ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ AN SỰ ĐỘC LẬP TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
CỦA TOÀ ÁN TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60.38.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG Hà Nội - 2010
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ AN SỰ ĐỘC LẬP TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
CỦA TOÀ ÁN TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60.38.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐỘC LẬP CỦA TOÀ ÁN LÀ MỘT NGUYÊN TẮC CỦA
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 6
1.1. Tại sao trong Nhà nước pháp quyền, toà án phải độc lập 6
1.2. Những yêu cầu của toà án độc lập 20
1.2.1. Toà án độc lập về mặt thể chế 24
1.2.2. Toà án phải có hành chính nội bộ riêng 34
1.2.3. Thẩm phán phải độc lập 37
1.3. Toà án độc lập ở một số quốc gia điển hình 41
1.3.1. Toà án độc lập ở Mỹ 41
1.3.2. Toà án độc lập ở Vương quốc Anh 47
1.3.3. Toà án độc lập ở Pháp 51
Chƣơng 2: NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP CỦA TOÀ ÁN Ở VIỆT NAM 68
2.1. Khái quát về hệ thống toà án Việt Nam 68
2.2. Thực trạng nguyên tắc độc lập xét xử của toà án tại Việt Nam 75
2.2.1. Khái niệm về tính độc lập của toà án ở Việt Nam 75
2.2.2. Những khía cạnh chính của nguyên tắc độc lập toà án ở Việt Nam 87
Chƣơng 3: NHỮNG ĐỀ XUẤT CỤ THỂ ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN
NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP XÉT XỬ TẠI VIỆT NAM
3.1. Sự độc lập của toà án không giản đơn chỉ có trong giai đoạn xét xử 118
3.2. Tăng cường trách nhiệm của thẩm phán 120
3.3. Nhiệm kỳ của thẩm phán phải vững chắc và lâu dài 123
3.4. Chế độ lương bổng cho thẩm phán phải được đảm bảo 127
3.5. Thẩm phán phải xét xử theo lương tâm 129
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
Tuy nhiên, vị trí, tầm quan trọng của toà án trong tổng thể thực hiện
quyền lực nhà nước chưa được nhận thức đầy đủ; hoạt động xét xử chưa được
xem xét dưới góc độ phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng
Nhà nước pháp quyền; tổ chức bộ máy và thẩm quyền của hệ thống toà án
chưa được đổi mới cơ bản; năng lực, trình độ của thẩm phán chưa đáp ứng
được yêu cầu của tình hình mới, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế; tỷ lệ bản án, quyết định của toà án bị huỷ, sửa chưa giảm mạnh
Những hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân
quan trọng là nguyên tắc “độc lập xét xử” chưa được chính thức coi là tiêu
chí, mục đích của các nhiệm vụ cải cách tư pháp; các yếu tố bảo đảm thực thi
nguyên tắc hiến định “ Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật” [23, Điều 130, tr.21] chưa được xem xét, đổi mới
và áp dụng triệt để; quá trình ra quyết định, bản án của thẩm phán còn bị tác
động bởi nhiều mối quan hệ xã hội.
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và thực
hiện các cam kết quốc tế trong bối cảnh nước ta trở thành thành viên chính
thức của Tổ chức thương mại thế giới đã làm cho việc chú trọng bảo đảm trên
thực tế nguyên tắc độc lập xét xử vừa là yêu cầu, vừa là nhu cầu khách quan
và bức thiết.
Công tác nghiên cứu những vấn đề lý luận về mối quan hệ của nguyên
tắc độc lập xét xử với điều kiện đặc thù nhất nguyên chính trị và thực thi
thống nhất quyền lực nhà nước ở nước ta nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc
nhận thức đúng, chính xác về vai trò của toà án cũng như sự độc lập xét xử, từ
đó thể chế hoá đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải
cách tư pháp, phù hợp với pháp luật quốc tế vẫn chưa được làm sáng tỏ.
