84
Bảng 2.18:
Nội dung các vấn đề khiếu nại, kiến nghị, đề nghị, phản
ánh liên quan đến dự án thủy điện Tuyên Quang giai đoạn
(2003 - 2007)
85
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Số hiệu biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 2.1:
Cơ cấu vốn đền bù, tái định cƣ Dự án thủy điện Tuyên Quang
64
Biểu đồ 2.2:
Cơ cấu về trình độ học vấn, chuyên môn của hộ điều tra
67
Biểu đồ 2.3:
Cơ cấu đất canh tác của hộ ta
́
i đi
̣
nh cƣ
71
Biểu đồ 2.4:
Mức độ tham gia của ngƣời dân vào việc lựa chọn nơi

cập đến đền bù đất và các tài sản bị thiệt hại, các thiệt hại vô hình khác về môi
trƣờng, văn hóa cộng đồng… chƣa đƣợc tính đến đầy đủ. Các yếu tố tự nhiên, kinh
tế xã hội theo đặc thù từng vùng, nhóm dân tộc chƣa đƣợc khảo sát kỹ và tính toán
đầy đủ, cân nhắc trƣớc khi đƣa ra các phƣơng án tái định cƣ đặc biệt là những khu
dân cƣ phải chuyển đổi phƣơng thức canh tác, các nhóm dân tộc ít ngƣời, trình độ
phát triển còn thấp. Tất cả những điều này ảnh hƣởng tới quyền con ngƣời.
Công trình thủy điện Tuyên Quang cũng không nằm ngoài những nhận định đó.
Bên cạnh những lợi ích to lớn đối với cả nƣớc, công trình cũng gây thiệt hại lớn về đất
đai, tài sản và buộc tỉnh Tuyên Quang phải tổ chức di dời và tái định cƣ (TĐC) cho
4.139 hộ với 20.138 nhân khẩu thuộc vùng lòng hồ và mặt bằng công trƣờng.
Nhận thức sâu sắc ảnh hƣởng của việc thực hiện dự án thủy điện Tuyên
Quang đối với các hộ dân thuộc vùng lòng hồ phải di chuyển, Chính phủ và Ủy
ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã có những quy định cụ thể về chính sách bồi
thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ nhằm khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực
cũng nhƣ giải quyết vấn đề sinh kế sau này cho các hộ phải di chuyển, tái định cƣ.
Tuy nhiên, những chính sách này đang bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại trong việc bảo
đảm quyền của các hộ phải di chuyển tái định cƣ và thực tế áp dụng đã gây ra
nhiều bức xúc trong đời sống xã hội. Dƣới góc độ khoa học pháp lý, vấn đề quyền
con ngƣời trong các dự án phát triển thủy điện cần phải đƣợc quan tâm nghiên cứu
dƣới cả phƣơng diện lý luận và thực tiễn để ngày càng hoàn thiện. Với những lý

2
do trên, học viên chọn đề tài “Phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con
người. Phân tích từ thực tiễn công trình thủy điện Tuyên Quang” làm đề tài
luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Phân tích làm rõ khuôn khổ pháp lý liên quan đến thu hồi đất, bồi thƣờng,
hỗ trợ di dân, tái định cƣ và thực tiễn áp dụng tại dự án công trình thủy điện Tuyên
Quang, so sánh với các nguyên tắc, tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế có liên quan, từ

với các hộ dân tái định cƣ dự án thủy điện Tuyên Quang.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nƣớc trong
việc xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quan đến việc bảo đảm quyền con
ngƣời trong phát triển các dự án thủy điện. Ngoài ra, luận văn có thể dùng làm tài
liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu tại Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Về đối tượng nghiên cứu
- Khuôn khổ pháp luật liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ di
dân, tái định cƣ công trình thủy điện Tuyên Quang, bao gồm: thu hồi đất, bồi
thƣờng, hỗ trợ tái định cƣ và thực tiễn áp dụng pháp luật kể trên tại dự án công trình
thủy điện Tuyên Quang
- Tính tƣơng thích của khuôn khổ pháp lý nói trên và thực tiễn áp dụng
chúng với các nguyên tắc, tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con ngƣời.
4.2. Về phạm vi nghiên cứu
- Trƣờng hợp nhà nƣớc thu hồi đất để thực hiện dự án công trình thủy điện
Tuyên Quang
- Về phạm vi không gian và thời gian, luận văn nghiên cứu các quy định của
pháp luật về thu hồi đất, chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ do các cơ quan
Trung ƣơng và tỉnh Tuyên Quang ban hành và thực tiễn áp dụng đối với dự án công
trình thủy điện Tuyên Quang

