ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MAI CHI
QUYỀN AN TỬ
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên nga
̀
nh: Pháp luật về quyền con người
M s: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. VŨ CÔNG GIAO
HÀ NỘI - 2014
1.1. Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1. An tử và trợ tử 4
1.1.2. Quyền an tử 7
1.2. Cơ sở hình thành quyền an tử 8
1.2.1. Nguyên tắc hình thành quyền an tử 8
1.2.2. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của quyền an tử 12
1.3. Đặc điểm và ý nghĩa của quyền an tử 27
1.3.1. Đặc điểm 27
1.3.2. Ý nghĩa 29
1.4. Quan điểm về việc hợp pháp hóa quyền an tử trên thế giới 32
1.4.1. Những quan điểm phản đối 32
1.4.2. Những quan điểm ủng hộ 36
Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUYỀN AN TỬ
TRÊN THẾ GIỚI 41
2.1. Quyền an tử theo pháp luật nhân quyền quốc tế 41
2.2. Thực tiễn và pháp luật về quyền an tử ở một số quốc gia 44
2.2.1. Quy định của các quốc gia và vùng lãnh thổ đã hợp pháp hoá
quyền an tử 44
2.2.2. Quy định của các quốc gia và vùng lãnh thổ chưa hợp pháp hoá
quyền an tử hoặc quy định một phần 50
2.2.3. Xu hướng hợp pháp hóa quyền an tử trên thế giới 56
2.3. Các tiêu chí chung về quyền an tử theo pháp luật quốc tế và
pháp luật của một số quốc gia 60
2.3.1. Tiêu chí sinh học 60
2.3.2. Tiêu chí pháp lý 63
Chương 3: PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT
RA VỀ QUYỀN AN TỬ Ở VIỆT NAM 69
3.1. Pháp luật và những vấn đề nảy sinh về quyền an tử trong
thực tiễn ở Việt Nam 69
3.1.1. Quyền an tử theo pháp luật Việt Nam 69
Tên hình
Trang
Hình 1.1:
Các trường hợp hưởng thụ quyền an tử tại Hà Lan,
2006 – 2014
25
Hình 1.2:
Các trường hợp hưởng thụ quyền an tử tại Bỉ, 2002
– 2012
26
Hình 1.3:
Các trường hợp thực hiện trợ tử theo Luật Cái chết
nhân phẩm tại bang Oregon, Hoa Kỳ, 1998 – 2011
26
Hình 2.1:
Bản đồ quốc gia/ vùng lãnh thổ đã hợp pháp hóa an tử
hoặc trợ tử
44
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong khi các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và
bình đẳng… từ lâu đã được công nhận và trở thành mục tiêu tôn trọng, bảo
vệ, thực thi của nhiều quốc gia trên thế giới thì vào đầu thế kỉ XIX, sự thay
đổi lớn trong nhận thức và tư duy khoa học đã dẫn đến việc hình thành nhóm
quyền mới, trong đó có quyền an tử. Khoảng một phần tư thế kỷ trở lại đây,
chưa có sự phân tích một cách toàn diện về phạm vi quyền an tử, sự khác biệt
giữa an tử và trợ tử, những ý kiến trái chiều dựa trên quan điểm chính trị, tôn
giáo về vấn đề quyền an tử…
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là đưa ra được một cái nhìn toàn diện, có tính hệ
thống và khoa học về các vấn đề pháp lý, xã hội liên quan đến quyền an tử
trên thế giới và ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những quan điểm, giải pháp
nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách hiện hành về vấn đề này ở
nước ta trong thời gian tới.
Quyền an tử có nội dung rất rộng và phức tạp, liên quan đến nhiều ngành
khoa học xã hội khác nhau. Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ, đề tài này
chủ yếu đề cập và phân tích các khía cạnh pháp lý và xã hội cơ bản, mà không
đi sâu nghiên cứu các khía cạnh tâm lý học hay y tế… của vấn đề.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận dùng để nghiên cứu đề tài này là các quan điểm duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Các phương pháp cụ thể được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra
trong khóa luận này là: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh.
