ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** TRẦN VĂN DƯƠNG
XÂY DỰNG CƠ QUAN TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong số các quyền cơ bản của con người về chính trị, kinh tế, xã hội
thì quyền khiếu nại có vị trí quan trọng và liên quan chặt chẽ tới các quyền cơ
bản khác. Nghiên cứu lịch sử dân tộc ta cho thấy, các triều đại phong kiến
hưng thịnh trước đây đều chú ý tới việc đảm bảo cho người dân thực hiện
quyền khiếu nại. Phát huy truyền thống đó, ngay từ những ngày đầu giành độc
lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 64-SL ngày 23/11/1945 thành lập
Ban Thanh tra đặc biệt, trong đó Điều 2 của Sắc lệnh quy định rõ một trong
những nhiệm vụ của Ban Thanh tra là tiếp nhận các đơn khiếu nại của nhân
dân. Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, quyền khiếu nại đã sớm
được ghi nhận tại Hiến pháp và trở thành một trong những quyền cơ bản của công
dân. Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoặc
bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước
xem xét, giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định[21, tr.218].
Thực hiện quyền khiếu nại là phương thức để nhân dân giám sát và
tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước. Việc giải quyết khiếu nại
nói chung và khiếu nại hành chính nói riêng là bảo đảm quyền dân chủ của nhân
dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phòng chống các hành
vi tham nhũng, tiêu cực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc giải quyết
có hiệu quả các khiếu nại. Vì thế, những năm qua, công tác giải quyết khiếu
nại đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều văn bản pháp luật được ban hành
đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền
2
định và hành vi hành chính trái pháp luật đều được phát hiện và có
thể bị khởi kiện trước toà án; đổi mới thủ tục giải quyết khiếu nại,
tố cáo và thủ tục giải quyết các vụ án hành chính theo hướng công
khai, đơn giản, thuận lợi cho dân, đồng thời bảo đảm tính thông
suốt, hiệu quả của quản lý hành chính [14]
Bên cạnh đó, để đẩy mạnh việc phát triển kinh tế, thời gian qua Đảng
và Nhà nước đã có nhiều chủ trương lớn về hội nhập kinh tế quốc tế. Theo
tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX thì chúng ta cần triển khai khẩn
trương và đồng bộ việc chuẩn bị đủ điều kiện để giành thế chủ động trong hội
nhập, nhất là sửa đổi và xây dựng mới các văn bản pháp luật phù hợp với yêu
cầu hội nhập và thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, Nhà nước ta đã tiến hành
nhiều hoạt động cụ thể nhằm tạo điều kiện hơn cho quá trình hội nhập. Một
trong những yêu cầu quan trọng của hội nhập là Việt Nam cần phải hoàn thiện
pháp luật, đảm bảo các văn bản pháp luật có liên quan phù hợp các Hiệp ước
quốc tế, trong đó có các văn bản pháp luật về khiếu kiện và giải quyết khiếu
kiện hành chính.
Từ những phân tích trên cho thấy nghiên cứu đề tài "Xây dựng cơ quan
tài phán hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" là cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xây dựng cơ quan tài phán hành chính là đề tài được những người làm
công tác nghiên cứu, xây dựng pháp luật quan tâm, đặc biệt là những người
làm công tác thanh tra. Trong phạm vi và mức độ nhất định đã có nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài này. Cụ thể là:
- Cơ sở khoa học của việc thiết lập hệ thống Toà án hành chính ở Việt
Nam, đề tài khoa học cấp Bộ của Thanh tra Chính phủ, nghiệm thu năm 1993;
- Dự án Luật tổ chức toà án hành chính, năm 1994 do Thanh tra Nhà
nước chủ trì xây dựng. Sau một thời gian khẩn trưởng nghiên cứu, ngày 10
tháng 9 năm 1994, Thanh tra Nhà nước đã trình Chính phủ Đề án này với ba
4
5
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn một số các công trình nghiên
cứu khác cũng đề cập đến tài phán hành chính.
