đại học quốc gia hà nội
khoa luật
trịnh ph-ơng thảo xây dựng các cơ chế nhà n-ớc bảo vệ hiến pháp
ở n-ớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2011
1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHU CẦU BẢO VỆ HIẾN PHÁP VÀ BẢO HIẾN TRÊN
THẾ GIỚI
8
1.1.
Hiến pháp và vi phạm Hiến pháp
8
1.1.1.
Hiến pháp
8
1.1.2.
Vi phạm Hiến pháp
Nguyên tắc thực hiện hoạt động bảo hiến của cơ chế nhà
nước bảo vệ Hiến pháp Việt Nam
44
2.3.2.
Vai trò của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp Việt Nam
45
2
2.3.3.
Thực trạng hoạt động của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp
Việt Nam
49
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN CƠ CHẾ
NHÀ NƯỚC BẢO VỆ HIẾN PHÁP VIỆT NAM
67
3.1.
Nhu cầu khách quan cần hoàn thiện hiến pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động bảo hiến
67
3.2.
Phương hướng hoàn thiện cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp
70
3.3.
Các giải pháp xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhà nước bảo
vệ Hiến pháp Việt Nam
74
KẾT LUẬN
83
thường dựa trên tiêu chí Hiến pháp của quốc gia đó được bảo vệ ở mức độ
nào. Mức độ được bảo vệ và tôn trọng của Hiến pháp cho phép chúng ta sơ bộ
nhận định được về tình trạng bảo vệ và thực thi các quyền con người, quyền
công dân của một quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc bất cứ quốc gia nào
2
muốn tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền phải chú trọng và không được
coi nhẹ vấn đề bảo vệ Hiến pháp ở đất nước mình.
Trong pháp luật nước ta, từ lâu đã có các cơ chế bảo đảm thực thi và
bảo vệ Hiến pháp với những tính chất, mức độ và cách thức khác nhau. Trong
đó, cơ chế bảo vệ hiến pháp có tính chất Nhà nước do các cơ quan nhà nước
khác nhau thực hiện như: Chủ tịch nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chính
phủ, Ủy ban nhân dân, Tòa án, Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bảo vệ hiến pháp
bằng các thiết chế có tính chuyên môn hay chuyên trách (Toà án hiến pháp,
Hội đồng bảo hiến ) mới là sự thể hiện rõ rệt về tính chất pháp quyền của
nhà nước. Song, tính cho đến thời điểm hiện nay, một cơ chế nhà nước bảo vệ
Hiến pháp có tính chuyên môn hay chuyên trách vẫn chưa được tổ chức ở
nước ta. Trong khi đó vấn đề bảo hiến hiện nay đang là trọng tâm thu hút sự
chú ý từ nhiều phía, không chỉ trong phạm vi nước ta. Đòi hỏi phải nâng cao
và phát huy hơn nữa vai trò của các cơ chế nhà nước trong vấn đề bảo vệ Hiến
pháp đang đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết kể từ khi chúng ta quyết định xây
dựng một nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam. Muốn làm được điều đó, chúng ta cần phải khắc phục những điểm hạn
chế còn tồn tại trong quá trình bảo vệ Hiến pháp mà các cơ chế nhà nước bảo
hiến hiện nay chưa đáp ứng được, song song với điều đó cần phải kiện toàn
lại tổ chức và hoạt động của các cơ chế nhà nước bảo hiến sao cho phù hợp
với những thay đổi trong điều kiện kinh tế - chính trị và xã hội của nước ta.
Bên cạnh đó, Đảng ta đã xác định một hướng bảo vệ Hiến pháp hết
sức mới mẻ nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc tôn trọng và thực thi Hiến pháp
nước ta đó là: "Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp
nay" của PGS.TS. Trương Đắc Linh (báo cáo Hội thảo quốc tế về giám sát
Hiến pháp năm 2007), "Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân" của PGS.TS.
