Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng - Pdf 25


Đại học Quốc Gia Hà nội
Khoa luật

Nguyễn Thị Ngọc Bích Xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng

Luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội – 2010

Hà nội - 2010

Mục lục
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ Mở Đầu
1

Chương 1: Những Vấn Đề Lý Luận Và Pháp Luật Về xử phạt vi

13
1.2.2.5.
So sánh vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực
quản lý và bảo vệ rừng
13
1.3.
Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng
15
1.3.1.
Khái niệm xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo
vệ rừng
15
1.3.2.
Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý và bảo vệ rừng
17
1.3.3.
Mục đích của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý và bảo vệ rừng
21
1.3.3.1.
Mục đích răn đe giáo dục
21
1.3.3.2.
Mục đích trừng trị
21
1.3.3.3.
Mục đích khôi phục lại trật tự
22

28
1.4.
Các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật và thực hiện quản lý, bảo vệ rừng
40
1.4.1.
Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội
40
1.4.2.
Chính phủ
41
1.4.3.
ủy ban nhân dân các cấp
42
1.4.4.
Bộ, cơ quan ngang bộ
43
1.4.5.
Kiểm lâm
44
1.5.
Chính sách pháp luật quản lý bảo vệ rừng của một số quốc
gia trên thế giới
45

Chương 2: Thực Trạng Pháp Luật Về Xử Phạt VI Phạm Hành
Chính TRONG Lĩnh Vực Quản Lý Và Bảo Vệ Rừng
50
2.1.
Thực trạng quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành

62
2.1.4.3.
Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính
62
2.1.4.4.
Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
63
2.2.
Thực trạng thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng
64
2.2.1.
Thực trạng rừng Việt Nam và sự tàn phá rừng hiện nay
64
2.2.2.
Tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý
bảo vệ rừng
66
2.3.
Đánh giá thực trạng pháp luật và tình hình thực hiện pháp
luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý
và bảo vệ rừng
71
2.3.1.
Những điểm đã đạt được
71
2.3.2.
Những điểm còn tồn tại
72

Kiên quyết thực thi nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật
94

Kết luận
96

danh mục Tài Liệu THAM Khảo
100
Danh mục các bảng

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thống kê số vụ vi phạm pháp luật từ 2004 - 2008
66
2.2
Tổng hợp tình hình phá rừng trái pháp luật (2004-2008)
67
2.3
Hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng tính từ đầu
năm 2009 đến tháng 6-2010
70
2.4
Đối tượng vi phạm lâm luật tính từ đầu năm 2009 đến
tháng 6-201

nước. Do vậy, bảo vệ rừng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội,
bảo vệ môi trường, đòi hỏi Nhà nước phải có chế độ quản lý bảo vệ thích hợp
nguồn tài nguyên này, đặc biệt là bảo vệ bằng pháp luật.
Để thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng, và pháp luật của Nhà
nước về Bảo vệ và phát triển rừng đạt kết quả tốt, cùng với việc nâng cao ý
thức bảo vệ tài nguyên rừng trong nhân dân, trong cán bộ nhà nước, tăng
cường hoạt động phối hợp của các cơ quan chức năng, tại kỳ họp thứ 9 Quốc
hội khóa VIII đã thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng. Sau hơn 12 năm
thi hành, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 đã bộc lộ những hạn chế
nhất định, một số qui định không còn phù hợp với điều kiện thực tế. Vì vậy,
tại kỳ họp thứ 6, ngày 03 tháng 12 năm 2004, Quốc hội khóa XI đã xem xét
thông qua luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Để cụ thể hóa Luật bảo vệ
và phát triển rừng năm 2004, ngày 30 tháng 10 năm 2007, Chính phủ ban
hành Nghị định số 159/2007/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và bảo vệ lâm sản. Tiếp đó Nghị định số
99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2010 ra đời thay thế cho Nghị định 159/NĐ-CP, quy định một
số biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên rừng và xử lý các hành vi vi phạm
trong lĩnh vực này. Xuất phát từ nguy cơ khai thác rừng trái phép, phá hoại tài