Nhìn chung, các công trình trên đây đã đề cập đến việc xây dựng cơ
quan tài phán hành chính ở Việt Nam, từ việc đưa ra những mô hình tổ chức,
nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tài phán hành chính; xác định địa vị pháp lý
của cơ quan tài phán trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, đưa ra quy
định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc, tài phán viên, việc thi hành quyết
định của cơ quan tài phán, mối quan hệ của cơ quan tài phán với các cơ quan
khác của nhà nước… Đồng thời, các công trình nghiên cứu trên cũng đưa ra
các kiến nghị, giải pháp và các điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động
của cơ quan tài phán hành chính. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các công
trình vẫn chưa được các nhà quản lý chấp nhận toàn bộ, mà chỉ sử dụng ở
mức độ nhất định.
Mặt khác, để giải quyết vấn đề khiếu kiện bức xúc hiện nay, Đảng và
Nhà nước có nhiều giải pháp cụ thể: tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các
cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp với công tác giải quyết khiếu kiện, coi công
tác giải quyết khiếu kiện là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các đoàn thể
quần chúng; đề cao trách nhiệm của Thủ trưởng các cấp đối với công tác này,
tăng cường sự vận động, tuyên truyền để mọi công dân có thể hiểu và chấp
hành nghiêm chỉnh pháp luật về khiếu nại… Đặc biệt, tiếp tục đổi mới cơ chế
giải quyết khiếu kiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác giải quyết khiếu
kiện hiện nay và hội nhập quốc tế. Vì vậy, Quốc hội đã giao Chính phủ xây
dựng dự án Luật khiếu nại, giao Toà án nhân dân tối cao xây dựng dự án Luật
tố tụng hành chính theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết các vụ việc
hành chính của Toà án, tăng cường công khai, khách quan, dân chủ trong
công tác giải quyết khiếu kiện… Các dự án luật nói trên đang được Quốc hội
xem xét cho ý kiến và thông qua vào kỳ họp tiếp theo của Quốc hội.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tác giả cho rằng trước mắt có thể thực hiện
những giải pháp như trình bày ở phần trên để khắc phục tình trạng khiếu kiện
Mặc dù vậy, trong quá trình nghiên cứu, đề tài có tham khảo về tài phán hành
7
chính của một số nước trên thế giới và quan niệm về tài phán hành chính của
Việt Nam để làm rõ nội dung nghiên cứu của luận văn.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
nhà nước và pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của
triết học Mác - Lênin và những phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp,
so sánh, thống kê, tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Mặc dù đã có một số đề tài đề cập tới việc xây dựng cơ quan tài phán
hành chính nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giải quyết khiếu kiện,
nhưng trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam,
tăng cường hội nhập quốc tế hiện nay, thông qua việc nghiên cứu đề tài này,
tác giả đi sâu làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về tài phán hành
chính. Từ đó, đưa ra khuyến nghị cụ thể nhằm xây dựng cơ quan tài phán
hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu công tác
giải quyết khiếu kiện hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước vì mục
tiêu phát triển kinh tế đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
7. Kết cấu của luận văn
Theo một kết cấu thông thường của luận văn thạc sỹ và đảm bảo tính
hài hoà giữa nội dung và hình thức, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục
tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
xã hội cũng như các biện pháp xử lý thích hợp đối với các chủ thể này nhằm
bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện trên thực tế [17, tr.8-9].
Có nhiều cách phân loại tài phán, theo cách thông thường, tài phán có
hai dạng là tài phán bắt buộc và tài phán tự nguyện. Tương ứng với nó là hai
hình thức tài phán, đó là tài phán nhà nước và tài phán phi nhà nước (phi
Chính phủ - trọng tài). Tài phán hành chính, tài phán tư pháp, tài phán hiến
pháp… là tài phán nhà nước.