Lê Minh Thông trong kỷ yếu hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành
và phát triển", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2006, "Những vấn đề lý
4
luận cơ bản về thiết chế bảo hiến" và "Những vấn đề cơ bản trong xây dựng
định chế bảo hiến ở nước ta" của PGS.TS. Vũ Thư, Tạp chí Tòa án nhân dân
số 5 năm 2006, số 7 năm 2007… Bên cạnh đó có một số công trình được biên
soạn dưới dạng sách tham khảo đã bước đầu cung cấp thông tin cho người
đọc về kinh nghiệm và nền tài phán Hiến pháp của nước ngoài. Trong số này
có thể kể đến: TS. Nguyễn Sĩ Dũng (chủ biên), Quyền giám sát của Quốc hội-
Nội dung và thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội,
2004; Ban công tác lập pháp - Đặng Văn Chiến (chủ biên), Cơ chế bảo hiến,
Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, 2005… Và gần đây là đề tài nghiên cứu cấp bộ
về "Tài phán Hiến pháp- một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế
và khả năng áp dụng cho Việt Nam" do PGS.TS. Nguyễn Như Phát (Viện
trưởng Viện Nhà nước&pháp luật) chủ nhiệm đã phần nào đi sâu vào nghiên
cứu một cách cơ bản và có hệ thống về vai trò của tài phán hiến pháp đối với
việc duy trì và bảo vệ chế độ Nhà nước và nền dân chủ, xu hướng phát triển
của chúng trong thế giới đương đại và đặc biệt là về mô hình lý luận cho việc
xây dựng tài phán hiến pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình, các nhà khoa học
tập trung tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề lý luận xung quanh các cơ chế nhà
nước bảo hiến ở nước ta, đồng thời xem xét chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp qua các thời kỳ, và đặt trong bối cảnh
xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Kết quả nghiên cứu của các nhà
khoa học đã thể hiện sinh động và hiện thực về thực trạng tổ chức và hoạt
động của cơ chế nhà nước trong việc bảo vệ Hiến pháp, những bất cập, hạn
chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng
cường hiệu quả hoạt động của cơ chế bảo hiến ở nước ta.
4. Giới hạn của luận văn
Phạm vi của luận văn này tương đối rộng, do đề cập đến thẩm quyền,
chức năng, nhiệm vụ của nhiều cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ Hiến pháp,
6
thể hiện ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh thuộc nhiều lĩnh vực, không cho phép chúng
ta đi vào tìm hiểu sâu hay đề cập hết các khía cạnh, các mức độ thực thi chức
trách, nhiệm vụ bảo hiến được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật nước ta.
Trong khuôn khổ luận văn này, luận văn chỉ tập trung vào một số nội
dung cơ bản như: phân tích nhu cầu bảo vệ Hiến pháp, khái niệm, vị trí, vai
trò của cơ chế nhà nước về bảo vệ Hiến pháp, trong đó chủ yếu đề cập đến
hoạt động kiểm tra, giám sát Hiến pháp do các cơ quan nhà nước bảo hiến
thực hiện, phân tích những hạn chế, thiếu sót trong quá trình thực thi trách
nhiệm bảo hiến của các cơ quan nhà nước, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật, nâng cao hơn nữa vai trò bảo hiến của cơ chế nhà nước
bảo vệ Hiến pháp, đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện
cơ chế bảo hiến nước ta, đáp ứng yêu cầu mà bối cảnh xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa đưa lại.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận mà luận văn sử dụng để thực hiện đề tài nghiên cứu này
là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về nhà nước pháp quyền, về vấn đề
bảo vệ Hiến pháp, về đường lối đổi mới đất nước được thể hiện trong các
Nghị quyết Đại hội Đảng và các Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương Đảng, Hiến pháp và văn bản Pháp luật của Nhà nước.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để hoàn thành đề tài luận văn
này là đi từ bản chất đến cụ thể, từ thực tiễn khách quan đến cái chung và cái
riêng. Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của Triết học Mác -
1.1. Hiến pháp và vi phạm Hiến pháp
1.1.1. Hiến pháp
Trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, Hiến pháp là đạo luật gốc, là
nguồn của các văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực pháp lý cao nhất, cần
phải được tôn trọng và bảo vệ nghiêm ngặt. Về vị trí, Hiến pháp là đạo luật
gốc, luật mẹ, là nguồn của các văn bản quy phạm khác trong hệ thống pháp
luật, Hiến pháp chi phối nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật dưới
nó. Các văn bản quy phạm pháp luật khác đều dựa trên cơ sở Hiến pháp và
phải phù hợp với Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp. Vì vậy, muốn
xác định một hành vi là vi phạm Hiến pháp hay kết luận tính hợp hiến của
một văn bản quy phạm pháp luật chúng ta phải đối chiếu chúng với các quy
định của Hiến pháp. Nói cách khác, Hiến pháp phải được viện dẫn khi giải
quyết các tranh chấp và phán quyết về các vi phạm Hiến pháp.