3
Với những lý do trên, việc nghiên cứu Sự độc lập trong hoạt động xét xử
của Tòa án tại Việt Nam, nhằm kiến nghị các giải pháp bảo đảm thực thi có
cũng chỉ đề cập sơ lược về độc lập xét xử.
Với việc nghiên cứu đề tài này, tác giả hi vọng sẽ có được những kết
luận và kiến nghị xác đáng về các giải pháp bảo đảm sự độc lập trong hoạt
động xét xử của toà án tại Việt Nam.
3. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về độc lập xét xử để từ đó
góp phần đưa nguyên tắc độc lập xét xử thực sự phát huy hiệu quả ở Việt Nam.
Cụ thể, luận văn cần đạt được các mục tiêu chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về độc lập xét xử ở Việt
Nam: phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của sự độc lập trong hoạt động
xét xử của tòa án.
- Thứ hai, làm rõ pháp luật đã ghi nhận, thể hiện như thế nào về sự độc
lập trong hoạt động xét xử của tòa án.
- Thứ ba, phân tích thực tiễn hoạt động xét xử ở Việt Nam xét từ góc độ
bảo đảm sự độc lập của tòa án (việc thực thi quy định pháp luật hiện hành liên
quan đến độc lập xét xử và đánh giá thực tiễn áp dụng các yếu tố bảo đảm
thực thi độc lập xét xử trong những năm qua ở Việt Nam; phân tích tính đặc
thù, vị trí, vai trò của thẩm phán và toà án trong mối quan hệ với vấn đề độc
lập xét xử ở nước ta; phân tích các mối quan hệ xã hội ảnh hưởng tới quá
trình ra quyết định của thẩm phán);
- Thứ tư, đề xuất, kiến nghị về các giải bảo đảm sự độc lập xét xử của tòa án
4. Nội dung của đề tài
Luận văn gồm mở đầu, ba chương và Kết luận. Cụ thể như sau:
5
Chương 1: Độc lập của toà án là một nguyên tắc của Nhà nước pháp
quyền. Chương này làm rõ các nội dung:
1. Tại sao trong Nhà nước pháp quyền, toà án phải độc lập
2. Những yêu cầu của toà án độc lập
3. Toà án độc lập ở một số quốc gia điển hình
xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa.
Một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao tòa án phải độc lập? Câu trả lời được
tìm thấy trong khái niệm “Nhà nước pháp quyền”.
Ngày nay, khái niệm “Nhà nước pháp quyền” đã trở thành một trong
những giá trị cơ bản nhất của một xã hội dân chủ và đã được các học giả, luật
gia, chính quyền và các tổ chức quốc tế công nhận một cách rộng rãi. Có thể
nói, Nhà nước pháp quyền là một cách thức tổ chức quyền lực nhà nước phúc
đáp một cách đầy đủ nhất các nhu cầu dân chủ và đang là một xu hướng tất
yếu của quá trình chính trị hiện đại. Mọi nhà nước muốn trở thành dân chủ,
muốn trở thành văn minh đều phải hướng tới không phân biệt chế độ chính
trị. Việc các Đại hội Đảng gần đây của nước ta đều quan tâm mong muốn xây
7
dựng một Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một quan điểm
hoàn toàn đúng đắn.