Có nhiều quan niệm về tài phán hành chính, có quan niệm cho rằng,
“tài phán hành chính” nằm trong hệ thống các cơ quan tài phán…, tài phán
hành chính là tổng hợp tất cả các tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện
hoạt động quản lý nhà nước [27, tr.16]. Quan niệm đã đồng nhất tài phán
hành chính là một loại hoạt động nhà nước với cơ quan thực hiện hoạt động
đó, hoặc đã đồng nhất tài phán hành chính với đối tượng hoạt động là giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện hoạt động quản lý nhà
nước bị hoạt động đó tác động tới. Hơn nữa, trong quá trình thực hiện hoạt động
quản lý nhà nước thường phát sinh nhiều tranh chấp khác, không chỉ Toà án mà
một số cơ quan khác cũng có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo những trình tự,
thủ tục khác nhau.
Một quan niệm khác coi “tài phán hành chính” là hoạt động xét xử các
tranh chấp hành chính phát sinh giữa Nhà nước (mà người đại diện là cơ
quan, nhân viên nhà nước) và các tổ chức, cá nhân trong xã hội do cơ quan tài
phán hành chính thực hiện theo trình tự tố tụng [37, tr.104].
Tài phán là một chức năng vốn có của Nhà nước, khi Nhà nước sử
dụng pháp luật làm phương tiện chủ yếu để quản lý xã hội thì đồng thời cũng
xuất hiện các hoạt động tài phán. Do xã hội có tính đa dạng, phức tạp về quan
hệ nên bản thân các hoạt động tài phán của Nhà nước cũng rất phong phú,
phức tạp về nội dung và hình thức. Gắn liền với hoạt động quản lý hành chính
nhà nước là hoạt động tài phán hành chính.
10
cơ quan độc lập với chủ thể quản lý hành chính nhà nước đứng ra giải quyết
các tranh chấp này. Trên cơ sở quyền lực Nhà nước trao, các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp hành chính sẽ xem xét, giải quyết các vấn đề
phát sinh từ tranh chấp đó, như: xác định tính hợp pháp của các quyết định
hành chính, hành vi hành chính, xác định thiệt hại, trách nhiệm phát sinh nếu
có vi phạm pháp luật xẩy ra… Các loại hoạt động này được thực hiện theo
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Mặt khác, để thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước,
Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật quy định về quyền và
nghĩa vụ cho các đối tượng quản lý hành chính nhà nước. Việc tuân thủ đầy
đủ, nghiêm chỉnh các quy định nêu trên đảm bảo cho trật tự quản lý hành
chính được tôn trọng và giữ vững. Tuy vậy, việc tồn tại các vi phạm pháp luật
trong quản lý hành chính nhà nước là vấn đề không thể tránh khỏi. Để bảo vệ
trật tự quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia
quan hệ, nhà nước cần xử lý những hành vi vi phạm. Thông qua việc ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước đã trao quyền cho cơ quan
có thẩm quyền xem xét, đánh giá tính chất, mức độ vi phạm của các chủ thể
để áp dụng biện pháp xử lý.
Từ những phân tích trên cho thấy, theo nghĩa rộng, tài phán hành chính
là việc xem xét, giải quyết tranh chấp phát sinh giữa cơ quan, tổ chức, công
dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành
chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước. Vì thế, sẽ là hợp lý và đầy đủ nếu quan niệm tài phán hành chính không
chỉ giới hạn ở việc giải quyết các vụ án hành chính của Toà án hành chính mà
còn bao gồm cả hoạt động giải quyết các khiếu nại hành chính dưới các hình
thức khác nhau [37, tr.104].
Nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức thực hiện việc giải quyết tranh
chấp hành chính của các nước trên thế giới cho thấy, tổ chức và hoạt động tài
12
khá hiệu quả. Việc giải quyết của cơ quan tài phán hành chính nhanh gọn, đơn
giản, đỡ tố kém hơn thủ tục của toà án. Vì thế, phần lớn các tranh chấp hành
chính được giải quyết tại cơ quan tài phán hành chính, chỉ một số ít tiếp tục bị
khởi kiện tại Toà án tư pháp và kể cả khi bị kiện thì Toà án cũng chỉ xem xét
lại việc áp dụng pháp luật chứ không xem xét lại toàn bộ vụ việc, Toà án chỉ
phán quyết một lần mang tính chất của một bản án giám đốc thẩm. Khi có cơ
quan tài phán hành chính, việc giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng các cơ
quan hành chính nhà nước thường chỉ được coi là một giai đoạn tự xem xét lại
quyết định, hành vi của mình bị khiếu nại và không khác nhiều so với các thủ
tục hành chính thông thường. Đây chính là mô hình có nhiều điểm phù hợp
với mô hình mà chúng ta đang nghiên cứu để vận dụng trong những năm tới
[4, tr.1-2].
