ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT CHU THỊ NGỌC
Tòa án trong nhà nƣớc pháp quyền LUẬN VĂN THẠC SỸ
1.1.1.
Khái niệm Nhà nước pháp quyền
1.1.2.
Các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền
1.1.2.1.
Nhà nước pháp quyền là một nhà nước dân chủ, được thành lập một
cách chính đáng, hợp hiến, hợp pháp
1.1.2.2.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước bị giới hạn quyền lực
1.1.2.3.
Nhà nước pháp quyền đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật
1.1.2.4.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước có nhánh quyền lực tư pháp độc lập
1.2.
Tư pháp trong nhà nước pháp quyền
1.2.1.
Khái niệm tư pháp
1.2.2.
Đặc điểm của Tòa án trong nhà nước pháp quyền
tranh chấp dân sự Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
TÒA ÁN VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.
Lịch sử hình thành và pháp triển của Hệ thống Tòa án Việt Nam
2.2.
Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án Việt Nam từ 1992 đến nay
2.2.1.
Về tổ chức Tòa án
2.2.2.
Về hoạt động xét xử của Tòa án
2.2.2.1.
Số lượng vụ án đã xét xử
2.2.2.2.
Chất lượng hoạt động xét xử
2.2.2.3.
Những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của Tòa án 3
Trang
2.1.
Tỷ lệ xét xử các loại án ở Tòa án nhân dân các cấp
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền là một giá trị văn hóa pháp lý mà nhân loại đã và
đang tìm kiếm, xây dựng, phát triển trong quá trình đấu tranh không ngừng vì
nền dân chủ, vì lợi ích và tự do cơ bản của con người. Đó là một mô hình tổ chức
nhà nước chống lại sự lạm quyền, tùy tiện của công quyền để bảo vệ con người.
Nhà nước pháp quyền yêu cầu chính quyền phải chịu sự kiểm soát của pháp luật,
mà pháp luật phải xuất phát từ quyền tự nhiên của con người. Một khi vai trò của
pháp luật được đề cao thì vai trò của hoạt động xét xử tư pháp cũng được coi là
yếu tố hết sức quan trọng trong việc giúp tư tưởng pháp quyền trở thành hiện
thực hơn. Do vậy, bất cứ nhà nước nào muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền
cũng đều phải quan tâm đến thiết chế Tòa án.
Ở Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập chính quyền, Đảng ta đã chú trọng
ngay đến việc củng cố, hoàn thiện hệ thống tòa án nhân dân để giải quyết các
tranh chấp, vi phạm phát sinh trong đời sống xã hội. Năm 2000, Hiến pháp 1992
thành năm 2006 “Cải cách cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư
pháp, nâng cao hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” ; luận án tiến sĩ luật học của TS. Đỗ Thị
Ngọc Tuyết “Cải cách hệ thống Tòa án Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”; luận văn thạc sỹ của Đặng Công Cường
“Vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Tư pháp và vai trò của tư pháp trong Nhà nước pháp quyền còn trở thành đề tài
hội thảo khoa học của các cơ sở đào tạo luật như Viện nghiên cứu Nhà nước và
8
pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật – ĐHQGHN và được xuất
bản thành kỷ yếu, sách chuyên khảo, như “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” do PGS.TSKH. Lê Cảm và TS.
Nguyễn Ngọc Chí – Khoa Luật đồng chủ biên. Ngoài ra, có nhiều bài viết, ấn
phẩm khoa học pháp lý, sách, tạp chí, báo đã được xuất bản có nội dung đề cập
đến Tòa án từ nhiều góc độ khác nhau.