Mặc dù cho đến cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính xác về
“Nhà nước pháp quyền”, song về cơ bản, Nhà nước pháp quyền có những đặc
trưng - giá trị cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đó là tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật là cơ
sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai. Mọi đường lối, chính sách
và quyết định của nhà nước đều phải dựa vào luật, phục tùng luật và tất cả các
mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và cá nhân cũng phải dựa trên cơ sở của
pháp luật. Khác với nhà nước pháp trị, pháp luật của nhà nước pháp quyền
phải vươn tới sự đầy đủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực và với mục tiêu: vì
con người, vì quyền con người. Khi một quốc gia không tôn trọng nguyên tắc
pháp trị, thì người bị trị không thể nào được che chở hữu hiệu trước những
hành động bột phát của những người cầm quyền. Nhưng sẽ không có một hệ
thống pháp luật nào có thể hoạt động một cách tự động, vô nhân tính và chính
xác như một cái máy. Luật pháp không tự nó mà có, không tự nó thi hành mà
đều phải thông qua con người. Chính con người làm ra pháp luật, con người
hợp đặc biệt bị rơi vào hoàn cảnh thiểu số, nhất là trong trường hợp bị nghi
can là tội phạm. Trong trường hợp họ rơi vào tình trạng thiểu số của sự thành
lập ra bộ máy nhà nước là họ có một mong muốn một nhà nước với thành
phần cơ cấu khác hơn, với chính sách khác hơn chứ không phải họ không cần
đến nhà nước. Nhưng theo luật quy định, thì lá phiếu của họ không rơi vào
phía đa số nên không có giá trị cho việc thành lập một nhà nước theo cơ cấu
cũng như thành phần và chính sách của họ. Điều đó không có nghĩa nhà nước
được thành lập theo đa số kia không có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của
thiểu số không bỏ phiếu, mà điều ngược lại, nhà nước không những chỉ có
9
trách nhiệm phải bảo vệ quyền lợi của đa số - của những người đã bỏ phiếu
cho đa số mà còn phải có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của thiểu số - của cả
những người không bỏ phiếu. Bởi một lẽ đơn giản rằng, một khi nhà nước
được thành lập thì nhà nước phải là người đại diện chung cho toàn xã hội chứ
không phải chỉ là của đa số nói trên. Nhưng dẫu sao đi nữa, dân chủ thường
được hiểu ở nghĩa đơn giản, thuần tuý là sự cai trị của đa số, là biện pháp loại
bỏ quyền của những người thiểu số; quyền của cá nhân thường sẽ không được
tôn trọng. Dân chủ theo nghĩa thuần tuý là một phương pháp mà nhờ đó ý chí
của nhà nước được xây dựng bởi đa số. Trong khi đó, nhân dân trong cộng
đồng hình thành nên quốc gia thường là rất đa dạng với nhiều giác độ khác
nhau và có những quyền lợi khác nhau như: chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, nghề
nghiệp, lứa tuổi, lãnh thổ, giai cấp, trình độ…. Có người thì ở đa số này,
nhưng có người lại ở số ít, thiểu số kia. Nhưng cả hai đều phải có nghĩa vụ
đóng góp cho nhà nước. Trong khi đó dân chủ đang tồn tại như là một nguyên
tắc tối quan trọng trong việc tổ chức và hoạt động của nhà nước thời hiện đại,
nên việc quyết định theo đa số đang là một tiêu chí cho nhiều các quyết định
khác của cơ quan nhà nước. Khía cạnh thứ hai của vấn đề còn ở chỗ không
phải lúc nào đa số cũng đúng, hay nói cách khác, sự đúng và đa số không phải
lúc nào cũng là một. Vì vậy trong nhiều trường hợp không nên lấy quyết định
nước phải được kiểm soát từ nhiều giác độ khác nhau. Bên cạnh việc phân
chia quyền lực là việc các cành quyền lực phải tạo ra những kinh nghiệm hoạt
động và những tâm lý nghề nghiệp riêng. Và bản thân từng cành quyền lực
cũng phải có những đòi hỏi riêng khác với chính các cành quyền lực nhà nước
đó trong trạng thái của một nhà nước không tuân thủ tiêu chí của Nhà nước
pháp quyền. Cành quyền lực lập pháp không những bị kiểm soát, bị hạn chế
11
như những cành quyền lực khác trong cơ cấu nhà nước, mà còn đòi hỏi tính
cẩn trọng trong việc thi hành các chức năng lập pháp của mình. Đối với cành
quyền lực hành pháp bên cạnh việc bị hạn chế theo tiêu chuẩn phải tuân theo
pháp luật là đòi hỏi tính trách nhiệm của Chính phủ cho việc phát triển và tồn
vong của đất nước. Nhà nước pháp quyền phải nhận thấy tầm quan trọng của
Chính phủ - hành pháp trong vai trò là trọng tâm của toàn bộ bộ máy nhà
nước. Đối với cành quyền lực tư pháp, bên cạnh việc cũng bị hạn chế trong
việc phải tuân thủ các quy định của pháp luật, nhưng lại khác với cành lập
pháp và hành pháp là việc tư pháp ngày càng can thiệp sâu vào các hoạt động
của xã hội và phải có trách nhiệm loại trừ mức thấp nhất những oan sai trong
hoạt động xét xử của mình. Một trong những đòi hỏi của tư pháp trong nhà
nước pháp quyền là phải độc lập trước các cành quyền lực khác của nhà nước.