Tóm lại, tài phán và tài phán hành chính có các quan niệm cơ bản như sau:
“Tài phán” là các hoạt động, hành vi của tổ chức, cơ quan hay cá nhân
có thẩm quyền theo luật định trong việc giải quyết các tranh chấp pháp lý. Về
bản chất, tài phán là việc xem xét và ra quyết định giải quyết một tranh chấp
của chủ thể được Nhà nước trao quyền hoặc thừa nhận.
“Tài phán hành chính” là hoạt động giải quyết các tranh chấp hành
chính, các tranh chấp nảy sinh trong quá trình điều hành quản lý của các cơ
quan hành chính nhà nước, chủ yếu là việc xem xét phán quyết về tính đúng
đắn của các quyết định hoặc hành vi quản lý của cơ quan quản lý nhà nước.
Tài phán và tài phán hành chính ở Việt Nam: xuất phát từ những đặc
điểm về trị trí, địa lý, phong tục tập quan và truyền thống văn hoá của mình…
Chúng ta có những đặc điểm riêng trong tổ chức bộ máy nhà nước. Điều 2
Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định:
14
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước
của dân, do dân và vì dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về
nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
và trả lời chấp vấn đã tác động tích cực vào hoạt động lập pháp và tạo cơ sở
cho đại biểu Quốc hội thực hiện các nguyện vọng của cử tri, cũng như quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước; phát hiện những khiếm khuyết
của các văn bản pháp luật để nhanh chóng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với
sự phát triển của kinh tế-xã hội.
Quyền hành pháp là quyền chấp hành pháp luật và điều hành xã hội
theo pháp luật nhằm tổ chức đời sống xã hội và hoạt động của cơ quan nhà
nước phù hợp với chính sách và nguyện vọng của nhân dân. Theo pháp luật
hiện hành, quyền hành pháp ở nước ta chủ yếu tập trung vào các cơ quan hành
chính nhà nước. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ta có đặc điểm là
đều do cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân hoặc cơ
quan hành chính nhà nước cấp trên) lập ra; có thẩm quyền ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật (lập quy) và các văn bản cá biệt cụ thể (điều hành
trực tiếp); kiểm tra việc thực hiện văn bản và xử lý khi có vi phạm pháp luật;
cưỡng chế khi có sự lẩn tránh hoặc cố tình không thực hiện quyết định hành
chính, xem xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các
quyết định hành chính, hành vi hành chính làm phương hại đến quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân; kiến nghị các biện pháp tư pháp khác, tạo thành
một hệ thống thống nhất, tập trung, thứ bậc.
Quyền tư pháp chủ yếu được thực hiện bằng hoạt động xét xử, công tố
và các công tác bổ trợ tư pháp (kiểm tra, công chứng, luật sư, trợ giúp pháp
lý…). Chức năng trên được thực hiện bởi Toà án và Viện kiểm sát và các cơ
quan nhà nước khác theo trật tự tố tụng tư pháp. Như vậy, khâu trọng tâm của
quyền tư pháp là việc xét xử của Toà án, mọi hoạt động tư pháp khác cũng
16
đều nhằm phục vụ việc xét xử được công minh, đúng pháp luật để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật”, nhà tư tưởng Pháp
Montesquieu nhận định rằng:
toà án, nhân danh Nhà nước phán quyết, giải quyết các tranh chấp phát sinh
trong đời sống xã hội. Trong các tranh chấp, tranh chấp liên quan đến hoạt
động quản lý hành chính (tranh chấp giữa cơ quan nhà nước với công dân và
cơ quan nhà nước với nhau) được giải quyết ban đầu tại các cơ quan hành
chính. Khi việc giải quyết không đạt kết quả như mong muốn, tranh chấp sẽ
được đưa ra giải quyết tại cơ quan Toà án (Toà hành chính). Cơ chế này chưa
thực sự thoả mãn nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền với các cơ chế
kiểm tra, kiểm soát nhân danh quyền lực nhà nước.