Các công trình khoa học này đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận và
thực tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp
nước ta. Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu dưới những khía cạnh cụ thể khác
nhau của đề tài như về vai trò Tòa án; về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ
thống Tòa án Việt Nam; về hệ thống các cơ quan tư pháp Việt Nam Vì vậy, để
góp phần vào quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề tài về Tòa án vẫn phải tiếp tục được
nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau nhằm giải quyết một cách đầy đủ, toàn
diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Tòa án trong
Nhà nước pháp quyền.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm, đặc trưng của Nhà nước pháp quyền và vai trò, vị trí
của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền, từ đó phân tích các yêu cầu đối với Tòa
án trong Nhà nước pháp quyền; cách thức tổ chức và hoạt động của Tòa án để
nước pháp quyền.
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án Việt Nam hiện nay
10
Chương3: Cải cách Tòa án Việt Nam theo yêu cầu xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa
11
Chương 1
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI TÒA ÁN
TRONG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƢNG CƠ BẢN CỦA NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
1.1.1. Khái niệm Nhà nƣớc pháp quyền
Nhà nước pháp quyền được coi là mô hình tổ chức nhà nước lý tưởng nhất
của mọi thời đại, một giá trị xã hội được tích lũy và phát triển trong lịch sử nhân
loại. Tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền đã xuất hiện từ thời cổ đại mà đại
diện tiêu biểu là các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại như Salon, Platon, Aristot,
Xixeron Học thuyết Nhà nước pháp quyền được các nhà tư tưởng chính trị -
pháp lý sau này tiếp tục phát triển, hoàn thiện. Cho đến ngày nay, đang tồn tại
quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền tư sản và quan điểm xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Dù quan điểm nào thì mục đích hướng tới
chủ yếu của nhà nước pháp quyền chính là quyền con người.
Về khái niệm “Nhà nước pháp quyền” có nhiều cách tiếp cận, nhận thức
khác nhau, cụ thể có người nhấn mạnh yếu tố nhân quyền, tính tối cao của Hiến
pháp, pháp luật, có người nhấn mạnh yếu tố phân chia quyền lực nhà nước và sự
hạn chế quyền lực nhà nước, có người nhấn mạnh tính dân chủ, quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân… Trong tổng thể những quan điểm trên, chúng ta thấy
yếu tố có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm các yêu cầu của Nhà
nước pháp quyền chính là thiết chế Tòa án. Bởi vì, mục đích cao nhất của Nhà
nhân….Những quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến
pháp và pháp luật không phải chỉ là ý chí của nhà nước mà còn là ý chí của mọi
thành viên trong xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước có vai trò, nghĩa vụ tổ
chức quyền lực và vận hành xã hội sao cho bảo đảm tất cả những quyền trên
13
được thực hiện. Trên cơ sở cách tiếp cận này, hiện nay có nhiều quan điểm đưa
ra khái niệm nhà nước pháp quyền tương đối gần nhau:
Theo giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật
trực thuộc ĐHQGHN thì Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà
nước với sự phân công lao động khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có
tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người
[43, tr.174]. Tuy khái niệm này đã đề cập đến phương thức tổ chức quyền lực
Nhà nước và nhấn mạnh yếu tố pháp luật nhưng yếu tố “quyền” chưa thể hiện
một cách rõ nét.
Theo TS. Ngô Huy Cương, khác với pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhà nước
pháp quyền là một khái niệm chính trị - pháp lý đòi hỏi phải tuân thủ luật tự
nhiên và thiết lập một cơ chế nhằm bảo vệ các quyền tự nhiên của con người [25,
tr.64]. Nhà nước pháp quyền là nhà nước dân chủ đối lập hoàn toàn với nhà nước
pháp trị, chuyên chế độc tài. Trong nhà nước pháp quyền, người ta đề cao luật tự
nhiên và phản ánh nó vào Hiến pháp, đồng thời phân chia quyền lực để kiềm chế
chính quyền, bảo vệ con người.