3
5. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Luận văn là công trình chuyên khảo toàn diện và có hệ thống về những
vấn đề pháp lý, thực tiễn về quyền an tử ở trên thế giới và ở Việt Nam. Luận
văn kế thừa, phát triển những ý kiến trao đổi, thảo luận hiện có về vấn đề này,
đồng thời bổ sung một số thông tin và phân tích mới góp phần làm sáng tỏ
hơn thực trạng và xu hướng liên quan đến quyền an tử trên thế giới và ở Việt
Nam. Luận văn cũng nêu những đề xuất cụ thể về sửa đổi, bổ sung pháp luật
liên quan đến quyền an tử ở nước ta trong thời gian tới.
Với kết quả nêu trên, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho các cơ quan nhà nước trong xây dựng, sửa đổi và thực thi các văn
tiêm thuốc gây tử vong hoặc cho phép người đó được chết bằng cách rút bỏ
các điều trị y tế thông thường và cần thiết. Tuy nhiên phải chú ý rằng hành vi
không hành động chỉ được chấp nhận nếu việc can thiệp y khoa là vô ích và
gây gánh nặng quá mức cho bệnh nhân. Việc không cung cấp các phương
pháp trợ sinh trong trường hợp vẫn cải thiện được tình hình bệnh nhân, có thể
bị coi là hành vi giết người.
Qua thời gian, nội hàm của khái niệm an tử có nhiều thay đổi. Trước
đây an tử thường chỉ được dùng cho các trường hợp cá nhân đang phải chịu
đựng khổ sở do bệnh tật với mục đích giúp họ thoát khỏi đau đớn. Nhưng
ngày nay bệnh nhân được thực hiện cái chết êm ả với những lý do khác như
mục đích sống không còn đạt được, không có khả năng chi trả phí điều trị hay
giảm gánh nặng chăm sóc. Nhiều ý kiến phản đối, coi việc liên quan đến kinh
5
tế là không thể chấp nhận, nhưng thực tế đã chứng minh lý do này chiếm tỷ lệ
khá lớn trong các trường hợp mong muốn thực hiện an tử. Nỗi sợ hãi trở
thành gánh nặng tài chính cho thân nhân và gia đình là mối bận tâm lớn thứ
hai của những bệnh nhân không có khả năng chữa trị. Theo một cuộc điều tra
tại Oregon, Mỹ, nơi trợ tử đã được công nhận hợp pháp, 66% bệnh nhân
mong muốn thực hiện cái chết êm ả vì lý do này.
An tử có thể được phân biệt dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó phổ biến
nhất dựa trên tính chất của sự tự nguyện và biện pháp thực hiện
- Dựa trên tính chất tự nguyện, an tử được chia thành an tử tự nguyện
(voluntary euthanasia ), an tử phi tự nguyện (non-voluntary euthanasia ) và an
tử trái nguyện vọng (involuntary euthanasia). Trong đó, an tử tự nguyện là
việc bệnh nhân đưa ra quyết định chấm dứt cuộc sống trong điều kiện tỉnh táo
và nhờ đến sự hỗ trợ của bác sĩ. An tử phi tự nguyện là trường hợp bệnh nhân
không có khả năng bày tỏ sự chấp thuận của họ (vì lý do hôn mê, tổn thương
não,…) và một người khác thay mặt người bệnh quyết định với điều kiện tiên
quyết là người bệnh này trước đó đã thể hiện mong muốn kết thúc cuộc sống
Nếu như an tử là việc biết, trực tiếp hành động một cách có chủ đích đem đến
cái chết nhẹ nhàng cho một cá nhân thì trợ tử được định nghĩa là việc biết,
hành động trực tiếp một cách có chủ đích cung cấp phương tiện để cá nhân
thực hiện việc tự tử. Như vậy có thể thấy điểm phân biệt lớn nhất giữa an tử
và trợ tử là chủ thể nắm giữ vai trò chủ đạo trong quá trình, hay chủ thể thực
hiện toàn bộ hành vi hoặc thực hiện hành vi cuối cùng. Ví dụ việc bác sĩ tiêm
thuốc nhằm giải thoát cho bệnh nhân là an tử nhưng nếu bác sĩ kê đơn, cung
cấp thuốc cho bệnh nhân tự uống hoặc đưa kim tiêm vào tĩnh mạch bệnh nhân
nhưng để bệnh nhân tự vận hành quá trình đưa thuốc vào cơ thể (tự đẩy xi
lanh hoặc bấm nút) thì lại là trợ tử. Có sự khác biệt như vậy, nhưng nếu xét
7
cho cùng thì trợ tử là hình thức sơ khai của an tử, trong đó vai trò của bác sĩ
chưa được mở rộng. Ở hầu hết các nước đã thông qua luật an tử, hành vi trợ
tử cũng hợp pháp và thường được dùng chung với nhau. Theo một báo cáo
năm 2010 tại Hà Lan tỷ lệ an tử chủ động là 2,8% trong khi trợ tử là 0,1%
trên tổng số người chết. Con số tại Bỉ năm 2007 lần lượt là 1,9% và 0,07%
Tuy nhiên chiều ngược lại không đúng. Ở những vùng lãnh thổ mới chỉ hợp
pháp hóa hành vi trợ tử, an tử có thể bị coi là hành vi vượt quá thẩm quyền và
dẫn tới khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý hoặc trách nhiệm nghề nghiệp
cho người thực hiện.