2
nguyên rừng bừa bãi gây cạn kiệt tài nguyên, phá hoại môi trường nghiêm
trọng. Có thể khẳng định rằng, pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời nâng cao ý thức của người
dân cũng như cán bộ nhà nước trong việc tăng cường phối hợp hoạt động bảo
vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong
lĩnh vực này còn chưa đồng bộ, chưa hoàn chỉnh, hiệu quả quản lý chưa cao,
tính nhất quán chưa chặt chẽ gây ra sự khó khăn trong việc áp dụng cũng như
thực hiện. Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật xử phạt vi phạm hành chính

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng
* Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng;
- Nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển
rừng và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng;
- Đề ra các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính như: Phương pháp
phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp
thống kê xã hội học, các phương pháp xã hội học pháp luật.
5. Những đóng góp chủ yếu về mặt khoa học của đề tài
Đề tài là chương trình chuyên khảo về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, đề tài đã đặt vấn đề tương đối hệ thống

4
về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ
rừng; Phân tích tương đối cụ thể thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ và
phát triển rừng và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ
rừng; Nghiên cứu tìm hiểu một số kinh nghiệm bảo vệ và phát triển rừng của
một số quốc gia trong khu vực; Đề ra các giải pháp hoàn thiện các quy định của
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

2
mà khí quyển nhận được. Chính vì vậy, rừng
có vai trò sinh thái hết sức to lớn.
ảnh hưởng của rừng với môi trường mang tính tổng hợp như đất,
nước, không khí, và rừng là yếu tố cơ bản để duy trì cân bằng sinh thái của
môi trường. Rừng không còn thì sự sống của loài người sẽ bị đe dọa. Số phận
của rừng là số phận của chúng ta. Nếu như giá trị kinh tế của rừng có thể xác
định được thì các chức năng bảo vệ cải tạo môi trường sống của rừng trở lên
vô giá đối với sự sống của loài người.

6
Rừng là một hệ thống phức tạp bao gồm các yếu tố lý học, hóa học và
sinh học tác động qua lại với nhau, là một tổng thể của khí hậu, đất đai, động
vật, thực vật và vi sinh vật; đó là một siêu cơ thể tiến hóa tương đối chậm
chạp, tham gia vào các chu trình C, O
2
, N
2
, H
2
O và của nhiều loại chất
khoáng khác. Ngoài ra, rừng còn có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí
hậu, giữ nước chống xói mòn đất, chống lũ lụt, chống sa mạc hóa, chắn gió và
bảo vệ mùa màng, đem lại các lợi ích vô cùng lớn lao như: cung cấp nguồn
gen, cung cấp gỗ và các sản phẩm gỗ, cung cấp và điều hòa nguồn nước, cung
cấp nguồn thuốc quý. Ngoài vai trò cung cấp o
2
cho khí quyển, rừng còn là
màng lọc không khí trong lành như cản khói bụi, hạn chế nhiều loại vi khuẩn
và siêu vi khuẩn gây hại cho con người và các động vật. Hơn nữa rừng còn có

nước bị xâm hại, góp phần giáo dục người vi phạm và cảnh báo, phòng ngừa
vi phạm trong tương lai và tránh được sự tùy tiện trong xử phạt hành chính.
Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính do Hội
đồng Nhà nước ban hành ngày 30/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1990
thì: "Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm hại các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội
phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính" [25].

Theo Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2009 thì:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng
là hành vi vô ý hoặc cố ý của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước
vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại đến
rừng, lâm sản, môi trường rừng nhưng chưa đến mức phải truy cứu
trách nhiệm hình sự [22].

Định nghĩa nêu trên đã nêu lên các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi
phạm hành chính là hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, có lỗi và bị xử

8
phạt, đồng thời cũng có đề cập đến chủ thể của cấu thành pháp lý vi phạm
hành chính.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng cũng là
một dạng của vi phạm hành chính, cũng có những điểm chung giống như các
vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, cũng có dấu hiệu cấu thành vi
phạm hành chính. Các dấu hiệu đó là: khách thể, mặt khách quan, chủ thể,
mặt chủ quan của hành vi vi phạm hành chính trong quản lý và bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, khác với những vi phạm trong lĩnh vực khác, vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng có một số đặc điểm riêng:
- Đối tượng bị hành vi vi phạm hành chính xâm hại là rừng, lâm sản