Khi vai trò của các nhà lập pháp và quan toà được trao cho hai cơ quan khác
nhau, sự quản lý tuỳ tiện sẽ không còn hoặc ít nhất là có cơ sở cho việc bị hạn
chế. Khi quyền làm luật được tách khỏi quyền hiểu, tức là quyền giải thích và
áp dụng luật thì chính nền tảng của pháp quyền sẽ được tăng cường. Tính độc
lập của tư pháp cho phép toà án đưa ra những phán quyết đúng đắn, không
những số đông của đa số nhân dân phản đối vì không kịp nhận ra, mà còn có
thể chống lại quyền lợi của các cành quyền lực nhà nước khác. Tổng thống,
các bộ trưởng và các nhà lập pháp đôi khi phải vội vã tìm giải pháp tiện lợi
mang tính tình thế cho một vấn đề nóng bỏng cần phải giải quyết ngay. Một
bộ máy độc lập bình tĩnh phải có trách nhiệm tìm ra tác hại của những giải
tính quy luật cần phải tiến tới của nhân loại.
Đến nay, nhiều tài liệu khoa học lý giải và phát triển các lý thuyết và mô
hình lý tưởng về Nhà nước pháp quyền từ các cách nhìn khác nhau: các học
13
thuyết theo trường phái hình thức, các học thuyết theo trường phái nội dung
và mô hình kết hợp hai trường phái này.
Cho dù tiếp cận khái niệm Nhà nước pháp quyền theo trường phái nào đi
nữa thì nội dung trọng tâm của nguyên tắc Nhà nước pháp quyền vẫn là việc
kiềm chế quyền lực nhà nước bằng pháp luật hay nói cách khác, chính quyền
hay nhà nước phải chịu sự kiềm chế của pháp luật, và mỗi hành vi của chính
quyền đều phải có cơ sở pháp lý. Nhìn từ góc độ khác của nội dung trung tâm
này thì thấy rằng không chỉ các cơ quan nhà nước mà ngay cả bất cứ cá nhân
nào cũng đều phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật phải có vai trò tối thượng
trong việc điều chỉnh các hoạt động xã hội. Thế nhưng một điều hiển nhiên là,
cho dù pháp luật có được định nghĩa như thế nào đi nữa thì đã có pháp luật tất
yếu sẽ có vi phạm pháp luật. Khi xuất hiện vi phạm pháp luật thì bắt buộc
phải có chế tài vì nếu không thì pháp luật sẽ không thực hiện được chức năng
mà nó phải thực hiện, và như thế, dần dần nó sẽ mất đi vai trò của mình trong
việc điều tiết, quản lý xã hội. Thế nhưng, pháp luật thì cũng chỉ là một “thực
thể vô tri” do con người tạo ra, nó không có khả năng tự bảo vệ mình. Cần
phải có ai đó hoặc cơ quan nào đó được giao thẩm quyền để bảo đảm sự thực
thi của pháp luật. Về lý thuyết, người đó hoặc cơ quan đó có thể đến từ một
trong ba nhánh quyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp, hoặc tư pháp. Tuy
nhiên trên thực tế thì nhánh lập pháp không đủ tiêu chuẩn để làm việc này,
bởi vì nó được giao quyền lập pháp. Nếu như nó vừa ban hành luật lại vừa
bảo đảm thực thi luật đó thì sẽ không công bằng. Hơn nữa, một lý do không
kém quan trọng là nhánh lập pháp bao gồm các đại biểu đại diện và không có
kỹ năng trong việc thi hành pháp luật sẽ khó đảm đương cùng lúc cả công
việc bảo đảm thực thi pháp luật trong các hoạt động hàng ngày. Nhánh hành
không bao giờ có khả năng gây ảnh hưởng tới một trong hai nhánh quyền lực
15
kia, và cần có sự quan tâm tối đa để làm cho nhánh tư pháp có khả năng tự