Về chủ thể của các quan hệ do Hiến pháp điều chỉnh: Phần lớn Hiến
pháp quy định về tổ chức, hoạt động của Nhà nước và xác định quyền và
nghĩa vụ của công dân. Do vậy, chủ thể của vi phạm Hiến pháp có thể là các
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được nhà nước trao quyền (chẳng hạn như Chủ
tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng ).
Về nội dung, Hiến pháp quy định những chế định lớn như chủ quyền
quốc gia, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị và vấn đề tổ
chức quyền lực nhà nước, vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chế
độ kinh tế, văn hóa, giáo dục Những nội dung cơ bản trên của Hiến pháp là
cơ sở pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực nhà nước, bảo đảm cho
quyền làm chủ của nhân dân. Đồng thời, đó cũng là nền tảng pháp lý quan
9
trọng để đánh giá, xem xét về tính hợp hiến của các đạo luật, các hoạt động do
cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền và các tổ
chức xã hội. Hiến pháp có ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, nhưng thực tế
Mặc dù vậy, với vị trí, tính chất và tầm quan trọng đặc biệt của Hiến pháp, ta
không thể đánh giá vi phạm Hiến pháp như vi phạm pháp luật thông thường,
hay nói cách khác, vi phạm Hiến pháp là một loại vi phạm pháp luật đặc biệt.
Vì thế, khi kết luận về tính hợp hiến hay vi hiến của một hành vi chúng ta cần
phải dựa vào các dấu hiệu như sau:
Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể. Chủ thể của vi phạm
Hiến pháp là các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao
quyền, trong trường hợp này năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi
phạm Hiến pháp được xem xét tương tự như chủ thể vi phạm pháp luật.
Tính trái Hiến pháp của hành vi: Một hành vi bị xem là trái Hiến pháp
khi nó không tuân theo những quy định của Hiến pháp, xâm hại những quan
hệ được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ.
Yếu tố lỗi: Chủ thể vi phạm Hiến pháp có thể là cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân được Nhà nước trao quyền thẩm quyền, nên việc xác định yếu tố lỗi
không đơn giản. Hiện nay, đang có đề xuất, nếu công dân bị truy cứu trách
nhiệm pháp lý vì hành vi vi phạm pháp luật của mình thì tương tự như vậy,
các cá nhân được nhà nước trao quyền cũng phải bị truy cứu trách nhiệm Hiến
pháp nếu bản thân họ vi phạm Hiến pháp, hoặc do thiếu trách nhiệm dẫn đến
cấp dưới hoặc cơ quan do mình quản lý vi phạm Hiến pháp.
Là một dạng đặc biệt của vi phạp pháp luật, vi phạm Hiến pháp(hay
còn gọi là vi hiến) cũng thể hiện dưới dạng hành động và không hành động.