thiệt hại mà hành vi gây ra cho xã hội, quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm,
phương tiện vi phạm.
Hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng là hành vi có
tính chất trái pháp luật, vi phạm các qui định của nhà nước trong lĩnh vực
quản lý và bảo vệ rừng dưới hình thức không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng những qui định của pháp luật quản lý và bảo vệ rừng, xâm phạm đến
những khách thể được pháp luật bảo vệ. Để nhận biết một hành vi là trái pháp
luật cần căn cứ vào những phong tục tập quán của từng địa phương để xem
xét hành vi nhất định.
Hành vi không thực hiện những qui định về quản lý và bảo vệ rừng
như: không bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy rừng khi được phép
sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, các thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt và
bảo quản, sử dụng chất cháy trong rừng và ven rừng, không có phương án
phòng cháy, chữa cháy và công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, không tổ
chức tuần tra, canh gác rừng để ngăn chặn cháy rừng tự nhiên do mình quản
lý, không thực hiện thủ tục giao, nhận hồ sơ, hiện trường khai thác theo quy
định hiện hành của Nhà nước, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng

10
thiết kế về phát luồng dây leo trước khi khai thác, vệ sinh rừng sau khi khai
thác và các biện pháp kỹ thuật khác bảo đảm tái sinh rừng, không chặt những
cây cong queo, sâu bệnh đã có dấu bài chặt; không tận thu hết gỗ cành ngọn,
cây đổ gãy trong quá trình khai thác rừng tự nhiên theo thiết kế được duyệt.
Đối với một số loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo
vệ rừng cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp, không
đơn thuần chỉ là nội dung trái pháp luật trong hành vi mà còn có sự phối hợp
giữa các yếu tố khác. Thông thường, những yếu tố đó có thể là:
+ Thời gian thực hiện hành vi vi phạm. Ví dụ: Săn bắt động vật trong
mùa sinh sản, đốt lửa, sử dụng lửa ở các khu rừng dễ cháy, thảm thực vật khô
nỏ vào mùa hanh khô, tháo nước dự trữ phòng cháy trong mùa khô hanh.

phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng phải là hành vi có lỗi
thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Nói cách khác, người thực hiện hành
vi phải có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng
đã vô tình thiếu thận trọng không nhận thức được hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội hoặc có nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Khi có đủ căn cứ cho rằng chủ thể thực hiện hành vi không có khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã
không có vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng xảy ra.
Trong một số trường hợp cụ thể pháp luật còn đòi hỏi xác định dấu hiệu mục
đích là dấu hiệu bắt buộc của một số loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý và bảo vệ rừng.
Vấn đề lỗi của tổ chức, có ý kiến cho rằng lỗi chỉ là trạng thái tâm lý
của cá nhân trong khi thực hiện hành vi nên không đặt ra vấn đề lỗi của tổ
chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng. Khi xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, chỉ cần xác định tổ
chức đó có vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng và hành
vi đó theo quy định của pháp luật bị xử phạt bằng biện pháp xử phạt vi phạm

12
hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng là đủ. Quan điểm khác lại
cho rằng cần xác định lỗi của tổ chức thì mới có đầy đủ cơ sở để xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng. Trong trường hợp
này, lỗi của tổ chức được xác định thông qua lỗi của các thành viên trong tổ
chức đó khi thực hiện công việc được giao. Pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng hiện hành quy định tổ chức
phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi do chính mình gây ra và có nghĩa vụ
chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và
bảo vệ rừng. Đồng thời, phải có trách nhiệm xác định lỗi của người thuộc tổ
chức mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo
vệ rừng trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được giao để truy cứu trách

1.2.2.4. Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý
và bảo vệ rừng
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng cũng như
mọi vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp
luật bảo vệ. Dấu hiệu khách thể để nhận biết vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý và bảo vệ rừng là hành vi vi phạm này đã xâm phạm đến trật tự
quản lý trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng được pháp luật quản lý và bảo
vệ rừng quy định và bảo vệ.
1.2.2.5. So sánh vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực
quản lý và bảo vệ rừng
Nhìn chung, vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực quản lý
và bảo vệ rừng đều là hành vi vi phạm, xâm hại trật tự xã hội do nhà nước đặt
ra. Vi phạm hành chính hay phạm tội là những hành vi vi phạm pháp luật nói
chung và phải bị xử lý theo chế tài tương ứng. Vi phạm hành chính bị xử lý
bằng chế tài hành chính, còn tội phạm bị xử lý bằng chế tài hình sự.
Vi phạm hành chính và tội phạm đều là hành vi vi phạm, xâm hại đến

