Quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam - Pdf 25

1

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MAI HIÊN

QUYỀN CỦA PHỤ NỮ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Các quyền của phụ nữ theo quy định của pháp luật quốc tế và
Việt Nam
16
1.3.
Quá trình hình thành, phát triển quyền của phụ nữ và các quy
định pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam và các tiêu chí
để đánh giá chúng
27
1.3.1.
Quá trình hình thành, phát triển quyền của phụ nữ và các quy
định pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam
27
1.3.2.
Các tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về
quyền của phụ nữ ở Việt Nam
38

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC QUYỀN CỦA PHỤ NỮ
Ở VIỆT NAM
47
2.1.
Trong lĩnh vực chính trị
48
2.2.
Trong lĩnh vực kinh tế, lao động
58
2.3.
Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU

LOẠI
TÊN
TRANG
BẢNG 2.1
Tỷ lệ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp các nhiệm
kỳ từ 1985 - 2009
54


5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất nước Việt Nam sau 20 năm đổi mới cùng với những thành tựu to lớn
về kinh tế, chính trị – xã hội thì những thành tựu về bình đẳng giới và tiến bộ
của phụ nữ cũng rất đáng được trân trọng. Một minh chứng cho sự thay đổi này
là tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khoá XI chiếm tỷ lệ 27,31% đã đưa Việt Nam dẫn
đầu các nước Châu á về tỷ lệ nữ trong Quốc hội. Kết quả trên đánh dấu sự quyết
tâm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ quyền của phụ nữ và mục tiêu vì
sự bình đẳng giới ở Việt Nam. Những thành tựu đó là kết quả trực tiếp, tất yếu
từ sự tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động phụ nữ, từ hệ
thống pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới ngày càng
được hoàn thiện, từ tinh thần vượt khó, phát huy nội lực phấn đấu vươn lên của
các tầng lớp phụ nữ.
Ghi nhận những đóng góp của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước, Nhà nước Việt Nam đánh giá cao những cống hiến này. Ở Việt
Nam việc bảo vệ quyền của phụ nữ không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà
còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi gia đình và của từng công dân. Ngay
từ Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam độc lập đã
thể hiện tính dân chủ, không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo.
Nguyên tắc bình đẳng đã được nhắc đến hai lần trong Điều 6, Điều 7 và đặc biệt
là Điều 9 đã ghi nhận: “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.
Cho đến nay, quyền của phụ nữ đã được pháp luật ghi nhận và chiếm một vị trí
đáng kể trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Ở hầu hết các ngành luật của Việt
Nam như: Luật Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Lao động, Luật
Hình sự, Luật Tố tụng hình sự… đều đã ghi nhận và bảo vệ các quyền của phụ
nữ. Đặc biệt vào ngày 29/7/1980 Việt Nam đã quyết định gia nhập Công ước
quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (gọi là công ước
CEDAW) và có hiệu lực chính thức ở Việt Nam vào ngày 09/03/1982.

Việt Nam cũng đã có nhiều chương trình, dự án tài trợ cho hoạt động nghiên cứu
và phân tích chính sách về quyền của phụ nữ. Chẳng hạn, Hội Liên hiệp phụ nữ
Việt Nam có dự án “Hỗ trợ xây dựng Luật bình đẳng giới và văn bản hướng dẫn
thi hành” do Đại sứ quán Phần Lan tài trợ hay dự án “Tăng cường khả năng tư

7
vấn cấp Bộ” do Thuỵ Điển tài trợ cho Ban vì sự tiến bộ phụ nữ Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn… được đánh giá là các chương trình, đề tài lớn nghiên
cứu mang tính khái quát, tổng hợp nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề quyền phụ
nữ.
Ngoài ra còn rất nhiều ấn phẩm, tác phẩm của các nhà nghiên cứu, các
chuyên gia viết về đề tài này như các bài viết: “Hoàn thiện pháp luật về lao động
nữ ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Dương Thị Ngọc Lan; “Bảo hiểm xã hội
đối với lao động nữ - cụ thể công ước CEDAW khi dự thảo Luật Bảo hiểm xã
hội” của tác giả Nguyễn Kim Phượng; “Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hồng Bắc; “Bảo
vệ quyền phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của tác giả Bùi Thị
Mừng. Gần đây nhất phải kể đến đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền
của phụ nữ trong một số lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Mai Thị
Diệu Thuý và một số bài viết đăng trên Tạp chí Luật học như “Pháp luật Việt
Nam với việc thực hiện Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ” số tháng 3 năm 2006. Trong các công trình của mình, mỗi tác giả đều
có những phân tích, nhận định vấn đề quyền của phụ nữ ở những khía cạnh khác
nhau nhưng chưa khái quát được dưới góc độ chung nhất các vấn đề về quyền
của phụ nữ và pháp luật về quyền của phụ nữ. Do vậy, vấn đề quyền của phụ nữ
ở Việt Nam vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống
pháp luật cũng như quá trình thực hiện có hiệu quả quyền của phụ nữ Việt Nam
trên thực tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là góp phần làm rõ hơn một số vấn