4
5. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chủ đề nghiên cứu về chính sách di dân, tái định cƣ cũng nhƣ ảnh hƣởng của
những chính sách này đến đời sống ngƣời dân phải di dời trong các dự án hạ tầng ở
nƣớc ta đã đƣợc giới nghiên cứu khoa học xã hội quan tâm xem xét. Điển hình có
thể kể đến những công trình nghiên cứu nhƣ:
- Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh
miền núi, Đặng Nguyên Anh, Nxb Thế giới, Hà Nội.2006


6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI
TRONG PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN

1.1. Nhận thức về quyền con ngƣời
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Trong lời nói đầu của Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948 có nhấn
mạnh: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời
của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa
bình trên thế giới” [12].
Thông qua lời nói đầu của tuyên ngôn, quyền con ngƣời đƣợc mặc nhiên
hiểu đó là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhƣợng đƣợc của các cá
nhân. Tuyên ngôn không đƣa ra định nghĩa về quyền con ngƣời mà đi thẳng vào nội
hàm của quyền con ngƣời trong đó nêu ra những quyền chính trên cơ sở sự đồng
thuận của đông đảo các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc.
Đối với các nhà nghiên cứu, có một định nghĩa không chính thức nhƣng

ngƣời không thể bị tƣớc bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể
cả bởi nhà nƣớc. Mọi giới hạn, hạn chế hay tƣớc bỏ quyền của một cá nhân đều
phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tƣơng xứng
của cộng đồng hay của cá nhân khác.
- Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con
ngƣời đều có tầm quan trọng nhƣ nhau, về nguyên tắc không có quyền nào đƣợc coi
là có giá trị hơn quyền nào, bởi lẽ việc tƣớc bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều
tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con ngƣời.
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated): Thể hiện ở chỗ việc bảo
đảm các quyền con ngƣời, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc
và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh
hƣởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác và ngƣợc lại, tiến bộ trong việc
bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm
các quyền khác.

8
1.1.2.2. Các thế hệ quyền con người
Năm 1977, Karel Vasak đƣa ra ý tƣởng về ba “thế hệ nhân quyền” (generations
of human rights) nhằm phân tích lịch sử phát triển của quyền con ngƣời [15, tr.30].
Thế hệ thứ nhất, các quyền dân sự, chính trị: Thế hệ quyền con ngƣời này
hƣớng vào hai vấn đề chính, đó là tự do và sự tham gia vào đời sống chính trị của các
cá nhân. Nó bao gồm các quyền và tự do cá nhân về phƣơng diện dân sự và chính trị;
tiêu biểu nhƣ quyền sống, quyền tự do tƣ tƣởng, tự do tôn giáo, tín ngƣỡng, tự do
biểu đạt, quyền đƣợc xét xử công bằng Thế hệ quyền này gắn liền với cuộc đấu
tranh của giai cấp tƣ sản lật đổ chế độ phong kiến. Những văn kiện pháp lý quốc tế
tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền
con ngƣời, 1948 và Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966.
Thế hệ thứ hai, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: Thế hệ quyền con ngƣời
này hƣớng vào việc tạo lập những điều kiện và sự đối xử bình đẳng, công bằng cho
mọi công dân trong xã hội. Chúng đƣợc đề xƣớng và vận động từ cuối thế kỷ XIX,

pháp lý quốc tế tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là Tuyên ngôn về
trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa, 1960; hai công ƣớc cơ bản
về nhân quyền năm 1966 là ICCPR và ICESCR; Tuyên bố về quyền của các dân tộc
được sống trong hòa bình, 1984; Tuyên bố về quyền phát triển, 1986
Ngoại trừ một số quyền nhƣ quyền tự quyết dân tộc, nhiều quyền trong thế
hệ thứ ba chƣa đƣợc pháp điển hóa bằng các điều ƣớc quốc tế, mà chủ yếu mới chỉ
đƣợc đề cập trong các tuyên bố, tuyên ngôn (các văn kiện luật mềm - soft law). Vì
vậy, tính pháp lý và tính hiện thực của hầu hết các quyền trong thế hệ này vẫn đang
là chủ đề gây tranh cãi.
1.2. Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự ảnh
hƣởng của phát triển thủy điện với việc bảo đảm quyền con ngƣời
1.2.1. Vai trò của thủy điện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Năng lƣợng nói chung và năng lƣợng điện nói riêng là yếu tố đầu vào quan
trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của bất cứ quốc gia nào. Vì vậy, đảm bảo an
ninh năng lƣợng là rất cần thiết và cấp bách, đƣợc thực hiện thông qua việc tìm
kiếm và đa dạng các nguồn phát năng lƣợng trong đó có năng lƣợng thủy điện.