Đồng thời, cũng phải phân biệt hành vi an tử với hành vi cho phép từ
chối khám bệnh, chữa bệnh khi đang ở giai đoạn cuối hay hành vi cho phép
người bệnh hấp hối về nhà. Nếu hành vi an tử trực tiếp dẫn đến việc chấm dứt
sự sống của người bệnh thì các hành vi sau chỉ mang tính chất gián tiếp, tuy
cùng vì mục đích nhân đạo nhưng không có sự chủ động chấm dứt cuộc sống
của bác sĩ mà thay vào đó, bác sĩ chỉ chấp thuận theo nguyện vọng ngừng
điều trị của người bệnh. Và sự khác biệt lớn nhất là nếu an tử nhằm chấm dứt
những đau khổ kéo dài của người bệnh, thì việc cho phép từ chối điều trị và
về nhà trên, theo lời PGS.TS Trương Văn Việt, giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy,
mình. Theo Leenen, H.J.J, tác giả cuốn sách đầy ảnh hưởng Handbook of
Health Law, nguyên tắc tự do ý chí dựa trên bản chất tự nhiên của con người,
“Căn cứ hình thành quyền tự quyết của con người là nguyên tắc một con
người tự do, tự chủ có nhân phẩm cố hữu và xứng đáng được tôn trọng một
cách vô điều kiện, có quyền sắp đặt cuộc sống của mình” [34, tr.169]. Nguyên
tắc này cũng là cơ sở cho nhiều quyền con người khác, như quyền tự do tôn
giáo, quyền riêng tư, quyền tự do và bất khả xâm phạm về thân thể… Tuy
nhiên, nguyên tắc này không có nghĩa mọi sự tự quyết đều được chấp nhận,
9
bởi tự do ý chí không loại trừ nghĩa vụ tôn trong các nguyên tắc, mối quan hệ
khác trong xã hội, như quyền sống của chủ thể khác hay giá trị cộng đồng.
Đặt trong mối quan hệ với khái niệm an tử, tự do ý chí nghĩa là một chủ thể
nên được tự do trong việc định hình các yếu tố quyết định sự sống của mình
và lựa chọn cách sống lý tưởng mà mình muốn sống. Việc chính quyền hay
bác sĩ tiếp tục duy trì cuộc sống của người bệnh trái với mong muốn của họ
đã khiến cuộc sống của họ mất tự do và bản thân họ mất quyền tự chủ, dẫn
đến sự thiếu tôn trọng và bắt họ làm trái với lương tâm của họ.
Sự phát triển của khoa học kĩ thuật đã tăng cường khả năng của bác sĩ.
Những người hành nghề y có thể kéo dài sự sống cho những bệnh nhân trước
đây chắc chắn sẽ tử vong, nhưng nhiều trường hợp là trong đau đớn hoặc chịu
đựng kéo dài. Điều này, theo J.H.Van den Berg, một bác sĩ tâm thần người Hà
Lan, làm dấy lên vấn đề về y đức. Theo lời thề Hippocrates, bác sĩ được đào
tạo để cứu chữa, duy trì sự sống và đưa ra quyết định có lợi cho người bệnh.
Rút ngắn hoặc chủ động chấm dứt sự sống dưới bất kì hình thức nào là vô
nhân đạo. Việc kết hợp giữa công nghệ mới và quan điểm y đức cũ dẫn đến
hậu quả là người bệnh được kéo dài sự sống trong tình trạng vô nhân đạo. Van
den Berg cho rằng y đức mới phải nhận thức được việc chất lượng cuộc sống
quan trọng hơn độ dài. Quan điểm này sẽ đem đến cho người bệnh tiếng nói
trong các quyết định quan trọng, bởi chính họ chứ không phải các bác sĩ có
thuật”[34,tr.173], dẫn dến việc không phải lợi ích của người bệnh mà chính
khả năng khoa học – y học mới là thứ quyết định liệu pháp điều trị của họ.