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của Chủ nghĩa Mác –
Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước
Việt Nam về quyền con người nói chung, quyền phụ nữ nói riêng vì sự tiến bộ
của phụ nữ và mục tiêu bình đẳng giới cao cả.

9
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã áp dụng một số phương pháp cụ
thể như: Phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những nội dung thuộc phạm vi
nghiên cứu; phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ mức độ tương quan
giữa những quy định của pháp luật quốc tế với pháp luật Việt nam và đặc biệt là
thông qua phương pháp này để có được những đánh giá khách quan giữa quy
định của pháp luật với thực tiễn thực hiện các quy định ấy; phương pháp tổng
hợp và thống kê được sử dụng để khái quát hoá nội dung nghiên cứu một cách
hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu. Đồng
thời phương pháp này được dùng để thu thập và cung cấp một số số liệu liên
quan đến việc thực thi quyền của phụ nữ trên thực tiễn; phương pháp xã hội học
được dùng để đánh giá, phân tích những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội với
việc thực hiện quyền của phụ nữ ở Việt Nam
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Phân tích làm rõ hơn khái niệm về quyền của phụ nữ và pháp luật về
quyền của phụ nữ ở Việt Nam.
- Đánh giá một cách khái quát những thành tựu, cũng như những hạn chế,
bất cập của các quy định pháp luật và quá trình thực hiện pháp luật về các quyền
của phụ nữ ở Việt Nam. Phân tích những nguyên nhân, điều kiện làm cản trở
việc thực hiện các quyền của phụ nữ ở nước ta.
- Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện một số các quy định pháp luật về
quyền của phụ nữ ở Việt Nam.

người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Họ quan niệm: Quyền con người
không phải là một khái niệm trừu tượng, cũng không chỉ là quyền cá nhân con
người mang tính tự nhiên, bẩm sinh mà luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống
áp bức bóc lột, chống bất công trong xã hội, chịu sự giới hạn của chế độ kinh tế,
đặc biệt là chế độ chính trị – nhà nước [53, tr.15]. Khái niệm quyền con người
vẫn còn tiếp tục được nghiên cứu và tranh luận nhưng qua nghiên cứu ý kiến của
các nhà khoa học, chúng tôi nhất trí với cách hiểu sau về quyền con người:
“Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được
pháp luật công nhận, điều chỉnh do cá nhân con người nắm giữ trong mối quan
hệ với nhà nước và với những cá nhân con người khác” [79, tr.16]. Làm sáng tỏ

11
thuộc tính của quyền con người sẽ giúp hiểu rõ bản chất của quyền của phụ nữ,
vì quyền của phụ nữ là một bộ phận của quyền con người nhưng có những thuộc
tính đặc biệt do liên quan đến phụ nữ. Thuộc tính cơ bản của quyền con người là
bao gồm những giá trị gắn với mỗi con người, vừa với tư cách là cá nhân, vừa
với tư cách là thành viên xã hội. Giá trị đó phải được xã hội hoá bằng cách thể
chế hoá thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người.
Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là giá trị nảy
sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể, với một chế độ
chính trị, pháp luật cụ thể. Dựa trên những tiêu chí khác nhau có thể có nhiều
cách phân loại nội dung quyền con người. Theo cách tiếp cận quyền con người
của khoa học pháp lý thì quyền con người được chia thành những nhóm chính
sau:
+ Các quyền tự do dân chủ về chính trị bao gồm: Quyền tham gia quản lý
nhà nước và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự
do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí…
+ Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân) bao gồm: Quyền tự do đi lại cư
trú trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, quyền được an toàn về thư tín, điện thoại, quyền khiếu