Trên cơ sở đó, vi phạm Hiến pháp và vi phạm các quy định của những văn
bản quy phạm pháp luật mang tính Hiến định có thể tạm chia thành hai loại:
"vi phạm một cách chủ động và vi phạm một cách bị động" [17]. Vi phạm
Hiến pháp một cách chủ động xảy ra khá thường xuyên, khi các cơ quan nhà
11
nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung
trái với các quy định của Hiến pháp hoặc trái với tinh thần của Hiến pháp. Sở
dĩ như vậy, bởi các cơ quan ban hành ra các văn bản quy phạm vi hiến này đa
dù hậu quả mà những vi phạm Hiến pháp loại này để lại cũng rất nghiêm
trọng. Bởi những kẽ hở pháp lý được tạo ra khi các văn bản quy phạm pháp
luật không được ban hành để điều chỉnh kịp thời là cơ sở cho những hành vi
xâm hại đến quyền, lợi ích của công dân, của xã hội được thực hiện mà không
bị xử lý, hay đến khi phát hiện ra thì hậu quả để lại đã quá lớn, không thể
khắc phục được. Trên thực tế, nếu căn cứ theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp
năm 1992 sửa đổi năm 2001, thì cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự
tín nhiệm của nhân dân. Nhưng nếu chỉ với quy định như vậy, thì cử tri khó
lòng thực hiện được quyền bãi nhiệm đối với đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng nhân dân, thậm chí cho tới thời điểm hiện tại, không có bất cứ quy
định nào hướng dẫn cụ thể vấn đề đó. Điều đó đã hạn chế quyền lợi của cử tri,
vì không có những quy định chi tiết, cụ thể về trình tự, thủ tục bãi nhiệm đại
biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nên cử tri mặc dù không còn đặt
niềm tin vào các đại biểu dân cử của mình, cũng không cách nào thực hiện
quyền bãi nhiệm đối với họ. Trong trường hợp này, việc các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đã không ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về quyền hạn bãi nhiệm các đại biểu
dân cử của cử tri, được xem là vi phạm Hiến pháp. Vô hình trung, họ đã hạn
chế quyền lợi hợp pháp của cử tri đã được ghi nhận trong Hiến pháp.
1.2. Bảo hiến và các mô hình bảo hiến trên thế giới
1.2.1. Bảo hiến
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm về bảo hiến. Có người cho
rằng "bảo hiến(bảo vệ Hiến pháp) là tổng hợp các biện pháp giữ gìn, chống
lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của hiến pháp"[3, tr.17]. Bảo hiến
ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, quan điểm này đã đồng nhất giữa bảo vệ
Hiến pháp và bảo đảm Hiến pháp.
13
Theo quan điểm khác, bảo hiến lại được hiểu là "hoạt động của chủ
Hiến pháp được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền, được Hiến pháp
trao cho trọng trách bảo vệ Hiến pháp, vì vậy, không đi sâu vào phân tích hoạt
động bảo hiến do cơ chế xã hội thực hiện.
Xuất phát từ một thực tế là thi hành Hiến pháp không thể tránh khỏi vi
phạm Hiến pháp, bảo hiến là một nhu cầu tất yếu khách quan, cần phải thực
hiện nghiêm chỉnh, triệt để. Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nếu đã có cho
riêng mình một bản Hiến pháp, dù thành văn hay bất thành văn cũng đều phải
nghĩ tới vấn đề bảo vệ Hiến pháp. Mặt khác, Hiến pháp giữ vị trí, vai trò quan
trọng đặc biệt trong xã hội, nó đứng trên các thiết chế như nhà nước, xã hội,
đồng thời nó là nền tảng pháp lý và chính trị căn bản để từ xã hội tổ chức nên
Nhà nước, là cơ sở để xác lập và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, xác
lập và tổ chức mối quan hệ giữa Nhà nước - xã hội và công dân…Từ đó, có
thể nói, Hiến pháp là công cụ để phân chia và giới hạn các quyền lực chính trị
trong đó chủ yếu là quyền lực nhà nước. Trong khi việc tổ chức quyền lực nhà
nước cũng là một trong những nội dung căn bản của nhà nước pháp quyền,
nên nhu cầu bảo vệ Hiến pháp cũng xuất phát từ mục tiêu xây dựng và bảo vệ
nhà nước pháp quyền.