Vì thế, thiết lập một cơ quan tài phán hành chính trong hệ thống cơ
quan nhà nước, bên cạnh cơ quan hành chính và toà hành chính để tập trung
giải quyết các khiếu kiện hành chính là một biện pháp có nhiều ưu việt trong
tình hình hiện nay ở nước ta, vừa đảm bảo nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà
nước, vừa đảm bảo quyền của công dân cũng như sự công bằng, khách quan
trong quá trình giải quyết khiếu kiện của công dân.
Theo quy định của Hiến pháp, Chính phủ có thể thiết lập các cơ chế
giải quyết khiếu kiện khác ngoài cơ chế giải quyết khiếu nại hiện nay tại cơ
quan hành chính. Điều này được quy định tại Điều 127 và 134 Hiến pháp năm
1992 (được sửa đổi năm 2001), cho phép tách tài phán hành chính ra khỏi tài
phán tư pháp và Khoản 7 Điều 112 về việc Chính phủ có nhiệm vụ tổ chức và
lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra nhà nước, công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo của công dân. Đây là những cơ sở Hiến định cho việc thành lập cơ
quan tài phán hành chính trong hệ thống các cơ quan hành pháp và dưới sự
chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, theo quy định của pháp
18
luật về thanh tra và khiếu nại, tố cáo, các khiếu kiện hành chính hiện nay đều
được giải quyết lần đầu ở cơ quan hành chính trước khi đưa ra cơ quan tư
pháp (Toà án hành chính) nếu cần thiết.
Theo nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước và cơ chế giải quyết khiếu
kiện hành chính hiện nay ở nước ta, cơ quan hành chính nhà nước sẽ thực
nhiệm hợp lý giữa các cơ quan nhà nước.
Tài phán hành chính được xây dựng dựa trên học thuyết về trách nhiệm
của Nhà nước trước công dân (gắn liền với học thuyết nhà nước của dân, do
dân và vì dân), nghĩa là phủ nhận học thuyết quyền miễn trừ cho Nhà nước
trong các quyết định của mình. Tài phán hành chính nhằm bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của công dân, bảo vệ những hành vi công vụ đúng pháp luật trong
quá trình giải quyết các tranh chấp giữa công dân với cơ quan hành chính nhà
nước. Việc đầu tiên của hoạt động tài phán hành chính là xác định trách
nhiệm công vụ. Cũng giống với những loại trách nhiệm khác (hình sự, dân
sự…) là một khái niệm chỉ ra các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm, nhưng
khác các loại trách nhiệm khác ở chỗ không được ghi nhận trong các đạo luật,
bộ luật. Mặc dù không có một bộ phận hành chính để quy định rõ trách nhiệm
công vụ là gì, song về cơ bản có thể hiểu trách nhiệm công vụ là:
Trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước; viên chức
nhà nước khi thực hiện một hành vi hành chính trong quá trình thi
hành công vụ mà hành vi đó trái pháp luật hoặc quyết định của cơ
quan cấp trên, không đúng thẩm quyền hoặc quá quyền hoặc không
hợp với lẽ công bằng xã hội mà hành vi này hoặc gây thiệt hại hoặc
làm thiệt thòi cho một hoặc một vài công dân cụ thể [29, tr.2].
Công dân có quyền và lợi ích bị xâm phạm bởi các quyết định hay hành
vi hành chính đó có thể khởi kiện ra các cơ quan tài phán hành chính đòi “xác
định trách nhiệm công vụ” của cơ quan đã ban hành quyết định đó hoặc cá
nhân đã thực hiện hành vi hành chính đó.