Xuất phát từ thực tế thực hiện các quyền của phụ nữ hiện nay mà cuộc
đấu tranh cho quyền con người nói chung còn nhiều khó khăn, đòi hỏi phải có
sự phát huy sức mạnh và sự phối hợp trách nhiệm của cả cộng đồng. Đã có
nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người nhưng quyền của phụ nữ vẫn là mục
tiêu phấn đấu của không chỉ mỗi quốc gia mà còn của cả nhân loại. Mỗi quốc
gia sẽ xây dựng những quy phạm pháp luật riêng để bảo vệ quyền cho phụ nữ.
Có như vậy người phụ nữ mới thực sự được bình đẳng, được bảo vệ và có điều
kiện phát triển.
1.1.2. Pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam
“Quyền con người không phải là một nhân tố đầu tiên có trước Nhà nước
mà phải bằng pháp luật Nhà nước ghi nhận và thiết định mới trở thành hiện
thực” [79, tr.18]. Như vậy, quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ nói
riêng một mặt mang tính chất tự nhiên (quyền tự nhiên), người ta sinh ra đã có
các quyền đó, nhà nước không thể không ghi nhận nhưng mặt khác khi chưa

13
được nhà nước, pháp luật ghi nhận thì “các quyền tự nhiên” chưa có điều kiện
trở thành hiện thực. Hay nói cách khác, chỉ có pháp luật mới là công cụ hữu hiệu
để bảo vệ quyền con người, quyền của phụ nữ. Pháp luật phải ghi nhận các
quyền của phụ nữ và đảm bảo thực hiện các quyền đó trên thực tế. Ngay tại
Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc được thông qua ngày 10 tháng 12
năm 1948 cũng đã xác định nguyên tắc có tính chất khái quát về nhân quyền như
sau: Tất cả mọi người đều có những quyền bình đẳng và không thể chuyển
nhượng. Đó là nền tảng của tự do và chân lý trên thế giới. Và các quyền con
người phải được bảo vệ bằng chế độ pháp luật [52, tr.105].
Có nhiều phương thức để bảo vệ quyền của phụ nữ nhưng pháp luật là
phương thức quan trọng nhất và không thể thiếu. Để bảo vệ quyền con người nói
chung và quyền của phụ nữ nói riêng trước hết được hiểu là sự ghi nhận các
quyền đó bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật. Hơn nữa, xuất
phát từ đặc điểm riêng của phụ nữ nên quyền của phụ nữ phải được xem xét và

Luật Bình đẳng giới đã thể chế hoá quan điểm của Đảng nhất là Nghị quyết Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ
và phát huy nguồn lực con người, tạo cơ hội và điều kiện cho cả nam và nữ cùng
tham gia đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước và hưởng lợi từ các
thành quả của sự phát triển. Phấn đấu bình đẳng giới không chỉ đảm bảo mục
tiêu phát triển hài hoà mà là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền của phụ nữ.
Đạo luật này đã đưa ra một số quy định mới mà các quy phạm pháp luật hiện
hành chưa điều chỉnh, đòi hỏi các văn bản pháp luật hiện hành phải bổ sung,
hoàn thiện để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và đảm
bảo cho Luật Bình đẳng giới được thi hành trong thực tiễn.
1.1.3. Vai trò của pháp luật trong việc ghi nhận quyền của phụ nữ
Việc ghi nhận quyền của phụ nữ là vấn đề rất quan trọng trong thực tiễn
cũng như trong lý luận. Đặc biệt việc ghi nhận quyền này bằng các quy định
pháp luật thì càng có vai trò to lớn. Việc ghi nhận quyền của phụ nữ trong các
văn bản pháp luật như là minh chứng về sự nỗ lực và bước tiến lớn của Việt nam
trong quá trình đấu tranh cho bình đẳng giới và đảm bảo quyền cho phụ nữ.
Pháp luật ghi nhận quyền của phụ nữ và pháp luật cũng là phương tiện
đảm bảo cho những quyền đó được thực thi trong thực tiễn. Đảm bảo bằng pháp