10
Thuỷ điện là nguồn điện có đƣợc từ năng lƣợng nƣớc. Đa số năng
lƣợng thuỷ điện có đƣợc từ thế năng của nƣớc đƣợc tích tại các đập nƣớc
làm quay một tuốc bin nƣớc và phát điện. Thuỷ điện là nguồn năng
lƣợng có thể hồi phục. Thuỷ điện, sử dụng động lực hay năng lƣợng
dòng chảy của các con sông hiện nay chiếm 20% lƣợng điện của thế giới.
Na Uy sản xuất toàn bộ lƣợng điện của mình bằng sức nƣớc, trong khi
Iceland sản xuất tới 83% nhu cầu của họ (2004), Áo sản xuất 67% số
điện quốc gia bằng sức nƣớc (hơn 70% nhu cầu của họ). Canada là nƣớc
sản xuất điện từ năng lƣợng nƣớc lớn nhất thế giới và lƣợng điện này
chiếm hơn 70% tổng lƣợng sản xuất của họ [48].
Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là hạn chế đƣợc giá thành nhiên liệu. Các nhà
máy thuỷ điện không phải chịu cảnh tăng giá của nhiên liệu hóa thạch nhƣ dầu mỏ,

, tổng diện tích lƣu vực là 14.972 km
2
, mực nƣớc dâng bình thƣờng là 120m,
tổng diện tích mặt hồ là 8.149 ha.
Nhiệm vụ chính của Dự án là cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã
hội, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc với điện lƣợng bình quân hàng
năm 1,296 tỷ KWh. Góp phần chống lũ về mùa mƣa và cung cấp nƣớc về mùa kiệt
cho vùng hạ du; lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang với dung tích 2,245 tỷ m
3
trong đó
01 tỷ m
3
tham gia chống lũ cho vùng hạ du, có thể làm giảm mực nƣớc lũ tại thành
phố Tuyên Quang từ 2,5 m đến 2,7 m và tham gia làm giảm mực nƣớc lũ tại Hà Nội
từ 0,4 m đến 0,42 m; cùng với việc góp phần chống lũ cho hạ du, hồ chứa dự án
thuỷ điện Tuyên Quang có thể tăng lƣu lƣợng nƣớc mùa kiệt cho vùng hạ du từ 49
m
3
/s đến 52 m
3
/s.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích do thủy điện mang lại, việc thực hiện các
dự án thủy điện cũng có những mặt hạn chế nhƣ:
Trên thực tế, việc sử dụng nƣớc tích trữ thỉnh thoảng khá phức tạp bởi vì yêu
cầu tƣới tiêu có thể xảy ra không trùng với thời điểm yêu cầu điện lên mức cao nhất.
Những thời điểm hạn hán có thể gây ra các vấn đề rắc rối, bởi vì mức bổ sung nƣớc
không thể tăng kịp với mức yêu cầu sử dụng. Nếu yêu cầu về mức nƣớc bổ sung tối
thiểu không đủ, có thể gây ra giảm hiệu suất và việc lắp đặt một turbine nhỏ cho
dòng chảy đó là không kinh tế.
Những nhà môi trƣờng đã bày tỏ lo ngại rằng các dự án nhà máy thuỷ điện

Việc thu hồi đất và tổ chức di chuyển cho các hộ dân thuộc khu vực lòng hồ

13
đƣợc thực hiện bằng một quyết định hành chính của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm
quyền thể hiện tính mệnh lệnh đơn phƣơng. Các hộ dân có trách nhiệm phải thực
hiện quyết định hành chính đó. Điều này có nghĩa, chắc chắn không thể áp dụng
đƣợc một số giải pháp thị trƣờng hoặc là sự thỏa thuận vào cơ chế thu hồi đất, bồi
thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ. Nói cách khác, việc thu hồi đất và tổ chức di chuyển
cho các hộ dân để thực hiện dự án thủy điện luôn có yếu tố cƣỡng chế.
Trên bình diện quốc tế, các văn kiện pháp lý có đề cập đến một khái niệm có
liên quan đến vấn đề này đó là cưỡng bức di dời (forced evictiong). Theo định nghĩa
của Ủy ban giám sát ICESCR nêu tại Bình luận chung số 7 năm 1997: “Cưỡng bức di
dời là sự di dời một cách vĩnh viễn hoặc tạm thời các cá nhân, gia đình và/hoặc cộng
đồng ra khỏi nhà đất mà họ đang chiếm giữ trái với nguyện vọng của họ và không có
các hình thức bảo vệ pháp lý hoặc các hình thức bảo vệ thích hợp khác với họ” [10].
Về nguyên tắc chung, việc di dời cƣỡng bức khỏi nơi ở là một sự vi phạm
các quyền con ngƣời, không phù hợp với những quy định của ICESCR. Tuy vậy,
Ủy ban cũng cho rằng trong một số trƣờng hợp và phụ thuộc vào những điều kiện
cụ thể, việc cƣỡng bức di dời khỏi nhà đất có thể phù hợp với những chuẩn mực
quốc tế về quyền con ngƣời. Trong Khuyến nghị chung số 4 năm 1991, Ủy ban các
quyền kinh tế, văn hóa và xã hội cho rằng:
Trong một số trƣờng hợp nhất định, việc cƣỡng bức di dời khỏi
đất và nhà ở đƣợc cho là đƣơng nhiên hoặc là cái giá cần thiết cho sự
phát triển hoặc vì lợi ích công, nhƣng cũng chỉ có thể đƣợc thừa nhận
trong những trƣờng hợp ngoại lệ nhất và phù hợp với những nguyên tắc
liên quan của luật quốc tế [11].
Trƣờng hợp ngoại lệ nêu ở trên nhằm để chỉ những đối tƣợng không tích cực
thực hiện hoặc có vi phạm nghĩa vụ pháp lý đối với chủ sở hữu đất đai, nhà ở hoặc
đe dọa quyền lợi của chủ thể khác. Theo cách nhìn này, ngƣời bị cƣỡng bức di dời
là ngƣời vi phạm và chủ sở hữu đất đai, nhà ở là nạn nhân. Ngay cả trong những