bảo vệ mình trước các mối đe dọa [37, tr.489]
Một kết luận hiển nhiên từ những lập luận của Hamilton về cái sự “yếu”
của hệ thống tòa án trên đây là nhân tố cơ bản và không thể thiếu để làm cho
nhánh tư pháp có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình với tư cách là người
bảo đảm cuối cùng cho nguyên tắc Nhà nước pháp quyền chính là sự độc lập
của nó đối với những ảnh hưởng có hại từ nhánh hành pháp và lập pháp nói
riêng và từ tất cả các nguồn bên ngoài khác nói chung. Nếu như không độc
lập thì tòa án không thể thực thi được pháp luật, hoặc nếu có thực thi được đi
nữa thì thì nhiều khả năng nguyên tắc Nhà nước pháp quyền sẽ bị xâm hại bởi
vì khi đó tòa án khó có thể làm điều đó một cách công bằng và khách quan.
Vì thế, tính độc lập của tòa án chính là một điều kiện không thể thiếu để bảo
đảm cho sự duy trì nguyên tắc Nhà nước pháp quyền trong một hệ thống pháp
lý. Như vị giáo sư người Áo Hans - Georg Heinrich nhận xét tại Hội thảo
“Judical Independence and Incompatibilities of the Office of Judge with Other
Activities” do Hội đồng châu Âu phối hợp với Tòa án Tối cao Kyrgyzstan vào
ngày 20 - 21/4/1998 rằng: “tính độc lập của tòa án có địa vị như là một điều
kiện của Nhà nước pháp quyền: không có cái thứ nhất thì cái thứ hai sẽ không
thể tồn tại được” [11, tr.37 - 38].
Trên khía cạnh lý thuyết, quả thật tính độc lập của tòa án là một vấn đề
quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào. Chúng ta biết rằng, các nguyên tắc
pháp quyền và tôn trọng quyền con người là những giá trị quan trọng và
không thể thiếu đối với các nền dân chủ hiện nay. Cả hai nguyên tắc này đều
yêu cầu phải có sự hiện diện của một hệ thống tòa án độc lập như là một điều
kiện cơ bản để có thể được duy trì một cách bền vững. Một quốc gia nếu
muốn xây dựng và duy trì được Nhà nước pháp quyền và cơ chế bảo vệ quyền
nào với lập pháp và hành pháp, thì tất cả các nước công nghiệp và các nước
đang phát triển khác đều dựa vào tư pháp để buộc hai ngành kia phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật cũng như để giải thích và buộc chúng phải thi
hành các điều khoản của hiến pháp. Trong một Nhà nước pháp quyền cần
phải có sự phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng tư pháp
vẫn là cành quyền lực đáng phải phân quyền hơn cả. Đều cùng với các cành
quyền lực khác tổ chức và hoạt động theo cơ chế phân quyền, nhưng trên thực
tế, xem ra hành pháp và lập pháp có phần mật thiết với nhau, tư pháp có phần
độc lập hơn cả. Lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ cận hiện đại và hiện
đại của các nhà nước phát triển đã nói lên điều nhận định trên. Cho dù nhà
nước được tổ chức theo mô hình đại nghị hay mô hình của chế độ tổng thống
thì lập pháp và hành pháp vẫn không có sự phân chia tuyệt đối với nhau, hành
pháp vẫn có sự can thiệp sang lập pháp, thậm chí các hoạt động lập pháp còn
là nhu cầu của hành pháp. Vì thế, dù nhà nước được tổ chức theo kiểu này hay
kiểu kia thì chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp mà
không phụ thuộc vào tư pháp.