15
luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để quyền con người nói chung
và quyền của phụ nữ nói riêng được thực hiện. Điều này được lý giải từ chính
những đặc trưng của pháp luật. Pháp luật là những quy tắc xử sự chung, có tính
bắt buộc, do nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện bởi sức mạnh của
nhà nước. Với đặc trưng này việc ghi nhận các quyền của phụ nữ sẽ có cơ sở để
đảm bảo thực hiện. Pháp luật ghi nhận các quyền của phụ nữ và pháp luật cũng
ghi nhận các chế tài để ngăn chặn các hành vi vi phạm của bất kỳ chủ thể nào tới
các quyền đó.
Việc ghi nhận quyền của phụ nữ là cơ sở quan trọng cho quá trình đấu
tranh vì sự nghiệp bình đẳng giới ở Việt Nam. Việc Quốc hội Việt Nam thông

nữ. Để đấu tranh cho mục tiêu bình đẳng nam, nữ, từ đầu thế kỷ XX cho đến nay
đã có rất nhiều văn bản pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ quyền của phụ nữ
trên tất cả các lĩnh vực đời sống. Ngay trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc tại
Điều 1 đã ghi nhận: “…Khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền con
người và các quyền tự do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt chủng
tộc, nam nữ, ngôn ngữ và tôn giáo” [12]. Và điều này tiếp tục được khẳng định
trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948: Mọi người đều được hưởng
các quyền tự do nêu trong bản tuyên ngôn này, không có bất kỳ sự phân biệt đối
xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến hay quan điểm khác,
nguồn gốc dân tộc hay xã hội, giống nòi hay các tình trạng khác. Những khẳng
định này tiếp tục được cụ thể hoá tại một số văn kiện quốc tế khác. Chẳng hạn,
Công ước về trấn áp việc buôn người và bóc lột mại dâm người khác được Liên
Hiệp Quốc ban hành năm 1949. Công ước có nội dung nhằm hạn chế và xoá bỏ
một trong những hình thức xâm hại phụ nữ tồi tệ nhất là buôn bán và bóc lột
tình dục phụ nữ. Các quyền về chính trị của phụ nữ như quyền được bầu cử, ứng
cử, quyền được nhận vào làm việc trong các cơ quan nhà nước được thể hiện
trong Công ước về các quyền chính trị được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông
qua năm 1952. Công ước về quốc tịch và phụ nữ khi kết hôn được thông qua
năm 1957. Công ước ra đời nhằm mục đích bảo vệ quyền có quốc tịch hoặc
quyền thay đổi quốc tịch của người phụ nữ khi kết hôn hay ly hôn với chồng là
người nước ngoài. Công ước về các quyền dân sự – chính trị năm 1966. Công

17
ước ghi nhận toàn bộ nội dung các quyền dân sự – chính trị ở phần III cụ thể là:
quyền sống, quyền không bị tra tấn, đối xử tàn nhẫn vô nhân đạo, không bị bắt
và giam giữ vô cớ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền bầu cử… Các quốc
gia thành viên của Công ước cam kết đảm bảo quyền bình đẳng nam nữ trong
việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị mà Công ước đã đề ra.
Mặc dù đã có nhiều văn kiện quốc tế ghi nhận và bảo vệ quyền của phụ
nữ song thực tế trên thế giới vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử với phụ nữ và diễn