Khi khoa học kỹ thuật đem đến đau khổ cho người bệnh, liệu pháp điều trị
kéo dài sự sống sẽ ngày càng mâu thuẫn với nguyên tắc hành thiện. Vì vậy,
ngày nay nguyên tắc này áp đặt một nghĩa vụ giảm nhẹ đau đớn và chấm dứt
đau khổ cho người bệnh lên bác sĩ.
11
Điểm quan trọng nhất của nguyên tắc hành hiện là việc bác sĩ phải cân
nhắc điều gì có lợi nhất cho bệnh nhân của mình. Không phải quan điểm của
bệnh nhân, mà quan điểm của bác sĩ về tình trạng của bệnh nhân mới là yếu tố
chi phối. Nếu quan điểm của bác sĩ và bệnh nhân mâu thuẫn với nhau, quan
điểm của bác sĩ sẽ được coi trọng. Như đã đề cập ở trên, bác sĩ phải bị thuyết
phục rằng an tử là con đường duy nhất. Điều này không có nghĩa bệnh nhân
có ít tiếng nói trong cả quá trình, mà nhấn mạnh vào trách nhiệm của bác sĩ,
rằng họ mới là người có vai trò quan trọng nhất trong việc an tử. An tử chỉ
được chấp nhận khi bác sĩ tin rằng người bệnh không thể tiếp tục chịu đựng.
- Kết hợp nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc hành thiện: Trong khi
nguyên tắc tự do ý chí đề cao vai trò của bệnh nhân thì nguyên tắc hành
thiện nhấn mạnh mối quan trọng của bác sĩ. Vậy việc cùng một lúc dựa trên
hai nguyên tắc này có mâu thuẫn? Thực tế chứng minh, hai nguyên tắc này
không xung đột với nhau mà bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau làm nền tảng cho
quyền an tử, và tạo nên một mối quan hệ hình mẫu trong y học nói chung
và vấn đề an tử nói riêng, mối quan hệ hợp tác thảo luận giữa bệnh nhân và
bác sĩ. Trong đó, bệnh nhân đóng vai trò quyết định và bác sĩ giữ vai trò
chủ động. Bệnh nhân mong muốn có thể dựa vào bác sĩ trong những giai
đoạn khó khăn, họ hy vọng rằng bác sĩ sẽ không để họ chết khổ sở. Còn
bác sĩ mong muốn có thể đáp ứng mong muốn của người bệnh, làm giảm
bớt những đau đớn của họ đồng thời giữ được y đức của chính mình. Có
thể thấy yếu tố trọng tâm trong mối quan hệ này là lòng tin. Lòng tin không
đau đớn, ngài lại cầu rằng ngài và thân thể ngài sẽ có được một cái
chết êm ả tương tự, đó là khái niệm ngài quen dùng [28, tr.185].
Từ thế kỉ XII đến XV, sự lớn mạnh của đạo Thiên Chúa và đức tin cuộc
sống con người là quà tặng từ Chúa đã tái củng cố quan điểm phản đối an tử
13
của Hippocrates. Trong ba thế kỉ này, sự nhất trí trong các quan điểm y học
phản đối an tử đạt đến đỉnh điểm. Đến thế kỉ XVII, hệ thống Thông luật với
những quy định trừng phạt hoặc không chấp nhận tự tử và an tử đã không chỉ
phủ khắp các quốc gia là cái nôi của hệ thống này, mà còn vươn tới các thuộc
địa. Có thể kể đến việc các nhà làm luật của Providence Plantations, vùng
lãnh thổ sau này trở thành Rhode Island, đã tuyên bố vào năm 1647, rằng
Tự tử tuyệt đối là hành vi trái tự nhiên nhất, và hội đồng
lập pháp nay tuyên, rằng, người nào thực hiện hành vi này, tự tử
chỉ vì chủ tâm ghét bỏ chính cuộc sống của mình hay niềm hạnh
phúc của người khác thì đồ đạc và tài sản của họ sẽ do nhà vua
định đoạt [44].