Tóm lại, khái niệm nhà nước pháp quyền vừa phải đảm bảo được tính tổng
quát, chặt chẽ rõ ràng vừa phải đảm bảo đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng chủ yếu
thể hiện rõ các nguyên tắc cơ bản được thừa nhận chung của Nhà nước pháp
quyền. Trên cơ sở này, tác giả cho rằng khái niệm Nhà nước pháp quyền có thể
được đưa ra như sau: Nhà nước pháp quyền là một phương thức tổ chức và vận
hành xã hội trên cơ sở các quyền. Các quyền này được phân định và tổ chức sao
được trao cho vua thay trời trị vì hạ giới và chăn dắt dân lành. Quyền lực nhà
nước là tài sản riêng của Vua và tồn tại vĩnh viễn như một thiên mệnh. Quyền
15
lực nhà nước là từ bên trên, bên ngoài nhân dân. Quyền lực cá nhân và hoàng tộc
là cái chi phối vua chứ không phải quyền lực của nhân dân.
Có quan điểm cho rằng quyền lực nhà nước bắt nguồn từ đạo đức hay từ
lý trí tối cao áp đặt cho con người và xã hội, quyền lực nhà nước thuộc về một
hay một nhóm người trong xã hội. Những người cai trị này tự cho mình là những
bậc tài trí, anh minh hơn người, thuộc một đẳng cấp khác với mọi công dân khác
trong xã hội nên có quyền được đứng trên mọi người.
Ngược lại, có quan điểm cho rằng quyền lực nhà nước là của nhân dân, chỉ
có nhân dân mới là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực đó. Chỉ có nhân
dân với ý chí chung của mình liên hiệp lại và lập nên nhà nước. Tính cách mạng
của quan điểm này là nhân dân có quyền lựa chọn nhà nước, lựa chọn các đại
biểu của mình tham gia công việc của nhà nước. Thực hiện khế ước xã hội là
phương thức mới tạo lập nên nhà nước. Khi nhà nước không đáp ứng được yêu
cầu của nhân dân, thì nhân dân có quyền thay thế nhà nước ấy bằng một nhà
nước khác. Nhà nước pháp quyền là nhà nước dân chủ, trong đó mỗi thành viên
đều đạt được mục đích sống của mình và được bảo vệ chắc chắn nhất. Nói một
cách khác, trong nhà nước pháp quyền, nhân dân đều có quyền quyết định, tham
gia một cách thực chất vào quy trình ra quyết định hay thiết kế chính sách của
nhà nước.
Khái niệm dân chủ tuy xuất hiện rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại, nhưng nó
là một thứ dân chủ còn rất nhiều khiếm khuyết. Đó là nền dân chủ Hy Lạp được
tạo ra bởi các thành bang với số dân cư ít, nền dân chủ La Mã cổ đại mà đại diện
là những tầng lớp giàu có, dựa chủ yếu vào chế độ nô lệ và cướp bóc thuộc địa.
Sau cuộc cách mạng Tư sản, xuất hiện nền dân chủ tư sản và dân chủ XHCN.
Tuy nhiên, trên thực tế đó mới chỉ là nền dân chủ hạn chế, hình thức. Để có một
nền dân chủ thực sự, lâu nay người ta vẫn đang mải miết tìm ra các cơ chế bảo
17
người không phải là thiên thần, nếu như con người chúng ta là những thiên thần
thì khỏi cần đến Bộ máy Nhà nước và điều ngược lại, nếu chính phủ là thần
thánh, thì cũng khỏi cần phải quy định các cách thức phải hoạt động theo một thể
thức nhất định tức là bản Hiến pháp như ngày nay [26, tr.215]. Nhà nước pháp
quyền thể hiện tính dân chủ, tính quy luật cần phải tiến tới của nhân loại, chính
sự giới hạn quyền lực nhà nước là một trong những đòi hỏi của Nhà nước pháp
quyền. Vậy cơ chế nào cho sự giới hạn quyền lực nhà nước? Sau đây là các
phương thức giới hạn quyền lực nhà nước:
- Một là, quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật
Tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân, quyền con người là giá trị của
mọi giá trị trong tư tưởng về nhà nước pháp quyền. Một trong những yêu cầu
đầu tiên của nhà nước pháp quyền là sự bảo đảm các quyền cơ bản của con
người như: Tự do, bình đẳng, phẩm giá con người, những hình thức thể hiện
khác nhau của việc bảo đảm nhân quyền và bảo đảm những yếu tố truyền thống
của Nhà nước pháp quyền [35, tr.51].