Khi nói đến vấn đề bảo hiến, không thể không nhắc đến chủ nghĩa hợp
hiến phương tây, đây là nền tảng căn bản cho sự hình thành chế độ tài phán
hiến pháp. Vì bản chất của chủ nghĩa hợp hiến là sự giới hạn pháp lý đối với
công quyền, nên nó trở thành cảm hứng để thông qua đó người ta tìm ra các
biện pháp nhằm hạn chế quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân. Trong đó, đòi hỏi trước hết của chủ nghĩa hợp hiến là tổ chức và
điều hành của chính quyền phải tuân theo các quy định của Hiến pháp, nhưng
có Hiến pháp không có nghĩa là có chủ nghĩa hợp hiến. Bản Hiến pháp phải
chứa đựng những quy định nhằm hạn chế bớt quyền lực của chính quyền, điều
chỉnh hoạt động của chính quyền theo hướng bảo vệ quyền con người, quyền
công dân mới là chủ nghĩa hợp hiến tự do. Chính vì vậy, để giới hạn được
quyền lực nhà nước, bắt buộc Hiến pháp phải được đứng ở vị trí cao nhất trong
16
của pháp luật thuộc về nghiệp vụ mang tính pháp lý, từ đó phát sinh quan
niệm trao trọng trách bảo hiến cho cơ quan tư pháp. Quyền lực nhà nước được
chia thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó, lập pháp và
hành pháp là hai lĩnh vực dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, đặc biệt là quyền
lực hành pháp, nên dễ dàng xâm phạm đến các quyền con người và quyền
công dân. Nhưng tư pháp với đặc thù là đại diện cho công lý để bảo vệ cho
những quyền tự nhiên vốn có của con người, nên tư pháp trở thành công cụ
hữu hiệu để kiểm soát tính hợp hiến và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
con người và công dân. Bên cạnh đó, với việc tổ chức quyền lực nhà nước
theo nguyên tắc phân quyền, việc lựa chọn tư pháp- một ngành quyền lực có
những khác biệt với ngành lập pháp và hành pháp, để trao trọng trách bảo
hiến là hợp lý, điều này đảm bảo cho hoạt động bảo hiến diễn ra một cách
khách quan. Vì chẳng cơ quan nào hay cá nhân nào muốn tự mình phán xử
hay bãi bỏ một đạo luật hay văn bản pháp quy do mình ban hành khi văn bản
đó chứa đựng nội dung vi hiến, trong khi tòa án có thừa khả năng để vô hiệu
hóa những văn bản vi hiến đó. Chính vì thế, mô hình tài phán hiến pháp hiện
nay được hầu hết các quốc gia trên thế giới lựa chọn là mô hình Tòa án hiến
pháp-dùng tư pháp để kiềm chế và kiểm soát quyền lực lập pháp và quyền lực
hành pháp. Theo đó, các quốc gia trên thế giới đều dựa vào quyền lực tư pháp
để buộc các cơ quan hành pháp cũng như lập pháp phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật đối với mọi hoạt động do cac cơ quan này thực hiện và buộc
họ trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải
triệt để tuân thủ các quy định của Hiến pháp.
Theo PGS.TS Nguyễn Như Phát, tư tưởng tài phán hiến pháp bắt
nguồn từ lịch sử phát triển của Châu Âu và Bắc Mỹ. Nhưng sự phát triển của
tài phán hiến pháp trên thế giới được ghi dấu ấn đặc biệt từ nửa sau của thế kỷ
20 gắn liền với sự hình thành và phát triển của các thể chế tòa án hiến pháp ở
nhiều quốc gia và khu vực. Hiện nay, khi nghiên cứu về lịch sử hình thành và
hiến pháp nói riêng và bảo hiến nói chung trên thế giới mang đậm dấu ấn của
tài phán hiến pháp Áo. Được thành lập vào năm 1920, tòa án hiến pháp Áo đã
18
mang lại ảnh hưởng to lớn đến hầu khắp các quốc gia Châu Âu. Mô hình bảo
hiến này đã được vận dụng để kiểm tra tính hợp hiến ở Tschechoslowakei
(năm 1920), Liechtenstein (5/11-1925), Hy Lạp (1927), Ai Cập (1941) và Tây
Ban Nha (1931) và Ai-len (1937). Song, do bùng nổ chiến tranh thế giới thứ
hai, việc mở rộng hoạt động kiểm hiến đã không thực hiện được, đồng thời
trong khoảng thời gian này, các thể chế đã được thành lập trên thực tế không
còn hoạt động. Bắt đầu từ năm 1933 đến năm 1945 hoạt động kiểm tra tính
hợp hiến đã không còn được tiến hành ở Áo, trong khi đó, tương tự như vậy,
ở Séc, hoạt động bảo hiến đã dừng lại kể từ sau 1938.
