Quyền công tố trong các vụ án hình sự về ma túy ( Qua thực tiễn Viện kiểm sát Tỉnh Thanh Hóa ) - Pdf 25


1

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LỮ THỊ PHƢƠNG QUÝ
QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ MA TÚY
(QUA THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT TỈNH
THANH HÓA)

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số : 60 38 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN
6
1.1.
Những vấn đề lý luận chung cơ quan tư pháp và quyền
công tố
6
1.1.1.
Cơ quan tư pháp trong chính thể nhà nước
6
1.1.2.
Sự ra đời và phát triển của quyền công tố
8
1.2.

2.1.1.
Tình hình kinh tế - xã hội
34
2.1.2.
Tội phạm hình sự và ma túy
38
2.2.
Quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án ma túy tại
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
45
2.2.1.
Quyền công tố trong tố tụng hình sự
45
2.2.2.
Thực trạng về quyền công tố trong điều tra, truy tố, xét xử
các vụ án ma túy qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Thanh Hóa
54
2.2.2.1.
Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Thanh Hóa
54
2.2.2.2
Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án
hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
57
2.3.
Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quyền công tố trong
việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy
69

tố của Viện kiểm sát nhân dân nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội và bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những nội
dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng như
Nghị quyết số 08/NQ/2002 ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về
một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ:
"Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với nhu cầu và đòi
hỏi của nhân dân, còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô
tội… giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan
tư pháp" [9]. Bên cạnh đó Nghị quyết còn nhấn mạnh:
Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải thực hiện ngay từ khi
khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội…
Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm
bảo tranh tụng với Luật sư, người bào chữa và những người tham
gia tố tụng khác… [9].
Việc thực hành quyền công tố ở Việt Nam do Viện kiểm sát nhân dân
thực hiện trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tích trong việc trừng trị 7
tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân. Tuy nhiên so với yêu
cầu đấu tranh phòng chống tội phạm còn nhiều hạn chế về cả nhận thức và
thực tiễn.
Thứ hai, vấn nạn về ma túy đang là một vấn đề nhức nhối ảnh hưởng
lớn đến cuộc sống, sinh hoạt của toàn nhân loại. Ma túy đã gây tác hại xấu đến
nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến sự trường tồn của toàn dân tộc.
Toàn thế giới hiện nay có khoảng 100 triệu người nghiện ma túy, ở Việt Nam
trong 5 năm qua có 783.339 người nghiện ma túy. Đáng lo ngại là ma túy đã

sáng tỏ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, đề ra những giải pháp cơ bản giúp cho
việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy ở
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có chất lượng, đáp ứng yêu cầu về cải
cách tư pháp và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở tỉnh Thanh Hóa.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chức năng thực hành quyền công tố của
Viện kiểm sát nhân dân trong chính thể nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
- Trên cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
kiểm sát nhân dân liên hệ việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết
các vụ án hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Qua
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công
tố dưới góc độ hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lịch sử hình thành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân
dân theo các bản Hiến pháp
- Việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước trên thế giới.
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam. 9
- Khảo sát thực tiễn việc thực hành quyền công tố trong việc giải
quyết các vụ án hình sự về ma túy từ năm 2005 đến nay ở Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về nội
dung và hình thức để qua đó nâng cao chức năng thực hành quyền công tố
trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma tuý ở Việt Nam nói chung
và ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
3. Phƣơng pháp tiếp cận vấn đề