quyền con người cơ bản đã được xác định bởi các điều ước quốc tế về nhân
quyền khác. CEDAW cũng chỉ ra những lĩnh vực cụ thể hiện đang tồn tại sự
phân biệt đối xử với phụ nữ một cách nặng nề để từ đó xác định những biện
pháp thích hợp nhằm loại bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng của phụ nữ
trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Bên cạnh công ước ngày 6/10/1999 Đại
hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị định thư không bắt buộc bổ sung
cho CEDAW và có hiệu lực từ ngày 22/12/2000. Nghị định thư một mặt tạo cho
phụ nữ quyền được gửi đơn khiếu nại cá nhân tới Uỷ ban CEDAW về tất cả các
vi phạm của Chính phủ nước họ và mặt khác tạo điều kiện cho Uỷ ban CEDAW
tiến hành những cuộc điều tra về các lạm dụng mà phụ nữ là nạn nhân ở những
nước đã phê chuẩn Nghị định thư. Tính đến tháng 11 năm 2006 đã có 83 nước là
quốc gia thành viên của Nghị định thư.
Phương pháp tiếp cận của CEDAW là quan tâm đến sự khác biệt về giới
và giới tính giữa nam và nữ, đồng thời cũng xác định một trong những nguyên
nhân sâu xa dẫn tới sự bất bình đẳng nam, nữ là sự tác động của phong tục tập
quán. Công ước không chỉ xác định những biện pháp chung, áp dụng cho cả
nam và nữ mà còn xây dựng những quy phạm pháp lý riêng, có tính chất ưu tiên
chỉ áp dụng cho phụ nữ nhằm đạt được mục tiêu đảm bảo quyền bình đẳng cho
phụ nữ trong việc ghi nhận quyền cũng như thực tế thụ hưởng những quyền này
(Điều 4, CEDAW) [5, tr. 9]. Đồng thời công ước cũng chỉ ra rằng các quốc gia
trong quá trình đấu tranh cho bình đẳng giới thì yêu cầu quan trọng đầu tiên là
đổi mới tư duy nhận thức về bình đẳng nam nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
Đó là biện pháp liên quan đến sự thay đổi mẫu hình văn hoá - xã hội, là biện
pháp giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội (Điều 5, Điều 6). Cách tiếp cận này
của Công ước đã khắc phục được sự phân biệt về giới tính của phụ nữ dẫn tới sự

19
hạn chế quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực xuất phát từ đặc điểm về giới
tính.
Là thành viên của Công ước CEDAW và một số công ước quốc tế khác,

quyền của phụ nữ và sự nghiệp đấu tranh cho mục tiêu bình đẳng giới. Các quy
phạm của Luật Bình đẳng giới đã được xây dựng theo hướng nội luật hoá các
quy định của điều ước quốc tế về chống phân biệt đối xử và bình đẳng giới, đảm
bảo thể chế hoá các quy định của các điều ước quốc tế này để thực hiện. Đặc
biệt Luật đã đưa vào những nội dung rất mới như quy định về việc lồng ghép
vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 21),
thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (Điều 22)…
Việc nghiên cứu các quy định của các điều ước quốc tế mà cụ thể là Công
ước CEDAW và quá trình nội luật hoá ở Việt Nam được thể hiện ở những khía
cạnh sau:
Thứ nhất là việc giải thích thuật ngữ. Công ước CEDAW tiếp cận vấn đề
phân biệt đối xử với phụ nữ một cách chi tiết và cụ thể để các quốc gia thành
viên cũng như cộng đồng quốc tế có căn cứ thực thi và giám sát việc thực thi các
yêu cầu về đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ. Ngay tại Điều 1 của Công ước
đã nêu “phân biệt đối xử với phụ nữ” là: “…bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn
chế nào dựa trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại
hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các
quyền con người và những tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã
hội, văn hoá, dân sự hay bất kể lĩnh vực nào khác và trên cơ sở bình đẳng nam
nữ” [5, tr. 9]. CEDAW chi tiết hoá những biểu hiện “phân biệt đối xử với phụ
nữ” một cách thống nhất và xuyên suốt toàn bộ nội dung công ước nhằm hướng
đến đảm bảo, thực hiện và phát triển quyền bình đẳng của phụ nữ ở các lĩnh vực
hoạt động cụ thể: bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về kết quả trong việc hưởng
các quyền ở các lĩnh vực xã hội. Chính điều này đã tạo thuận lợi cho cơ chế thực
thi và giám sát thực thi công ước ở các quốc gia thành viên. Các quốc gia thành
viên phải lên án và áp dụng các biện pháp thích hợp và không chậm trễ để xoá
bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Ở nước ta, theo quy định tại khoản 5
Điều 5 của Luật Bình đẳng giới thì: “Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế,
loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây



22
pháp đặc biệt tạm thời nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong các
thiết chế quốc tế mà quốc gia đó là thành viên.
Ngoài ra, các quốc gia thành viên cũng phải dành cho phụ nữ quyền bình
đẳng với nam giới trong việc nhập, thay đổi hay giữ nguyên quốc tịch của mình
đặc biệt phải đảm bảo quyền quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn với người nước
ngoài, hay sự thay đổi quốc tịch của người chồng trong thời gian hôn nhân và
vấn đề quốc tịch của con cái họ (Điều 9). Những quy định này sẽ góp phần chấm
dứt trên thực tế sự lệ thuộc của phụ nữ vào nam giới khi thiết lập quan hệ hôn
nhân và gia đình, đồng thời nó còn giải phóng phụ nữ khỏi những áp lực không
mong muốn trong những hoạt động thực tiễn có liên quan đến nam giới.
Với trách nhiệm là một quốc gia thành viên của Công ước Việt Nam đã
từng bước nội luật hoá các quy định của Công ước. Bình đẳng giới trong lĩnh
vực chính trị được thể hiện trong quy định của nhiều văn bản quy phạm pháp
luật của Nhà nước và các văn kiện của Đảng như: Hiến pháp 1992; Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội (ban hành 1997, sửa đổi, bổ sung 2001); Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003; Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
dân 2003; Luật Khiếu nại, tố cáo; Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách
mạng 2005; Pháp lệnh cựu chiến binh; Pháp lệnh cán bộ công chức… và hàng
loạt các văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản nêu trên. Đặc biệt Điều 11 của
Luật Bình đẳng giới đã nêu cụ thể bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là:
nam nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội,
bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng
đồng, bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc
hội, đại biểu Hội đồng nhân dân Luật Bình đẳng giới còn nêu rõ các biện pháp
thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và các hành vi vi phạm pháp
luật về bình đẳng giới.
 Đảm bảo sự bình đẳng cho phụ nữ trong đời sống kinh tế - văn hoá -
xã hội

phụ nữ nông thôn thuộc nhóm phụ nữ có những vấn đề cần được quan tâm đặc
biệt, bởi họ là người phải chịu đựng nhiều nhất gánh nặng của sự bất bình đẳng

24
về nhiều lĩnh vực, nhất là trong việc hưởng những thành quả lao động của bản
thân hay lợi ích của sự phát triển.
Nội dung này của Công ước đã được khái quát từ Điều 12 đến Điều 17
của Luật Bình đẳng giới. Cụ thể, Luật đã nêu rõ nội dung của bình đẳng giới
trong lĩnh vực kinh tế, lao động, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và văn
hoá thông tin, thể dục, thể thao. Nam, nữ đều bình đẳng khi tham gia các quan
hệ trong các lĩnh vực nói trên: bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng,
bình đẳng trong lựa chọn ngành nghề, học tập, đào tạo, bình đẳng trong việc tiếp
cận, ứng dụng khoa học và công nghệ và trong các hoạt động văn hoá - thông
tin, thể dục, thể thao. Nội dung của các quyền của phụ nữ này không chỉ được
quy định tại Luật bình đẳng giới mà trước đó tại các văn bản pháp luật chuyên
ngành khác cũng đã quy định rất cụ thể. Chẳng hạn trong lĩnh vực việc làm, Bộ
luật lao động, một mặt luôn tạo cơ hội như nhau cho cả lao động nam và lao
động nữ. Mặt khác, có những quy định riêng thể hiện biện pháp thúc đẩy bình
đẳng giới như: người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc
khi người đó đủ tiêu chuẩn chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà
doanh nghiệp đang cần (khoản 2, Điều 111 Bộ luật lao động). Các quy định của
Luật bình đẳng giới đã phù hợp với các nội dung của Công ước CEDAW, song
để đảm bảo thực hiện tốt các quyền này của phụ nữ cần có hướng dẫn tại các
văn bản dưới luật. Chẳng hạn, tại Nghị định hướng dẫn thi hành Luật cần quy
định cụ thể các vấn đề như: tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân, tỷ lệ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà
nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới là tỷ lệ nào. Cần có
những hướng dẫn cụ thể hơn nhằm thực hiện các khoản e, f, g và h của Điều 10
Công ước CEDAW liên quan đến việc áp dụng các biện pháp nhằm: giảm bớt tỷ
lệ nữ sinh bỏ học và tổ chức các chương trình dành cho các em gái và phụ nữ

thần, vật chất của chị em. Đồng thời các tổ chức này còn là cơ quan tham mưu
các chính sách, pháp luật cho Đảng và Nhà nước để bảo vệ tốt nhất quyền của
phụ nữ. Biện pháp về pháp lý trước hết ở bản Tuyên ngôn độc lập mà Bác Hồ
đọc ngày 02/9/1945 là: Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hoá cho họ

Trích đoạn Trong lĩnh vực chính trị Trong lĩnh vực kinh tế, lao động Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá thông tin và thể thao Trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ gia đình Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status