Giai đoạn III: Sự phát triển của tài phán hiến pháp sau chiến tranh thế
giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ XX. Đây là giai đoạn ghi nhận sự
phát triển mạnh mẽ của nền tài phán hiến pháp thế giới và kéo dài cho đến tận
ngày nay. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa
phát xít trên toàn thế giới, mở ra một chương mới trong lịch sử hình thành và
phát triển của nền tài phán hiến pháp nói riêng và lịch sử bảo hiến thế giới nói
chung. Nhân loại đã tiến thêm một bước về mặt nhận thức khi quan niệm việc
kiểm tra tính phù hợp với hiến pháp là dấu hiệu của dân chủ. Mặt khác, xuất
phát từ lý do chính trị, hoạt động kiểm tra tính hợp hiến được nhìn nhận một
cách tích cực hơn do nó là một công cụ hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà
nước, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn hiệu lực
tối cao của Hiến pháp. Với những ưu điểm như vậy, cơ chế bảo hiến đã được
tổ chức ở nhiều quốc gia trên thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
như Braxin (năm 1946), Nhật Bản (1947), Burma / Miến Điện (1947), Thái
Lan (1949), Cộng hòa Liên bang Đức (1949), Ấn Độ (1949), Pháp (1958),
Luxemburg, Sy Ri (1950) và Uruguay (1952). Đặc biệt, ở Pháp, trọng trách
bảo hiến được trao cho Hội đồng bảo hiến, đây không phải là mô hình tòa án
đạo luật của Quốc hội ban hành đem lại" [16].
Hiện nay, có thể nói, nền tài phán hiến pháp đã phát triển ở hầu khắp
các quốc gia trên thế giới. Ở đâu có Hiến pháp, tất yếu ở đó phát sinh nhu cầu
20
bảo vệ Hiến pháp, và đương nhiên, điều này đồng nghĩa với việc xuất hiện tài
phán hiến pháp. Trong thế giới hiện đại ngày nay, quyền con người, quyền tự
do, dân chủ của công dân ngày càng được đề cao, chú trọng và quan tâm, đây
là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tài phán hiến pháp. Thậm chí, ngay
cả những quốc gia vẫn còn nhập nhằng trong việc phân định quyền lực nhà
nước cũng đã nghĩ tới việc tổ chức một cơ chế bảo hiến chuyên trách, đây
được xem là một tín hiệu tích cực cho chế độ bảo hiến trên thế giới, qua đó
cho thấy nhận thức của con người đối với tầm quan trọng của việc bảo hiến
cũng vấn đề như quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân đã có
sự cải thiện và chuyển biến rõ rệt theo chiều hướng tốt.
1.2.2. Các mô hình bảo hiến trên thế giới
Mặc dù đều sử dụng tư pháp để kiểm soát đối với lập pháp và hành
pháp nhưng ở mỗi quốc gia khác nhau lại sử dụng mô hình bảo hiến phù hợp
với đặc thù chính trị - xã hội - pháp lý riêng của mình. Trên thế giới hiện nay
có những mô hình bảo hiến sau đây:
Thứ nhất, là mô hình bảo hiến phi tập trung, hay còn gọi là mô hình
tài phán hiến pháp kiểu Mỹ. Theo đó, mô hình này không được tổ chức thành
một thiết chế chuyên biệt, mà trọng trách bảo vệ Hiến pháp được trao cho tòa
án, hay nói cách khác, tòa án kiêm luôn chức năng bảo hiến. Ở Mỹ, bảo vệ
Hiến pháp chỉ là một trong các chức năng của hệ thống tòa án, như vậy,
quyền tài phán hiến pháp được tập trung cho hệ thống tòa án- cơ quan nắm
quyền lực tư pháp, nhưng đồng thời sự tập trung này cũng chỉ mang tính
tương đối vì không chỉ tòa án tối cao liên bang mà tất cả các tòa án trong hệ
thống tòa án liên bang đều có thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của tất cả các
đạo luật. Mô hình bảo hiến kiểu Mỹ cũng có những đòi hỏi rất khắt khe khi
pháp lý cụ thể của quốc gia mình mà tổ chức tòa án hiến pháp phù hợp. Ngoài
Đức và Áo, Pháp, Bỉ Hy Lạp, I-ta-li-a, Liechtenstein, Tây Ban Nha, Ba Lan,
Thổ Nhĩ Kỳ, Hung- ga- ri, Séc và Nga cũng là những quốc gia có cơ quan tài
phán hiến pháp được tổ chức một cách độc lập. Không những thế, các nước