Tuy nhiên không thể phủ định một số động thái tích cực ủng hộ an tử
trong suốt thời kì này. Thomas More (1478-1535) thường được nhắc đến với
tư cách là người Thiên chúa giáo đầu tiên có những đề cập nổi bật đến an tử
trong tác phẩm Utopia của ông, trong đó những linh mục theo chủ nghĩa
không tưởng đã khuyến khích an tử khi người bệnh không thể cứu chữa và
phải chịu đau đớn (nhưng chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của bệnh
nhân). “Nếu một căn bệnh không chỉ đem lại đau đớn mà còn khổ sở không
dứt, thì các linh mục và chính quyền nên ủng hộ người này…tự giải thoát khỏi
cuộc sống đắng cay… hoặc cho phép người khác giải thoát giúp họ"[44]. Vấn
đề duy nhất khi sử dụng những lời này là việc Thomas More, một con chiên
mộ đạo, dùng Utopia như một công cụ chế giễu nhạo báng. Nhà triết học
người Anh, Francis Bacon (1561-1621), là người đầu tiên thảo luận về việc
kéo dài sự sống là một nhiệm vụ y khoa mới, gồm ba nhiệm vụ: duy trì sức
người đó có ý định sử dụng thuốc hoặc vũ khí này để kết thúc cuộc đời của
chính mình” [44]. Tại thời điểm Hiến pháp sửa đổi lần thứ 14 được thông qua,
15
an tử và trợ tử là tội hình sự ở hầu hết các bang. Bộ luật hình sự của Field
được thông qua tại vùng lãnh thổ Dakota năm 1877, New York năm 1881, và
tiếng nói của nó trở thành chuẩn mực cho các đạo luật của một số bang phía
Tây khác trong cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, như California đã pháp điển
hóa quy phạm cấm an tử năm 1874, sử dụng cách diễn đạt tương tự như trong
Bộ luật của Field.
Một cột mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử của quyền an tử là việc
chiết xuất được morphine vào thế kỉ XIX và chất này được sử dụng làm thuốc
giảm đau trên diện rộng. Khi việc sử dụng thuốc giảm đau trở nên thông dụng
và phổ biến, Samuel Williams, một giáo viên, đã có bài phát biểu đầu tiên ủng
hộ cho an tử tích cực, trong đó đề cập đến việc thuốc không chỉ được dùng để
giảm các cơn đau không thể chữa trị mà còn để giải thoát cho bệnh nhân một
cách có chủ định.
Trong mọi trường hợp, người thực hành y nên thực hiện sứ
mệnh, là bất cứ khi nào bệnh nhân thực sự mong muốn, dùng
chloroform, hoặc chất gây mê khác mà bản thân nó hoặc nó thay thế
cho chloroform, ngay lập tức tiêu trừ ý thức, và ngay lập tức giúp
người đang chịu khổ sở được chết nhanh chóng và không đau đớn;
để ngăn chặn mọi nguy cơ lạm dụng có thể xảy ra với sứ mệnh này
cần có quy định phòng ngừa; và những biện pháp chứng minh sự
minh bạch và rõ ràng, rằng phương thức này chỉ áp dụng khi có
mong muốn sáng tỏ của bệnh nhân [35].
Mặc dù Tạp chí hiệp hội y khoa Hoa Kỳ coi bài phát biểu của
Samuel Williams là cố gắng khiến “người bác sĩ khoác chiếc áo của tên
đao phủ” [38, tr.11], trong suốt những năm cuối thế kỉ XIX, nó đã nhận được
sự chú ý nghiêm túc trên nhiều tạp chí y khoa khác và các hội nghị khoa học.
17
Các điều tra ý kiến cộng đồng năm 1937 cho thấy rằng 45%
người Hoa Kỳ ủng hộ quan điểm của Harry John Haiselden rằng
an tử cho trẻ sinh ra bị dị dạng vĩnh viễn hoặc dị tật tinh thần là có
thể chấp nhận được [38, tr.33].