cá nhân khỏi nhà nƣớc. Điều 17 Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời khẳng định:
1. Mọi ngƣời đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hoặc tài
sản sở hữu chung với ngƣời khác
2. Không ai bị tƣớc đoạt tài sản một cách tùy tiện [12, Điều 17]

15
Thêm vào đó, mặc dù không quy định trực tiếp trong văn kiện, nhƣng Điều 1
(2) của cả hai công ƣớc ICCPR và ICESCR thông qua quyền tự quyết bảo đảm cho
tất cả mọi ngƣời quyền đƣợc định đoạt các tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cấm
các hành vi tƣớc đoạt phƣơng kế sinh nhai của họ. Thế giới cũng có nhiều tuyên bố
và văn kiện khác công nhận vấn đề trên, nhấn mạnh những điều kiện dẫn đến công
bằng xã hội thực sự thông qua các quyền tài sản. Tuyên bố về sự tiến bộ và phát
triển xã hội đƣợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 11 tháng 9 năm 1969
khẳng định rằng: “Tiến bộ và sự phát triển của xã hội đòi hỏi phải thiết lập các loại
hình sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất phù hợp với nhân quyền và tự do cơ
bản với nguyên tắc công lý và chức năng xã hội của tài sản ” [12].
Bởi những lý do và cơ sở nhƣ vậy, Hiến pháp và luật cơ bản của hầu hết các
nền dân chủ trên thế giới đều đảm bảo lâu dài quyền đối với tài sản, thừa nhận
quyền sở hữu tài sản là quyền con ngƣời, quyền công dân. Nội hàm của nó bao gồm
cả việc tự do định đoạt tài sản của một cá nhân với tƣ cách là ý chí của chủ sở hữu,
không ai bị tƣớc đoạt tài sản một cách tùy tiện. Nhà nƣớc, với vai trò là chủ thể
gánh vác nghĩa vụ, phải tôn trọng quyền sở hữu của cá nhân bằng cách kiềm chế
không thực hiện những hành vi xâm hại quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của
chủ sở hữu. Nhƣng với quyết định hành chính áp đặt, nhà nƣớc khiến cho những
ngƣời bị thu hồi đất, di dời khỏi nơi ở khi thực hiện các dự án thủy điện không chỉ
mất nhà cửa và môi trƣờng sinh sống mà ở đó họ đã đầu tƣ một phần thu nhập đáng
kể trong rất nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ, mà còn bị buộc từ bỏ những tài sản
trên đất mà họ sở hữu trƣớc khi cơ quan nhà nƣớc tháo dỡ, phá hủy nơi định cƣ của
họ để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án. Rõ ràng ngƣời bị thu hồi đất và phải di
chuyển để thực hiện các dự án thủy điện không đƣợc tự do định đoạt tài sản theo ý

việc làm, trong đó bao gồm cả quyền không bị tƣớc bỏ công việc một
cách không công bằng và trao cho Nhà nƣớc nghĩa vụ đảm bảo các điều
kiện cần thiết để cá nhân có thể thực thi quyền lựa chọn việc làm. Nghĩa
vụ này nhấn mạnh đến thực tế là việc tôn trọng cá nhân và nhân phẩm
của một ngƣời thông qua việc cá nhân đó có quyền tự do lựa chọn việc
làm để phát triển bản thân và đƣợc thừa nhận trong cộng đồng [12].

Trích đoạn Cỏch tiếp cận dựa trờn quyền: sự gắn kết giữa quyền và phỏt triển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status