20
Hoạt động quản lý và hoạt động tài phán của cơ quan hành chính có
mối liên hệ mật thiết với nhau. Thực tiễn cho thấy, khiếu kiện hành chính có
nhiều điểm đặc biệt, rất khác so với các khiếu kiện khác. Vì thế, để có cơ chế
giải quyết tương ứng cần phân biệt rõ hai lĩnh vực này trên cơ sở đó có sự
phân định giữa luật công và luật tư.
bị khiếu nại. Do vậy, cần thiết phải tách chức năng tài phán ra khỏi chức năng
hành chính quản lý.
Có thể nói rằng hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính ở nước ta đã
phần nào mang yếu tố tài phán, song chưa đầy đủ và cần phải được hoàn
thiện. Tài phán hành chính là một đề tài hấp dẫn, được nhiều nhà khoa học ở
nước ta quan tâm, nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có quan điểm
thống nhất về vấn đề này. Từ kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy,
khái niệm tài phán hành chính còn có nhiều ý kiến khác nhau [16, tr.9-10].
- Cách hiểu thứ nhất, tài phán hành chính chỉ là hoạt động xét xử các
tranh chấp hành chính phát sinh giữa các cơ quan hành chính nhà nước (cơ
quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước) với các tổ chức, cá nhân trong xã hội do Toà án nhân dân thực hiện
theo trình tự tố tụng. Theo cách hiểu này thì tài phán hành chính đồng nghĩa
với xét xử hành chính.
- Cách hiểu thứ hai, tài phán hành chính là toàn bộ các hoạt động phán
xét tính đúng đắn của các quyết định hoặc hành vi quản lý khi nảy sinh khiếu
kiện, tranh chấp. Như vậy, tài phán hành chính sẽ bao gồm xét xử hành chính
của Toà án và các cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính khác, đặc biệt là
việc giải quyết của chính hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (như cơ
chế giải quyết khiếu nại hiện nay).
22
- Cách hiểu thứ ba, tài phán hành chính là việc giải quyết các khiếu nại
hành chính được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách thuộc hệ thống hành
pháp theo một trình tự, thủ tục có tính chất tư pháp, phù hợp với đặc điểm và
yêu cầu của việc giải quyết các tranh chấp hành chính [33, tr.7-8]
Từ các quan niệm nêu trên, có thể rút ra nhận định: tài phán là các hoạt
động, hành vi của tổ chức, cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền theo luật định
trong việc giải quyết các tranh chấp pháp lý. Điểm đặc thù của tài phán hành
chính so với các hoạt động giải quyết tranh chấp khác là giải quyết các tranh
1.2.1. Quan niệm về cơ quan tài phán hành chính
Cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành của Bộ máy nhà nước,
được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, có vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Cơ quan nhà nước có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có
biên chế xác định với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được sắp xếp theo
ngạch, bậc. Việc thành lập hay giải thể cơ quan nhà nước xuất phát từ yêu cầu
thực tế các chức năng, nhiệm vụ được xác định trong một thời kỳ nhất định.
Số lượng các cơ quan nhà nước ít hay nhiều, đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức ít hay nhiều phụ thuộc vào yếu tố khách quan, chủ quan, nhu cầu xã hội,
năng lực cán bộ và cách nhìn nhận vấn đề từ phương diện tổ chức.
Cơ quan nhà nước luôn đặt trong hệ thống các cơ quan nhà nước có
mối liên hệ mật thiết với nhau tạo thành thứ bậc trong tổ chức bộ máy nhà
nước, cơ quan nhà nước cấp dưới, phục tùng cơ quan nhà nước cấp trên và
làm việc theo chế độ thủ trưởng. Tuy nhiên, cơ quan nhà nước có tính độc lập
tương đối trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức năng do pháp luật trao cho.
Mỗi cơ quan nhà nước dù nhỏ cũng là một chức hoàn chỉnh bao gồm những
bộ phận khác nhau, vừa bảo đảm tính chính trị, vừa bảo đảm tính chuyên
nghiệp để thực hiện những công việc cụ thể. Quyền lực nhà nước được trao
cho mỗi cơ quan được giới hạn bởi không gian phạm vi lãnh thổ, thời gian và