14
lợi ích của nhà nước, tập thể, công dân, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã
hội, là biểu hiện tiêu cực cần phải loại trừ. Ngoài ra, ranh giới giữa vi phạm
hành chính và tội phạm rất gần nhau. Trong nhiều trường hợp giữa vi phạm
hành chính và tội phạm chỉ là ranh giới mong manh mà vượt qua nó thì vi
phạm hành chính sẽ trở thành tội phạm trong điều kiện nhất định. Cùng một
hành vi vi phạm nhưng nếu vi phạm với số lượng không lớn hoặc không gây
hậu quả nghiêm trọng, không có khả năng gây hậu quả đặc biệt nghiêm
trọng thì không phải là tội phạm [34].
Vi phạm hành chính và tội phạm có những điểm khác biệt như sau:
- Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội
phạm và các hình thức xử phạt hành chính cũng ít nghiêm khắc hơn so với
hình phạt áp dụng với tội phạm. Giữa tội phạm và vi phạm hành chính có sự

ở việc áp dụng các chế tài hành chính mang tính chất trừng phạt do các chủ
thể có thẩm quyền nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật.
Một hành vi bị coi là vi phạm hành chính khi nó được quy định trong pháp
luật về xử phạt hành chính.
Xử phạt hành chính thực chất là một loại hoạt động quản lý nhà nước
do vậy phải có chủ thể có thẩm quyền thực hiện. Những chủ thể này nhân
danh nhà nước, đại diện cho ý chí của nhà nước trong việc xác định một cá
nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm hành chính hay không và hậu quả pháp
lý của những hành vi vi phạm đó là như thế nào. Tất cả những hành vi của các
chủ thể đó đều phải dựa trên những quy định cụ thể của pháp luật. Hoạt động
xử phạt hành chính phải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn nhưng kết quả của
hoạt động này phải được thể hiện bằng quyết định xử phạt hành chính. Quyết
định xử phạt hành chính khi được ban hành sẽ gây một hậu quả pháp lý đặc
biệt, làm phát sinh trách nhiệm hành chính cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính, tức là họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi trước Nhà nước
về tinh thần hoặc tài sản. Những quyết định đó có tính chất bắt buộc phải thực

16
hiện đối với những đối tượng bị xử phạt. Chỉ có các cơ quan hoặc cán bộ nhà
nước nào được nhà nước trao thẩm quyền xử phạt hành chính và được quy
định cụ thể trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính và
được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính thì mới có thẩm quyền ra quyết định xử phạt và việc xử phạt chỉ được
thực hiện khi có vi phạm hành chính.
Hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành trong khuôn khổ và
phải tuân theo pháp luật về trình tự và thủ tục về hành chính.
Trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, những hành vi vi phạm hành
chính về quản lý và bảo vệ rừng cũng là một loại vi phạm hành chính nói
chung do vậy việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo
vệ rừng vẫn phải tuân theo các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành

được tiến hành theo những nguyên tắc, thủ tục, trình tự được quy định trong
các văn bản của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nói chung và pháp
luật hành chính về quản lý và bảo vệ rừng nói riêng về xử phạt hành chính do
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý và bảo vệ rừng thể hiện ở quyết định xử phạt vi phạm hành chính ghi
nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính. Việc quyết định áp dụng biện pháp xử phạt đó thể hiện sự
trừng phạt nghiêm khắc của nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm
hành chính. Việc xử phạt vi phạm hành chính còn hướng tới mục đích giáo
dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, ý thức tôn trọng các quy tắc của
đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm pháp luật có thể xảy ra.
1.3.2. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý và bảo vệ rừng
- Mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ

18
rừng và quản lý lâm sản phải được phát hiện kịp thời và đình chỉ ngay. Việc
xử phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh,
đúng pháp luật; người vi phạm hoặc người giám hộ của người vi phạm phải
chịu trách nhiệm khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra theo quy định
của pháp luật.
Người có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng,
bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính quy định
tại Nghị định này. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
- Khi quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử
phạt phải xem xét nhân thân người vi phạm; căn cứ vào tính chất, mức độ vi
phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định tại Điều 8, 9 của Pháp
lệnh Xử phạt vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02 tháng
7 năm 2002 (sau đây gọi là Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính) để áp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status