Chỉ một năm sau đó, ngày 16/1/1938, Hiệp hội quốc gia về Hợp pháp
hóa An tử của Hoa Kỳ (NSLE), không lâu sau đổi tên thành Hiệp hội An tử
Hoa Kỳ (ESA), được Đức giám mục Charles Francis Potter thành lập tại
New York. Theo Thời báo TIME,
Ngài và một nhóm quy tụ những người có tiếng khác tin vào
quyền được kết thúc một cách nhẹ nhàng của một cá nhân bị bệnh
không thể cứu chữa mạnh mẽ đến mức họ…thành lập một Hiệp hội
quốc gia về Hợp pháp hóa An tử… Ủy viên của tổ chức bao gồm cả
bác sĩ Clarence Cook Little thuộc Hiệp hội Kiểm soát Ung thư Hoa
Kỳ và Liên đoàn Kế hoạch hóa sinh sản Hoa Kỳ và thư kí Leon
Fradley Whitney của Hiệp hội Ưu sinh Hoa Kỳ [44].
Ngoài ra, thành viên hội còn có gần 2000 bác sĩ và hơn 50 nhà truyền
giáo. Tại thời điểm này, an tử được phần đông người hành nghề y ủng hộ.
Sang những năm 40 của thế kỉ XX, hợp pháp hóa quyền an tử tưởng
chừng chỉ còn là vấn đề thời gian đột nhiên vấp phải trở ngại – chiến tranh thế
giới với sự nổi dậy của Đức Quốc Xã. Tháng 10/1939, giữa cuộc khủng hoảng
chiến tranh bùng nổ, Hitler ra lệnh an tử diện rộng đối với những người đau
ốm và tàn tật. Chiến dịch mang tên Aktion T4, một chương trình an tử của
Đức Quốc Xã để loại bỏ “đời sống không đáng sống” [50] bước đầu tập trung
vào trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Nữ hộ sinh và bác sĩ được lệnh thống kê tên những
trẻ từ 3 tuổi trở xuống có dấu hiệu tâm thần chậm phát triển, dị dạng cơ thể,
hoặc những triệu chứng khác trong một bảng thống kê của Bộ y tế Đức Quốc
Xã. Chương trình an tử này của Đức Quốc Xã nhanh chóng mở rộng ra những
18
Mãi đến những năm 1970, an tử và quyền an tử mới đạt được những
thành công bước đầu về mặt pháp lý. Năm 1970 ESA đã “hoàn tất việc phân
phát 60.000 chúc thư y tế” [26]. Năm 1973 Hiệp hội Bệnh viện Mỹ ban hành
Quy định về quyền của bệnh nhân, trong đó có quy định về quyền từ chối
điều trị. Cùng năm, bác sĩ Gertruida Postma, người đã tiêm cho mẹ mình
một mũi thuốc an tử, chỉ phải nhận mức phạt nhẹ tại Hà Lan. Sự việc này đã
châm ngòi cho phong trào an tử tại Hà Lan với sự ra đời của Hiệp hội An tử
tự nguyện Hà Lan (NVVE). Năm 1974, ESA đổi tên thành Hiệp hội Quyền
An tử Hoa Kỳ (SRD), tổ chức đầu tiên dùng tới khái niệm quyền an tử. Năm
1975 NVVE thành lập Ban Hỗ trợ Thành viên để tư vấn cho những người
sắp chết. “Trong năm đầu tiên đã nhận được 25 yêu cầu hỗ trợ”[26]. Năm
1976 Tòa tối cao New Jersey cho phép cha mẹ Karen Ann Quinlan ngắt mặt
nạ khí, tuyên bố rằng đó là sự chọn lựa của bản thân cô. Trường hợp của
Quinlan trở thành bước ngoặt lớn về mặt luật pháp. Năm 1976 Đạo luật Cái
chết tự nhiên đầu tiên được thông qua tại California. Văn bản này đã tạo chỗ
đứng pháp lý cho chúc thư y tế và cho phép người bị bệnh nan y có quyền
rút các điều trị y tế duy trì sự sống khi cái chết được cho là cận kề. Cùng
năm, 10 bang khác của Hoa Kỳ thông qua luật chết tự nhiên. Năm 1977 một
đề xuất của người dân lên Nghị viện Liên bang Thụy Sỹ về việc thực hiện an
tử cho bệnh nhân không thể chữa trị tại bang Zurich “được thông qua với
203.148 phiếu thuận trên 144.822 phiếu chống” [26]. Nhưng Nghị viện Liên
bang không tuân theo đề xuất này.
Ngày 05/05/1980 giáo hoàng John Paul II đã ban hành Tuyên ngôn An
tử phản đối cái chết êm ả nhưng cho phép sử dụng rộng rãi các chất giảm đau
và quyền từ chối điều trị đặc biệt để duy trì sự sống. Trong năm này, Hiệp hội