Với sự ra đời của học thuyết về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp
quyền tư sản trong hiện thực, lần đầu tiên trong lịch sử loài người đã bước từ địa
vị nô lệ trong xã hội thần dân sang địa vị công dân trong xã hội công dân. Công
dân trong mối quan hệ với Nhà nước pháp quyền là con người mà các quyền cơ
bản, thiêng liêng như quyền sống, tự do, bình đẳng, mưu cầu hành phúc, sở hữu
tài sản… được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật. Mỗi cá nhân có thể phát triển
bình đẳng và tự do trước pháp luật, có đủ cơ hội pháp lý để phát huy mọi khả
năng của mình.
Phương thức hạn chế quyền lực nhà nước là quyền con người được quy
định và đảm bảo trong Hiến pháp để có thể bất cứ lúc nào mọi hành động của
quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) cũng phải đối chiếu với thể
chế chính trị đó và được tôn trọng hơn, tránh việc thi hành quyền lực nhà nước
18
rằng nhà nước pháp quyền chính là nhà nước mà quyền lực của nó bị giới hạn để
đảm bảo các quyền và tự do của công dân. Để đảm bảo được sự giới hạn quyền
lực nhà nước, các nhà tư tưởng lập hiến đều coi trọng đến việc phân quyền và
kiểm soát quyền lực nhà nước và coi đó là một trong những nhân tố không thể
thiếu của Nhà nước pháp quyền.
Montesquieu đã khẳng định: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập
lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão, thì sẽ không có gì là tự do
nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt những luật độc tài để
thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không
tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền
lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân,
quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền hành
pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp” [40].
Theo học thuyết phân quyền, quyền lực nhà nước được phân chia thành
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội,
quyền hành pháp được trao cho Chính phủ và quyền tư pháp được trao cho Tòa
án. Quyền lập pháp là quyền thể hiện ý chí chung của mọi công dân trong xã hội,
được thể hiện qua chế độ làm việc và quyết định tập thể của Quốc hội. Quyền
hành pháp là quyền thực hiện ý chí chung của Quốc hội hay nói một cách khác
chức năng của Chính phủ là thực hiện pháp luật trong quản lý Quốc gia. Quyền
này đòi hỏi sự quyết đoán, nhanh nhạy và tập trung cao. Quyền xét xử thuộc về
Tòa án. Chức năng của cơ quan này là xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp,
pháp luật từ phía công dân và nhà nước, bảo vệ công lý, tự do công dân và trật tự
- an toàn xã hội.
Trong các ngành quyền lực nhà nước, lập pháp được coi là một ngành có
nguy cơ xâm phạm đến quyền tự do của con người nhiều nhất, bởi cơ quan này
20
vừa có quyền điều chỉnh lại vừa có quyền kiểm soát hành vi của rất nhiều người
trong xã hội thông qua việc ban hành luật. Còn ngành hành pháp không những
Như vậy, phân quyền là để đảm bảo cho nhà nước và nền dân chủ không
bị tiêu diệt, chứ không phải là để thỏa hiệp hay chia quyền giữa các lực lượng xã
hội đối lập nhau và khi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì phân quyền
chính là sự phân công thực hiện quyền lực nhà nước. Trong Nhà nước pháp
quyền, các cơ quan quyền lực nhà nước không chỉ phải hoạt động trong khuôn
khổ pháp luật mà còn bị giới hạn bởi pháp luật. Pháp luật không chỉ là cái mà
các cơ quan quyền lực nhà nước phải tuân thủ mà còn là phương tiện để hạn chế
chính quyền. Do đó, nhà nước pháp quyền là nhà nước mà quyền lực của nó
được giới hạn để tránh việc xâm phạm các quyền và tự do của công dân.