Từ những phân tích trên cho thấy, về mặt lý thuyết, mối quan hệ giữa
tính độc lập của toà án và nguyên tắc Nhà nước pháp quyền là mối quan hệ
điều kiện. Cho dù nguyên tắc Nhà nước pháp quyền tồn tại dưới hình thức
nào đi nữa thì một toà án độc lập luôn là yếu tố không thể thiếu để nguyên tắc
đó có tính khả thi. Nói đến Nhà nước pháp quyền là phải nói đến sự đề cao
vai trò của tư pháp. Hiệu quả, hiệu lực của thể chế tư pháp là một tiêu chí để
đánh giá mức độ thành công của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Bất cứ
Nhà nước nào muốn tổ chức theo nhà nước pháp quyền cũng phải quan tâm
hàng đầu đến thể chế tư pháp. Có thể nói rằng, dù người ta có chỉ ra sáu, hay
bảy đặc trưng của Nhà nước pháp quyền thì thể chế tư pháp cũng có vai trò
đảm bảo thực hiện tất cả các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền ở mức độ
18
này hay mức độ khác. Nếu xem vai trò của thể chế tư pháp như một trong
án. Thông qua việc phán xét về tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi của
các chủ thể pháp luật, toà án duy trì công lý trong xã hội, kiểm soát xã hội
trong vòng trật tự, bảo đảm cuộc sống bình yên cho nhân dân. Đó là một môi
trường phù hợp cho sự tồn tại của Nhà nước pháp quyền.
Tư pháp cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo sự tuân
thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, đảm bảo sự thực hiện quyền lực nhà
nước trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sự phân công quyền lực của Hiến
pháp. Tư pháp thực sự có vai trò này khi cùng với sự phát triển của dân chủ,
cánh tay của nhánh quyền lực tư pháp vươn tới tài phán về hành vi của lập
pháp và hành pháp. Như đã nói, cùng với sự phát triển của dân chủ, toà án còn
xét xử cả các quan chức hành pháp, thậm chí cả Tổng thống trong chính thể
Cộng hoà Tổng thống. Việc xét xử của tư pháp đối với hành pháp để đảm bảo
cho hành pháp thực thi quyền lực của mình trong khuôn khổ Hiến pháp và
pháp luật. Có nhiều cách khác nhau để kiểm soát tính hợp pháp của các hành
vi hành chính, nhưng sự kiểm soát bằng toà án là hiệu quả nhất. Sự kiểm soát
có hiệu lực nhất đối với hành vi hành chính là tài phán hành chính; là công cụ
có hiệu lực nhất thực hiện nguyên tắc của Nhà nước dân chủ và pháp quyền,
bảo vệ quyền con người và quyền công dân, phòng chống bệnh quan liêu, lạm
quyền hành chính.
Toà án cũng xét xử cả hành vi của Quốc hội - cơ quan lập pháp, đảm bảo
tính hợp hiến của các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành. Sự tài phán
của thể chế tư pháp đối với hành vi của lập pháp và hành pháp có ý nghĩa
kiểm soát tính hợp pháp, hợp hiến hành vi của chính quyền - một yêu cầu chủ
yếu của Nhà nước pháp quyền. 20
1.2. NHỮNG YÊU CẦU CỦA TOÀ ÁN ĐỘC LẬP
Để hiểu rõ về những yêu cầu của toà án độc lập, trước hết, cần có nhận
thức chung về sự độc lập của hoạt động xét xử. Về lý luận cũng như thực tiễn,