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 2: Tình hình tội phạm và thực trạng quyền công tố trong các
vụ án hình sự về ma túy qua thực tiễn ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh
Hóa hiện nay.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG TỐ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CƠ QUAN TƢ PHÁP VÀ
QUYỀN CÔNG TỐ
1.1.1. Cơ quan tƣ pháp trong chính thể nhà nƣớc
Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công
và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền:
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Do đó, quyền tư pháp được hiểu là hoạt động
xét xử của tòa án và những hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ
chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của tòa án, nhằm bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội. Vì vậy, cơ quan tư pháp bao
gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra và các
cơ quan, tổ chức tư pháp bổ trợ như: Luật sư, Công chứng, Giám định, Tư vấn
pháp luật
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Một nền tư pháp kiểu mới - nền tư pháp nhân
dân đã từng bước được thiết lập. Gần 60 năm qua, các cơ quan tư pháp đã

nhưng hệ thống truyền lực qua hoạt động của các cơ quan tư pháp không tốt,
thì lực đó không đi vào cuộc sống và không trở thành hiện thực. Nói cách
khác, hoạt động tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật liên quan trực tiếp đến
lợi ích thiết thân, quan trọng nhất đối với con người như danh dự, nhân phẩm,
tự do, tài sản và cả tính mạng. Bằng cách đó mà pháp luật vì con người, cho
con người, đề cao các quyền con người trở thành hiện thực.
Hoạt động của Tòa án và Viện kiểm sát quan hệ thiết thân đến con
người. Họ đòi hỏi Tòa án và Viện kiểm sát phải là biểu tượng điển hình của 13
việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, phải thể hiện trực tiếp tính chất dân chủ
và công khai trong hoạt động. Trong tất cả các khâu của quá trình bảo vệ pháp
luật, Tòa án và Viện kiểm sát là nơi biểu hiện rõ nhất bản chất của pháp luật.
Ở đó, con người tìm thấy lẽ công bằng, tính nhân đạo, "thiện" và "ác" một
cách trực tiếp và cụ thể qua các vụ việc cụ thể. Ở đó, còn là "mảnh đất" kích
thích sự hoàn thiện và phát triển pháp luật vì con người và cho con người.
Thực tiễn xây dựng bộ máy nhà nước cho thấy, hệ thống tư pháp hiện
nay ở nước ta chưa đảm đương được đầy đủ vị trí, vai trò nói trên. Có thể nói,
ở tất cả các khâu từ điều tra, truy tố, đến xét xử và phòng ngừa, hệ thống
tư pháp chưa thực sự là một hệ thống vận dụng và áp dụng thành thạo pháp
luật. Trong nhiều trường hợp, quyền lực nhà nước bị biến dạng qua hoạt động
cụ thể của Tòa án và Viện kiểm sát. Uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật
giảm sút trong dư luận của quần chúng. Vì vậy, tiếp tục đổi mới, cải cách hệ
thống các cơ quan tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, đòi hỏi phải nâng cao năng lực áp
dụng pháp luật và năng lực đề xuất, kiến nghị sáng kiến đổi mới và hoàn thiện
hệ thống pháp luật vì con người, cho con người đối với đội ngũ điều tra viên,
kiểm sát viên và thẩm phán.
1.1.2. Sự ra đời và phát triển của quyền công tố

tố. Mặc dù vậy, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được Viện
công tố thực hiện ở nước ta từ năm 1945; từ 1960 đến nay do Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện. Tuy nhiên, hiểu thế nào là "công tố", "quyền công tố",
bản chất và nội dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có nhận thức, quan
điểm thống nhất chung.
Có quan điểm cho rằng, công tố là "hoạt động tố tụng đối với các vụ án
mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước
khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật".
Theo Từ điển tiếng Việt, công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc
tội kẻ phạm pháp trước Tòa án". 15
Từ điển Luật học lại ghi: Công tố "là quyền của Nhà nước truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội".
Thuật ngữ "quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp
năm 1980; sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính
thức nội dung quyền công tố. Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung,
lĩnh vực cũng như phạm vi chủ thể tham gia thực hành quyền công tố. Nhưng
về nội dung và phạm vi thực hành quyền công tố (những yếu tố cấu thành
quyền công tố) là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào.
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành có thể thấy một số quan điểm về quyền
công tố như sau:
- Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân (trước khi
Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001). Quan điểm này xuất