- Ba là, các chức danh quan trọng của nhà nước phải được nhân dân tín
nhiệm, mọi quyết sách của nhà nước phải được công khai, minh bạch.
Bầu cử là một trong những biện pháp quan trọng nhất thể hiện sự tín
nhiệm của nhân dân trong việc thành lập ra bộ máy nhà nước, cho phép nhân dân
tham gia vào việc điều hành đất nước, nó phải được ghi nhận trong Hiến pháp và
pháp luật. Quyền lực của nhà nước chỉ xuất phát từ sự bỏ phiếu đồng ý của nhân
dân. Qua hình thức bầu cử, nhân dân có thể chọn người đại diện mà mình tín
nhiệm tham gia vào bộ máy nhà nước để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Do đó, bầu cử chính là hình thức thể hiện nguồn gốc và bản chất dân chủ
của nhà nước, thể hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Ở bất cứ nền dân
chủ nào khác, sự đảm bảo quan trọng nhất về trách nhiệm của quyền là các công
dân có quyền kiểm soát chính phủ của mình thông qua bầu cử.
Bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm đại biểu và các chức danh khác của cơ quan
nhà nước chính là sự hạn chế quyền lực nhà nước. Khi các đại biểu và những
người đảm nhiệm các chức danh khác trong cơ quan nhà nước được nhân dân
22
bầu ra luôn phải chịu sự giám sát của nhân dân, bị nhân dân bãi miễn nếu không
được nhân dân tín nhiệm.
Tuy nhiên, để nhân dân có thể chọn được người xứng đáng và tin cậy giao
trọng trách nắm giữ quyền lực nhà nước thì tất cả các chức danh quan trọng của
nhận trong Hiến pháp và pháp luật.
1.1.2.3. Nhà nước pháp quyền đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và
pháp luật
Đây là đặc trưng quan trọng và làm cho Nhà nước pháp quyền trở thành
nhà nước khác biệt so với các nhà nước khác. Với sự ra đời của tư tưởng về Nhà
nước pháp quyền, mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật có sự thay đổi căn
bản. Pháp luật giữ vai trò thống trị không chỉ đối với xã hội mà còn đối với chính
bản thân nhà nước. Đây là sự kết hợp giữa hệ thống quyền lực với hệ thống các
quy tắc xử sự trong xã hội. Khác với nhà nước pháp trị trong lịch sử, pháp luật
của Nhà nước pháp quyền trở thành công cụ chế ước, quy định, kiểm tra, giám
sát tổ chức và phương thức hoạt động của nhà nước. Nhà nước pháp quyền tự đặt
mình dưới pháp luật chứ không phải đứng trên và ngoài pháp luật. Pháp luật
không chỉ là công cụ để duy trì và phát triển xã hội mà còn là công cụ để duy trì
sự tồn tại của chính nhà nước. Chức năng và quyền hạn của nhà nước được giới
hạn trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc hợp hiến, hợp pháp và
chế độ trách nhiệm pháp lý là những yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp
quyền. Nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, còn công dân được
làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Nếu vượt quá giới hạn pháp luật, nhà
nước sẽ trở thành độc tài, chuyên chế, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân,
cướp đi tự do của công dân. Như vậy, nhà nước và công dân đều có quyền và
nghĩa vụ trước pháp luật.
24
Tuy nhiên, nếu chỉ đề cao vai trò, vị trí, tính tối cao của Hiến pháp và pháp
luật không thôi thì nó cũng chẳng phân biệt được gì so với pháp luật cai trị của
các nhà nước khác trong lịch sử. Cái làm cho Hiến pháp và pháp luật của Nhà
nước pháp quyền có tính tối cao và trở thành linh hồn của Nhà nước pháp quyền,
khác với các nhà nước khác trong lịch sử, là ở chỗ bản chất, nội dung và phương
thức hình thành của nó.
Pháp luật của các nhà nước độc tài, chuyên chế là thứ pháp luật độc tài, do