tiên trong tố tụng hình sự; cùng với sự phát triển của xã hội và của các ngành
luật, quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động.
Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp
pháp lý đặc trưng theo luật định mà Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hiện
trong hoạt động tố tụng tư pháp; quyền công tố là một nội dung của hoạt động
chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng
dân sự và các lĩnh vực tư pháp khác, nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm
pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế
thống nhất.
Đây là quan điểm được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức
của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong 17
các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề tổng kết trước đây của
ngành Kiểm sát. Quan điểm này quá mở rộng quyền công tố, dẫn đến xóa
nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng
khác; đồng nhất quyền công tố với các quyền năng khác của Viện kiểm sát
trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động.
Những quan điểm nêu trên về quyền công tố đều có sự hợp lý ở những
khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên mỗi quan điểm đều có những nội dung còn
bất cập, thể hiện:
- Hoặc là đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công
tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân
sự, hành chính, kinh tế, lao động.
- Hoặc là coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự,
dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập

chức năng buộc tội, hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước (nhân danh
quyền lực công) giữ vai trò là động lực của hoạt động tố tụng; nó thu hút
hoạt động của tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự. Khi
đề cập đến vị trí, vai trò của Công tố viên thì các nhà làm luật nước ngoài
thường gọi họ là "người buộc tội nhân danh Nhà nước", dịch ra tiếng Việt
là "công tố".
Cùng với thời gian, quyền công tố đã dần dần được hình thành một
cách riêng biệt và đến hôm nay nó là một chế định pháp lý độc lập được thừa
nhận chung trong luật tố tụng hình sự của các Nhà nước pháp quyền. Để hiểu
rõ "quyền công tố" thực sự như thế nào, chúng ta có thể thấy
- Trước hết, về mặt lập pháp: cụm từ "quyền công tố" chính thức được
ghi nhận lần đầu tiên về mặt hiến định trong Hiến pháp năm 1980 (Điều 138)
và hiện nay - trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 137), ngoài ra cụm từ này còn
được đề cập trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 23) và trong Luật 19
ngày 8-10-1992 về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (các điều 15-16). Tuy
nhiên, cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước ta (từ Ủy
ban Thường vụ Quốc hội đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao) chính thức giải
thích nội dung của quyền công tố.
- Về mặt thuật ngữ: theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ
học do GS. Hoàng Phê chủ biên, thì công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và
buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án" [18, tr. 204].
- Về mặt thực tiễn: hoạt động điều tra đúng pháp luật là điều kiện tiên
quyết và là tiền đề đảm bảo pháp chế cho việc tiến hành tốt hai chức năng của
quyền công tố tương ứng trong hai giai đoạn tiếp theo sau đó - truy tố bị can
trước pháp luật và buộc tội bị cáo tại phiên tòa xét xử của Tòa án. Và chính vì
vậy, thực tiễn áp dụng pháp luật Tố tụng hình sự của nước ta cho thấy, khi
thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát cũng tiến hành cả chức năng đầu tiên

sự cấm; và nghĩa rộng - khi nó được hiểu là quyền nhân danh Nhà nước thực
hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự các chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội
trước Tòa án người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự
cấm. Từ hai cách hiểu này, chúng ta cần phải lần lượt tìm hiểu xem nội dung
của quyền công tố mà Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước được thể hiện trong
phạm vi (giới hạn) nào của quá trình tố tụng hình sự và tương ứng với việc
thực hiện các chức năng nào.
Trước hết, nếu như chỉ hiểu theo nghĩa hẹp, thì nội dung của quyền
công tố chỉ được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ sau khi kết thúc
việc điều tra tội phạm và vụ án hình sự được chuyển sang Viện kiểm sát để
truy tố người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm
trước Tòa án và chấm dứt sau khi Tòa án xét xử xong với việc tuyên một bản
án (quyết định) có hiệu lực pháp luật đối với người đó, tức là trong hai giai
đoạn của hoạt động tố tụng hình sự - truy tố bị can và buộc tội bị cáo của
Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử của Tòa án. Hai giai đoạn này tương ứng
với việc thực hiện hai chức năng của Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước - 21
chức năng truy tố và chức năng buộc tội. Các chức năng của quyền công tố
trong luật tố tụng hình sự mà Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện
luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ, thống nhất và biện chứng với
nhau, mà nếu không thực hiện tốt bất kỳ một chức năng nào, thì sẽ dẫn đến
tình trạng không đồng bộ, thiếu sự nhất quán và do đó, quyền công tố sẽ
không thể đạt được hiệu quả và mục đích cao cả của nó.
1.2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT Ở THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1. Mô hình hoạt động của cơ quan công tố trên thế giới
1.2.1.1. Một số mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm

tố viên thực thi nhiệm vụ công tố dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng.
Việc khởi tố, điều tra tội phạm ở Anh thuộc thẩm quyền của cơ quan
Cảnh sát. Công tố Hoàng gia không thực thi chức năng giám sát việc điều tra
hoặc chỉ đạo việc điều tra của cảnh sát hay chỉ thị cho cảnh sát trong việc thu
thập chứng cứ. Tuy nhiên, Công tố Hoàng gia Anh có nhịêm vụ theo luật định
thậphỉ dẫn cho cảnh sát về mối liên quan, khối lượng cần và đủ cũng như khả
năng có thể chấp nhận được của các bằng chứng đã thu thập được, nhưng đây
không phải là mệnh lệnh buộc cảnh sát phải tuân theo. việc quyết định làm thế
nào để đáp ứng được các chỉ dẫn đó hoàn toàn là việc của cảnh sát. nhiệm vụ
chủ yếu của Công tố hoàng gia là truy tố tội phạm, ngoài ra cơ quan này có
quyền khởi tố đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp.
Trong quá trình điều tra, Công tố viên chỉ đóng vai trò như Luật sư tư
vấn cho cơ quan cảnh sát nhưng lại có quyền quyết định một số vấn đề như:
có cần thiết phải khởi tố bị can hay không hoặc nếu vụ việc đã được khởi tố
thì tiếp tục tiến hành tố tụng hay đình chỉ.
Tất cả các Công tố viên phải chịu trách nhiệm cá nhân và phải cân
nhắc đầy đủ các vấn đề chứng cứ trên tinh thần bộ luật truy tố tội phạm.
Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên Hoàng gia không có quyền đề nghị mức
án mà trình bày nội dung vụ án, còn quyết định tội danh và mức án là do Hội 23
đồng xét xử. Trong trường hợp cần thiết Công tố viên có quyền kháng nghị
bản án, quyết định của Tòa án, tuy nhiên số lượng kháng nghị không đáng kể.
Tổ chức và hoạt động của Công tố Hoàng gia Anh chỉ thực hiện trong
lĩnh vực tư pháp hình sự với nhiệm vụ chủ yếu là đưa vụ án ra Tòa án và thực
hiện sự buộc tội đối với bị cáo.
Hoa Kỳ, là đất nước mà tổ chức bộ máy nhà nước được thực hiện theo
thuyết tam quyền phân lập một cách triệt để bao gồm ba hệ thống cơ quan là
Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp, hoạt động theo cơ chế kìm chế và đối trọng.

đảm bảo hoạt động độc lập, đó là quyền tự do luận tội và quyền tự quýet định
có truy tố hay không. Công tố viên Tòa sơ thẩm có quyền chỉ ra hoạt động
điều tra của nhân viên cảnh sát, có quyền tiến hành khám xét va thu giữ, kiểm
tra nhận dạng và tạm giam. Ngoài ra Công tố viên có quyền tự quyết định số
phận vụ án mà không cần chuyển sang tòa án. Đây là những vụ án mà hành vi
phạm tội không ảnh hưởng lớn đến những giá trị nền tảng của xã hội và nạn
nhân muốn được bồi thường hơn là truy tố.
Trong quá trình xét xử Công tố viên có quyền tranh luận, phát biểu
quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, đề nghị mức án đối với bị cáo.
Sau cùng cơ quan công tố có trách nhiệm theo dõi việc thi hành án.
Một quốc gia khác mang đậm nét của luật châu Âu - lục địa là Đức: ở
đây cơ quan Công tố một mặt thuộc cơ quan Hành pháp nhưng mặt khác lại
chịu sự quản lý của cơ quan tư pháp. Bộ Tư pháp là cơ quan giám sát cao nhất
của cơ quan công tố, nhưng cơ quan công tố lại nằm trong hệ thống tòa án.
Viện trưởng viện công tố Liên bang do Tổng thống Đức bổ nhiệm và có trách
nhiệm truy tố tất cả các loại tội phạm. Công tố viên tham gia vào quá trình
điều tra với tư cách là người chỉ huy, có quyền khởi tố và kết thúc các thủ tục
ban đầu, có quyền quyết định các biện pháp cường chế cần thiết trong quá
trình điều tra như: Khám xét, tịch thu tài sản, theo dõi điện thoại của người bị
tình nghi… nhưng các quyết định này phải có lệnh của thẩm phán trừ những
trường hợp khẩn cấp. Công tố viên có thể tự tiến hành ngay những biện pháp
cưỡng chế nhưng ngay sau đó phải xin lệnh của Tòa án. 25
Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên tham gia phiên tòa có quyền
công bố cáo trạng, tham gia thẩm vấn bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác sau khi Tòa án đã thẩm vấn, đề nghị mức án đối với bị cáo. Sau cùng
công tố viên có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định của Tòa án có vi
phạm pháp luật.

chuyển vụ án cho Tòa án; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án…
Trong quá trình xét xử, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà
nước, bảo đảm việc buộc tội có căn cứ và đúng pháp luật. Tòa án chỉ giới hạn
xét xử đối với những nội dung mà Kiểm sát viên truy tố. Viện kiểm sát không
thực hiện việc giám sát hoạt động xét xử của Tòa án.
Trong hoạt động tố tụng hình sự, ngoài sự tham gia của Kiểm sát viên
trong tất cả các vụ án hình sự, thì sự tham gia của các Dự thẩm viên của Viện
kiểm sát trong quá trình giải quyết một số loại án hình sự cụ thể có vai trò rất
quan trọng. Theo quy định của pháp luật, Dự thẩm viên được giao thẩm quyền
điều tra đối với rất nhiều loại tội khác nhau (tất cả các loại tội phạm do một số
chủ thể đặc biệt thực hiện và hơn 80 loại tội khác trong Bộ luật hình sự).
1.2.1.2. Một số mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm
sát) ở châu Á
Nhật Bản, là một nước quân chủ lập hiến với lưỡng viện Quốc hội
được bầu cử dân chủ. Đảng Dân chủ Tự do (thực ra là đảng chính trị bảo thủ)
đang có thời gian dài chiếm đa số ghế trong Quốc hội. Tuy nhiên, Nhật Bản
có nhiều đảng đối lập đáng kể, lớn nhất là Đảng Dân chủ, hiện đang nắm số
ghế lớn nhất trong tất cả các đảng đối lập tại Thượng viện.
Các viện công tố nằm dưới sự quản lý của Viện Công tố quốc gia.
Tư tố không tồn tại. Trong khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm trong
việc giám sát chung đối với Viện Công tố quốc gia, Điều 14 của Luật Viện
Công tố quốc gia lại ngăn chặn sự can thiệp của Bộ trưởng Bộ Tư pháp vào
việc chỉ đạo các vụ án (trừ các cuộc điều tra được chỉ đạo bởi Viện trưởng
Viện Công tố quốc gia). 27
Viện Công tố quốc gia có trách nhiệm toàn bộ đối với quyết định
có truy tố hay không. Theo Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, công tố viên
có thể cho rằng việc truy tố không cần thiết trên cơ sở nhân thân và độ tuổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status